Đề Xuất 12/2022 # Không Đồng Ý Với Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Lần 2 Về Giải Quyết Tranh Chấp Đất, Có Quyền Khởi Kiện Lại Tòa Án Hay Không? / 2023 # Top 14 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Không Đồng Ý Với Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Lần 2 Về Giải Quyết Tranh Chấp Đất, Có Quyền Khởi Kiện Lại Tòa Án Hay Không? / 2023 # Top 14 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Không Đồng Ý Với Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Lần 2 Về Giải Quyết Tranh Chấp Đất, Có Quyền Khởi Kiện Lại Tòa Án Hay Không? / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 về giải quyết tranh chấp đất, có quyền khởi kiện lại Tòa án hay không?

Câu hỏi: Thưa luật sư, Tôi có thắc mắc trong vấn đề sau rất mong nhận được sự tư vấn của luật sư! Tôi xin chân thành cám ơn!

Điều 203 Luật Đất đai 2013 quy định:

“…3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

…”

Vậy trong trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, của Bộ Trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện lại Tòa án hay không?

Theo quy định tại Điều 7 Luật Khiếu nại năm 2011:

“Điều 7. Trình tự khiếu nại

1… Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

3… Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần hai của Bộ trưởng hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.”

Theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015:

“Điều 30. Khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định, hành vi sau đây:

a) Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo quy định của pháp luật;

b) Quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng;

c) Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.

…”

Như vậy, theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011 và Luật Tố tụng hành chính năm 2015 về thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì không loại trừ quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường trong lĩnh vực đất đai. Do đó, nếu các quyết định này thỏa mãn quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.

Khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định:

“Điều 3. Giải thích từ ngữ

… 2. Quyết định hành chính bị kiện là quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà quyết định đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

…”

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Tòa Có Giải Quyết Yêu Cầu Khởi Kiện Cả Quyết Định Hành Chính Và Hành Vi Không Giải Quyết Khiếu Nại Hay Không? / 2023

1.Điều 203 của Luật Đất đai quy định: “3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính”.

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính; Vậy trong trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện tại Tòa án hay không?

Theo quy định tại Điều 7 của Luật Khiếu nại thì:

“1….Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

3… Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần hai của Bộ trưởng hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 30 (về khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án) của Luật Tố tụng hành chính thì:

” 1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định, hành vi sau đây: a) Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo quy định của pháp luật;

b) Quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng;

c) Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.”

Như vậy, theo quy định của Luật Khiếu nại và Luật Tố tụng hành chính về thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì không loại trừ quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường trong lĩnh vực đất đai. Do đó, nếu các quyết định này thỏa mãn quy định tại khoản 2 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính thì thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.

2.Khi làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đối với Luật sư và công dân Việt Nam có đủ điều kiện quy định tại điểm c khoản 2 Điều 61 của Luật Tố tụng hành chính thì Tòa án phải yêu cầu những người này xuất trình những giấy tờ gì?

Đối với Luật sư, khi làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, Tòa án yêu cầu Luật sư xuất trình Thẻ luật sư và giấy yêu cầu Luật sư của khách hàng theo quy định tại khoản 2 Điều 27 của Luật Luật sư.

Đối với trường hợp công dân Việt Nam có đủ điều kiện quy định tại điểm c khoản 2 Điều 61 của Luật Tố tụng hành chính thì Tòa án yêu cầu người đề nghị xuất trình giấy tờ, tài liệu theo quy định tại điểm c khoản 4 Điều 61 của Luật Tố tụng hành chính.

3. Trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu hủy quyết định hành chính của người khởi kiện, thì cơ quan hành chính có được cưỡng chế thi hành quyết định hành chính ngay hay phải chờ sau khi Tòa án cấp sơ thẩm ra quyết định buộc thi hành án thì mới được cưỡng chế thi hành quyết định hành chính?

Trong trường hợp này, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 311 của Luật Tố tụng hành chính thì người phải thi hành án có thời hạn tự nguyện thi hành án là 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của Tòa án; quá thời hạn này mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì người được thi hành án (cơ quan hành chính) có quyền gửi đơn đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định buộc thi hành bản án, quyết định của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 312 của Luật Tố tụng hành chính; sau khi Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định buộc thi hành bản án, quyết định của Tòa án thì cơ quan hành chính có thẩm quyền mới được áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính theo quy định của pháp luật.

4. Quyết định hành chính bị khiếu nại. Hết thời hạn giải quyết khiếu nại mà người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại không giải quyết nên người bị ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp đã khởi kiện cả quyết định hành chính và hành vi hành chính không giải quyết khiếu nại. Trong trường hợp này, Tòa án có thụ lý xem xét, giải quyết đồng thời hai yêu cầu này của người khởi kiện hay không?

Về vấn đề này, tại Mục 7 của Giải đáp số 02/GĐ-TANDTC ngày 19-9-2016 về một số vấn đề về tố tụng hành chính, tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn trường hợp người khởi kiện vừa khởi kiện quyết định hành chính, vừa khởi kiện hành vi không giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính đó, thì Tòa án cần giải thích cho người khởi kiện lựa chọn một trong hai yêu cầu nêu trên. Trường hợp người khởi kiện lựa chọn khởi kiện quyết định hành chính hoặc lựa chọn khởi kiện hành vi không giải quyết khiếu nại thì Tòa án xem xét, thụ lý vụ án hành chính theo yêu cầu khởi kiện của đương sự. Thẩm quyền giải quyết của Tòa án trong trường hợp này được xác định theo quy định tại Điều 31 và Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính. Trường hợp người khởi kiện vẫn đề nghị Tòa án giải quyết đồng thời cả hai yêu cầu thì Tòa án chỉ thụ lý, xem xét giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện quyết định hành chính.

5. Tại mục 2 phần dân sự của Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03-4-2019 của Tòa án nhân dân tối cao về thông báo kết quả giải đáp trực tuyến hướng dẫn đối với tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng, chuyển đổi, tặng cho quyền sử dụng đất mà cơ quan có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất đó cho người nhận chuyển nhượng, nhận chuyển đổi, nhận tặng cho quyền sử dụng đất thì Tòa án không đưa cơ quan có thẩm quyền trong việc cấp giấy tham gia tố tụng và không cần phải tuyên hủy giấy chứng nhận cấp cho người nhận chuyển nhượng. Vậy, trong trường hợp người khởi kiện chỉ khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Tòa án có thụ lý giải quyết hay không?

Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm đang xem xét, giải quyết vụ án dân sự tranh chấp hợp đồng về quyền sử dụng đất có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì người khởi kiện thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ đề nghị Tòa án tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tòa án xử lý trường hợp này như thế nào?

Tại mục 1 Phần I của Công văn số 02/GĐ-TANDTC ngày 19-9-2016 giải đáp một số vấn đề về tố tụng hành chính, tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyết định hành chính nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. Do đó, trong trường hợp này, nếu người khởi kiện chỉ khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Tòa án vẫn xem xét thụ lý giải quyết vụ án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

“a) Tính hợp pháp và có căn cứ về hình thức, nội dung của quyết định hành chính hoặc việc thực hiện hành vi hành chính bị khởi kiện;

b) Tính hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành quyết định hành chính hoặc việc thực hiện hành vi hành chính;

c) Thời hiệu, thời hạn ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính;

e) Vấn đề bồi thường thiệt hại và vấn đề khác (nếu có)”.

Trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp trên cơ sở hợp đồng về quyền sử dụng đất thì Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá tính hợp pháp của hợp đồng về quyền sử dụng đất để làm cơ sở xem xét, đánh giá về tính hợp pháp và có căn cứ của quyết định hành chính là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đánh giá, nhận định này, Hội đồng xét xử quyết định bác yêu cầu khởi kiện nếu yêu cầu đó không có căn cứ pháp luật, hoặc chấp nhận yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó trái pháp luật.

Mẫu Đơn Khiếu Nại Giải Quyết Tranh Chấp Đất Với Ubnd Xã / 2023

Công ty luật Minh Khuê cung cấp mẫu đơn khiếu nại của cá nhân về việc giải quyết tranh chấp đất đai với UBND xã để Quý khách hàng tham khảo và áp dụng vào thực tiễn, thông tin chi tiết vui lòng liên hệ trực tiếp để được tư vấn, hỗ trợ:

1. Mẫu đơn khiếu nại giải quyết tranh chấp đất với UBND xã

Công ty luật Minh Khuê cung cấp mẫu đơn khiếu nại của cá nhân về việc giải quyết tranh chấp đất đai với UBND xã để Quý khách hàng tham khảo và áp dụng vào thực tiễn, thông tin chi tiết vui lòng liên hệ trực tiếp để được tư vấn, hỗ trợ:

Tên tôi là: Đỗ Văn M, đăng ký hộ khẩu thường trú tại đội …., thôn ……, xã …, huyện …, thành phố Hà Nội.

Tôi làm đơn này khiếu nại Kết luận số …./KL-UBND về việc trả lời đơn đề nghị của ông Đỗ Văn M, thôn ….. của UBND xã ….. lập ngày … tháng … năm 20…

Nội dung khiếu nại cụ thể như sau:

Ngày … tháng … năm 20…, Tôi đã làm đơn đề nghị UBND xã … xác minh nguồn gốc sử dụng đất của gia đình và yêu cầu giải trình sự việc cản trở gia đình xây dựng cũng như việc buộc gia đình phải ký lại bản hợp đồng với mảnh đất mà gia đình đã sử dụng ổn định, lâu dài, không tranh chấp từ năm 1997 đến nay.

Ngày … tháng … năm 20…, Gia đình chúng tôi đã nhận được bản kết luận số …/KL/UBND của UBND xã … với nội dung:

Như vậy, UBND xã … đã thừa nhận việc yêu cầu gia đình tôi ký lại hợp đồng với UBND xã là không có căn cứ pháp luật, hợp đồng trên vô hiệu về mặt chủ thể (“UBND xã ký hợp đồng thuê mặt bằng để kinh doanh là chưa đúng quyền hạn”).

Với kết luận này tôi đề nghị UBND huyện ….:

Yêu cầu UBND xã Hủy bỏ hợp đồng số …/HĐ-UB lập ngày …/…/20… ký giữa UBND xã … với Ông Đỗ Văn M;

Yêu cầu UBND xã … hoàn trả số tiền đã thu trái phép của gia đình ông Đỗ Văn M (số tiền : …000.000 VNĐ/năm);

Vì hợp đồng trên là không có hiệu lực nên việc thỏa thuận về các nội dung trong hợp đồng cũng không có giá trị áp dụng cụ thể “Bên thuê mặt bằng chỉ được xây dựng công trình nhà cấp 4, tường gạch chỉ 110mm bỏ trụ, cao không quá 4 m, mái lợp bằng ngói hoặc tấm lợp, không được xây dựng công trình kiên cố và quá diện tích được thuê…”;

Tôi cho rằng kết luận của UBND xã … là hoàn toàn chủ quan, thiếu căn cứ và không dựa trên cơ sở pháp luật. Cụ thể:

Vấn đề thứ nhất: UBND xã … cho rằng đất đã thuê của Ông … là đất công nằm trong hành lang bảo vệ đê điều. Tôi nhận thấy rằng, Theo quy định của Điều 13 Luật Đất đai năm 2003, thì đất đai được phân loại cụ thể thành 03 nhóm đất như sau: – Đất nông nghiệp;

– Đất chưa sử dụng (bao gồm các loại đất chưa xác định mục đích sử dụng).

Trong Luật Đất đai năm 2003 không có khái niệm pháp lý nào là “đất công”, mà chỉ có đất sử dụng vào mục đích công cộng, gồm đất giao thông, thủy lợi; đất xây dựng các công trình văn hóa…; đất xây dựng các công trình công cộng khác theo quy định của Chính phủ. Các văn bản của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Đất đai cũng không có quy định về “đất công”. Như vậy là ngoài các nhóm đất, loại đất đã được phân loại theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, Uỷ ban nhân dân xã … đã tự quy định thêm loại đất mới (đất công) trái với quy định của các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước cấp trên ban hành và có hiệu lực pháp lý thống nhất trên toàn quốc.

Đồng thời, UBND xã cũng cho rằng mảnh đất của Ông Đỗ Văn Mìn là đất ” nằm trong hành lang bảo vệ đê điều “. Tôi cho rằng điều này là hoàn toàn vô căn cứ, bởi lẽ:

– Thứ nhất, căn cứ theo quy định tại khoản 2, điều 23, Luật đê điều số 79/2006/QH11 về hành lang bảo vệ đê được quy định như sau:

“a) Hành lang bảo vệ đê đối với đê cấp đặc biệt, cấp I, cấp II và cấp III ở những vị trí đê đi qua khu dân cư, khu đô thị và khu du lịch được tính từ chân đê trở ra 5 mét về phía sông và phía đồng; hành lang bảo vệ đê đối với các vị trí khác được tính từ chân đê trở ra 25 mét về phía đồng, 20 mét về phía sông đối với đê sông, đê cửa sông và 200 mét về phía biển đối với đê biển;

Về kết luận này gia đình chúng tôi xin có ý kiến như sau:

Theo kết quả xác minh của UBND xã … và dựa trên những tài liệu, chứng cứ cụ thể do gia đình cung cấp, nguồn gốc sử dụng đất của gia đình Ông M đã được xác định cụ thể như sau.

Gia đình bà Nguyễn Thị X và Ông Đỗ Văn K (đã mất) cư trú tại Đội …, thôn …, xã …, huyện …, thành phố Hà Nội là gia đình có công với cách mạng (có 01 con là liệt sĩ) nên được UBND xã … tạo điều kiện cho mở quán nước và sinh sống ổn định tại địa chỉ trên. (Căn cứ vào đơn xin mở quán nước của gia đình bà S, có xác nhận đồng ý cho mở quán nước của UBND xã …). Như vậy, nguồn gốc của mảnh đất trên là do UBND xã cho người dân thuê lại để kinh doanh và ở được xác định từ năm 1981. Gia đình chúng tôi có đầy đủ bản gốc để đối chứng với chính quyền địa phương về mục đích, nguồn gốc sử dụng đất tại thời điểm đó (Gửi kèm bản photo đơn xin mở quán nước có xác nhận của UBND xã của gia đình bà Suất).

– Ngày 20 tháng 04 năm 1997, do tuổi cao, sức yếu Bà Nguyễn Thị X cùng các con đã đồng thuận ký chuyển nhượng đất quán và tài sản trên đất cho Tôi với giá trị …000.000 VNĐ (bằng chữ : …triệu đồng chẵn). (Gửi kèm đơn xin nhượng lại quán và hoa màu của gia đình bà X cho Tôi, có người làm chứng và Biên bản chuyển nhượng đất quán khu vực gần Cầu bầu sát đường 73 giữa bà Nguyễn Thị S và Tôi, có người làm chứng).

Tại thời điểm đó: Ngày … tháng … năm chúng tôi yêu cầu của UBND xã Tôi buộc phải ký hợp đồng thuê đất mở dịch vụ sản xuất kinh doanh theo hợp đồng số …HĐ/KT trong thời hạn 05 năm từ ngày 11 tháng 08 năm 1997 đến ngày 10 tháng 08 năm 2002. (Gửi kèm bản hợp đồng số …HĐ/KT được ký UBND xã và Ông M).

Như vậy, từ năm 1997 đến năm 2002 gia đình tôi đã tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật và đóng thuế sử dụng đất đầy đủ đối với mảnh đất kể trên.

– Năm 2012: Tháng 06 năm 2012 UBND xã … thông báo cho gia đình nộp thuế theo biên lai thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Loại thuế đất phải nộp là thuế đất ở tại nông thôn. (Gửi kèm theo biên lai thu phí số 007123; ký hiệu HX/2012; mẫu CTT 09B nộp ngày 18 tháng 11 năm 2012)

– Năm 2013: Tháng 06 năm 2012 UBND xã … thông báo cho gia đình nộp thuế theo biên lai thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Loại thuế đất phải nộp là thuế đất ở tại nông thôn. (Gửi kèm theo biên lai thu phí số 002664; ký hiệu HX/2012; mẫu CTT 09B nộp ngày 14 tháng 06 năm 2013)

– Theo quy định Luật đất đai năm 1993 do Quốc Hội ban hành ngày 14 tháng 07 năm 1993 (Văn bản này đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại nhưng vẫn có giá trị áp dụng điều chỉnh các quan hệ pháp lý phát sinh tại thời điểm từ ngày văn bản này có hiệu lực đến hết ngày văn bản này hết hiệu lực). Theo quy định tại khoản 2, Điều 3, Luật đất đai năm 1993 thì “Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất”. Đồng thời tại điều 11, Luật đất đai 1993 quy định phân đất đai thành 06 loại căn cứ vào mục đích sử dụng đất: ” 1. Đất nông nghiệp; 2. Đất lâm nghiệp; 3. Đất khu dân cư nông thôn; 4. Đất đô thị; 5.Đất chuyên dùng; 6. Đất chưa sử dụng”. Và theo đó nếu đất do nhà nước giao theo Điều 22 sử dụng vào mục đích khác thì phải trả tiền sử dụng đất cụ thể “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và làm muối không phải trả tiền sử dụng đất; nếu được Nhà nước giao đất để sử dụng vào mục đích khác thì phải trả tiền sử dụng đất, trừ các trường hợp được miễn, giảm theo quy định của Chính phủ”.

– Theo quy định của Luật đất đai năm 2003 thì theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 49 quy định về những trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Như vậy, căn cứ theo luật đất đai về xác định nguồn gốc sử dụng đất thì nguồn gốc sử dụng đất của chúng tôi là hoàn toàn rõ ràng (Sử dụng ổn định, lâu dài từ năm 1981, không tranh chấp) không nằm trong phạm vi quy hoạch (hành lang bảo về đê điều) thì tại sao chính quyền UBND xã … có thể khẳng định là đất của Gia đình tôi không đủ điều kiện cấp sổ đỏ.

Cùng với hành vi ngăn cấm, đe dọa xử phạt hành chính đối với hoạt động cải tạo và xây dựng nhà của gia đình chúng tôi, UBND xã … căn cứ vào hợp đồng đã ký kết cho rằng gia đình tôi vi phạm thỏa thuận đã ký với xác nhưng sau khi xem xét lại đơn kiến nghị của gia đình chúng tôi UBND xã thừa nhận việc ký hợp đồng cho thuê mặt bằng mới là không đúng chức năng của UBNX xã. Đồng thời, UBNX xã … đã có hàng loạt các quyết định hành chính, hành vi hành chính trái luật, cụ thể: Ngày 24 tháng 04 năm 2014 UBND xã … ra công văn số 23/UBND về việc ngừng cấp điện, nước, cấm phương tiện vận chuyển vật liệu và người lao động cho công trình xây dựng vi phạm (Gửi kèm theo đơn công văn số 23/UBND của UBND xã …). Việc cắt điện, nước của UBND xã … vi phạm nghiêm trọng quy chế dân chủ cấp cơ sở, cản trở hoạt động kinh doanh hợp pháp, gây ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình chúng tôi.

Với những nhận định, hành vi hành chính, quyết định hành chính trái pháp luật của cán bộ cấp UBND xã … Tôi đề nghị UBND huyện … thành phố Hà Nội xem xét lại toàn bộ nội dung vụ việc, trả lại sự công bằng và hợp pháp cho gia đình tôi. Chúng tôi cam kết tuân thủ mọi quy định của pháp luật của nhà nước, chính sách của Đảng. Tôi cam kết những điều kê khai trên là hoàn toàn đúng sự thực, nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.

2. Tranh chấp đất sau thời gian ở lâu dài nhưng chưa có sổ đỏ?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có trường hợp sau cần được giải đáp: Cha tôi mất sớm, khi đó tôi 14 tuổi, mẹ và 4 chị em tôi ở trên phần đất của ông cố tôi; lúc đó có 4 cái nhà: nhà của dì Hai – con của ông Trịnh Văn L là người anh thứ Tư của ông Ngoại tôi, còn 3 cái nhà còn lại là của 3 chị em của mẹ tôi gồm nhà mẹ tôi, nhà dì năm, em ruột mẹ tôi – Bà Trịnh Thị C và nhà dì hai chị ruột mẹ tôi là bà Trịnh Thị H. Khi chiến tranh, dì Hai và dì năm đi tản cư chỉ còn 4 mẹ con tôi ở lại sinh sống.

Năm 1968, mẹ tôi mất, chị em tôi về sống với ông bà ngoại là ông Trịnh Văn Th, đến năm tôi 28 tuổi, tôi ra ở trên phần đất của ông cố mà tôi đã ở trước đấy. Nguồn gốc đất tôi ở có anh Nguyễn Hữu Đ sinh năm 1943 ngụ cùng xóm biết. Năm 1979, dọn ra ở trên phần đất mẹ tôi. Tôi ở liên tục trên phần đất này từ năm 1979 đến nay nhưng chưa có sổ đỏ. Nay bà Trịnh Thị H là dì Hai của tôi khởi kiện ra tòa để lấy lại phần đất này. Vậy tôi tòa có buộc tôi trả lại không? Xin cảm ơn!

Người gửi: Huyền Hoàng

Theo như bạn trình bày thì bạn ở liên tục trên phần đất này từ năm 1979 đến nay nhưng chưa có sổ đỏ, như vậy bạn đã sử dụng miếng đất này trên ba mươi năm. Điều 236 Bộ luật Dân sự năm 2015

” Điều 236. Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật

Căn cứ vào các quy định pháp luật trên thì miếng đất này bạn vẫn tiếp tục được sử dụng mà không bị buộc phải trả lại. Bạn cũng có quyền nộp đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại Điều 100, 101 Luật Đất đai năm 2013.

3. Tư vấn quyền sử dụng đất và giải quyết tranh chấp đất?

Thưa luật sư, năm 1970 cha tôi cho bà B mượn 1 phần đất cất nhà ở (mượn không làm giấy tờ, quá trình kê khai đứng tên sổ bộ, đóng thuế, giấy chứng nhận đều mang tên cha tôi, đến năm 1995, con bà B dựng 01 quán nước nhỏ trên phần đất của cha tôi (sát nhà bà B), cha tôi khởi kiện ra tòa, kết quả tòa xử buộc con bà B dỡ quán trả lại đất cho cha tôi, trong quyết định của Tòa cũng có nêu nguồn gốc phần đất bà B đang ở là mượn của cha tôi. Tuy nhiên, do nội dung đơn khởi kiện không yêu cầu đòi lại phần đất đã cho mượn nên tòa không đề cập đến, do đó gia đình bà B vẫn tiếp tục sinh sống trên phần đất mượn này. Năm 2010, cha tôi chết, tất cả phần đất của cha tôi được chuyển cho mẹ tôi đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (trong đó có cả phần đất cho mượn, năm 2014 bà B chết, con gái bà B tiếp tục ở trên phần đất này (nhà trên đất là nhà lá, cột kê). Vậy luật sư cho tôi hỏi với trường hợp nêu trên, tôi có đòi lại được phần đất này không? Nếu được (hoặc không) thì căn cứ nào để xử lý? Trường hợp khởi kiện tại tòa thì mức án được tính như thế nào? (đất trên là đất cây lâu năm, diện tích 250m2). Trường hợp nếu thắng kiện thì tôi có phải trả chi phí di dời nhà cho con bà B không, nếu có thì chi phí này được tính như thế nào? Ngoài ra, gia đình con bà B thuộc diện nghèo và không có đất khác để ở, nếu bị xử di dời nhà thì nhà nước có chính sách nào hỗ trợ nơi ở khác cho con bà B không? Mong luật sư giải đáp giúp tôi. Xin cảm ơn.

3.1. Với trường hợp nêu trên, bạn có đòi lại được phần đất này không, nếu được (hoặc không) thì căn cứ nào để xử lý?

Tính đến thời điểm hiện tại, mẹ bạn đứng đã đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (trong đó có cả phần đất cho mượn). Như vậy, có thể thấy phần đất cho mượn này vẫn thuộc quyền sử dụng của gia đình bạn và bạn hoàn toàn có quyền kiện đòi lại mảnh đất cho mượn.

Tuy nhiên, Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở (Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp).

Nếu các bên không tự thỏa thuận được hoặc hòa giải tại cơ sở không thành thì có thể giải quyết như sau: Vì mảnh đất này đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên tranh chấp này sẽ do Tòa án nhân dân giải quyết theo quy định tại Khoản 1 Điều 203 Luật đất đai 2013.

3.2. Trường hợp khởi kiện tại tòa thì mức án được tính như thế nào?

Theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành thì mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch sẽ được tính như sau:

Như vậy, mức án phí mà bạn phải đóng tại Tòa án phụ thuộc vào giá đất trồng cây lâu năm tại thời điểm định giá ở địa phương.

3.3. Trường hợp nếu thắng kiện thì tôi có phải trả chi phí di dời nhà cho con bà B không, nếu có thì chi phí này được tính như thế nào?

Theo quy định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành của Ủy ban thường vụ quốc hội năm 2009 thì đương sự chỉ phải nộp các loại phí trong vụ án dân sự gồm: Án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự có giá ngạch; Án phí dân sự phúc thẩm (nếu có). Như vậy, anh (chị) sẽ không phải trả thêm khoản chi phí nào khác ngoài các loại phí mà pháp luật quy định, trừ trường hợp cac bên tự thỏa thuận với nhau về việc hỗ trợ di dời tài sản.

3.4. Gia đình con bà B thuộc diện nghèo và không có đất khác để ở, nếu bị xử di dời nhà thì nhà nước có chính sách nào hỗ trợ nơi ở khác cho con bà B không?

Gia đình con bà B có thể được hưởng chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở nếu gia đình con bà B có đủ các điều kiện sau:

+ Là hộ nghèo (theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định 59/2015/QĐ-TTg về chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 do Thủ tướng Chính phủ ban hành), đang cư trú tại địa phương, có trong danh sách hộ nghèo do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý tại thời điểm Quyết định này có hiệu lực thi hành;

+ Hộ chưa có nhà ở hoặc đã có nhà ở nhưng nhà ở quá tạm bợ, hư hỏng, dột nát, có nguy cơ sập đổ và không có khả năng tự cải thiện nhà ở;

+ Hộ không thuộc diện đối tượng được hỗ trợ nhà ở theo quy định tại Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20 tháng 7 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn và theo các chính sách hỗ trợ nhà ở khác.

4. Tranh chấp đất ao và đo đạc sai của cán bộ xử lý như thế nào?

Thưa luật sư! Hiện nay, gia đình tôi đang sử dụng một diện tích đất ở được ghi trên trích lục đất là 596 m2, trong đó gồm: 200m2 đất ở, 190m2 đất vườn, 206m2 đất dư thừa. Trích lục đất cấp từ ngày xưa nên chỉ ghi tổng số diện tích là 596m2, không có sơ đồ chi tiết. Bên cạnh miếng đất ở của tôi có một cái ao nhà hàng xóm, bị nhà đó đào rất sâu nên khiến đất gia đình tôi xạt lở rất nhiều, khiến hàng dừa cạnh bờ ao ngày xưa ông bà tôi trồng bị sạt lở trơ trọi gốc. Vừa rồi cán bộ xã xuống đo đạc lại đất nhưng lại đo phía bên trong hàng dừa bị sạt lở giống như xem nhà tôi không có hàng mốc dừa đó làm gốc ranh giới vậy khiến diện tích đo được chỉ còn 486,5m2 và bảo gia đình tôi ký xác nhận diện tích đất trên.

Tôi không đồng ý ký và viết đơn yêu cầu đo lại diện tích và phân mốc rõ ràng so với bờ ao vì bờ ao đang bị sạt lở mỗi ngày, bên xã họ xuống đo đạc lại qua loa thì diện tích tăng thêm hơn 10m2 nữa và bảo tôi và gia đình có cái ao kia ký nhận. Tôi không thể ký nhận khi diện tích của tôi bị sạt lở và bị thiếu mất gần 100m2. Trong khi gia đình thầu cái ao kia có anh em làm cán bộ xã đang thậm thụt chuyển diện tích cái ao đo thành đất ở nhằm chiếm đoạt số diện tích đất bị sạt lở xuống ao của tôi. Nhiều lần sau tôi lên hỏi nhưng cán bộ xã cứ bảo chưa giải quyết được. Trong khi vẫn âm thầm chuyển đổi cái ao kia thành đất ở cho người khác. Giờ tôi phải làm sao? Tôi có lấy lại được đủ diện tích đất như trên trích lục không? Chân thành cảm ơn luật sư!

Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định về trình tự, thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu và đăng ký bổ sung đối với tài sản gắn liền với đất:

“2. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam đề nghị đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ và thực hiện các công việc như sau: … b) Trường hợp chưa có bản đồ địa chính thì trước khi thực hiện các công việc tại Điểm a Khoản này, Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo cho Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện trích đo địa chính thửa đất hoặc kiểm tra bản trích đo địa chính thửa đất do người sử dụng đất nộp (nếu có); … 3. Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện các công việc như sau: … b) Trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất ở nơi chưa có bản đồ địa chính hoặc đã có bản đồ địa chính nhưng hiện trạng ranh giới sử dụng đất đã thay đổi hoặc kiểm tra bản trích đo địa chính thửa đất do người sử dụng đất nộp (nếu có); c) Kiểm tra, xác nhận sơ đồ tài sản gắn liền với đất đối với tổ chức trong nước, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư mà sơ đồ đó chưa có xác nhận của tổ chức có tư cách pháp nhân về hoạt động xây dựng hoặc hoạt động đo đạc bản đồ; d) Kiểm tra hồ sơ đăng ký; xác minh thực địa trong trường hợp cần thiết; xác nhận đủ điều kiện hay không đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào đơn đăng ký; đ) Trường hợp chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không có giấy tờ hoặc hiện trạng tài sản có thay đổi so với giấy tờ quy định tại các Điều 31, 32, 33 và 34 của Nghị định này thì gửi phiếu lấy ý kiến cơ quan quản lý nhà nước đối với loại tài sản đó. Trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, cơ quan quản lý nhà nước đối với tài sản gắn liền với đất có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho Văn phòng đăng ký đất đai; e) Cập nhật thông tin thửa đất, tài sản gắn liền với đất, đăng ký vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai (nếu có); …”

“1. Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

..

3. Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.”

Trong trường hợp đây là lần đầu tiên bạn khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cán bộ địa chính xã thì bạn có thể nộp đơn khiếu nại tới Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã để yêu cầu giải quyết. Bạn có thể thực hiện khiếu nại bằng đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp.

5. Tranh chấp đất giáp ranh khi thỏa thuận bằng miệng?

Thưa Luật sư! Cho tôi hỏi trong trường sau thì pháp luật sẽ giải quyết xử lý vụ việc như thế nào? Cách đây vài năm khi xây tường hàng rào ngăn cách với phần đất của gia đình hàng xóm thì mẹ tôi là người đứng tên sổ đỏ có thỏa thuận bằng miệng với gia đình hàng xóm cho phép họ xây hàng rào ngăn cách lấn vào phần đất gia đình tôi khoảng 1m.

Những thành viên trong gia đình không ai biết rõ vì không trực tiếp bảo quản giữ gìn sổ đỏ nên không nắm rõ số diện tích đất mà gia đình mình được quyền sử dụng. Bây giờ, khi được chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì mới biết bị gia đình hàng xóm xây lấn sâu vào khoảng 1m dài 40m, gia đình chúng tôi đề nghị phá bỏ bức tường và xây lại thì gia đình hàng xóm không đồng ý và nói tường đã xây lên từ rất lâu rồi mà không có sự phản đối và khi xây đã được sự đồng ý của mẹ tôi người đứng tên sổ đỏ thì phần đất của gia đình họ và gia đình tôi được phân chia bằng bức tường đó. Xin hỏi nếu vụ việc đưa ra pháp lý thì xẽ đc giải quyết ra sao? Rất mong nhận được sự tư vấn từ Luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

” Điều 175. Ranh giới giữa các bất động sản

1. Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thoả thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp.

Không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng. Mọi chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung.

2. Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác.

Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, cắt, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thoả thuận khác.”

6. Tranh chấp đất hương hỏa theo luật?

Thưa Luật sư! Nhà em có mua một lô đất của ông A – ông này là con út của gia đình ông B và ông/ bà B đều đã qua đời. Mọi giấy tờ đã chuyển sang tên của gia đình em. Ông A hứa sẽ giao mặt bằng cho nhà em cuối tháng 1 âm lịch (2016) nhưng xảy ra mâu thuẫn. Anh em của ông A không cho ông A bán vì nói đó là đất thờ, tuy nhiên, trong giấy tờ lô của ông A không có ghi đó là đất thờ.

Anh em ông A buộc ông A không giao mặt bằng đúng như đã nói. Do gia đình em còn 100 triệu đồng chưa gửi cho ông A vì chờ hoàn tất mặt bằng xong. Và bây giờ nhà em có nhu cầu làm nhà, cần mặt bằng nhưng anh em của ông A không giao và nói sẽ đưa lại tiền. Vì nhà em có nhu cầu làm nhà trên lô đất đó và đã đặt mua vài nguyên liệu: như sắt, thép, cát, gạch,… Vậy giờ gia đình em phải làm sao? Nhà em có được gửi giấy để khiếu nại hay làm gì không? Hay anh em của ông A được quyền đưa tiền lại cho nhà em rồi lấy lại đất? Em xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Thứ nhất, bạn phải xem xét lô đất bạn mua từ ông A. Hiện tại, bạn đang mâu thuẫn với anh em nhà ông A do bên kia nói rằng mảnh đất này là đất thờ và trong pháp luật đất đai hiện nay không có điều lệ nào quy định về việc không được quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với đất thờ. Vì vậy, đất thờ vẫn được chuyển nhượng quyền sử dụng đất bình thường nếu tuân thủ đúng quy định của luật đất đai. Với trường hợp của bạn, bạn cần tìm hiểu lại lô đất đã được sang tên bạn, xem lô đất này ông bà B để lại thừa kế (theo di chúc hoặc theo pháp luật) cho riêng ông A hay cho cả anh em ông A. Nếu lô đất bạn mua có cả phần đất mà anh em ông A được thừa kế (ông A đã làm giấy tờ không đúng với sự thật để bán đất) thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bạn sẽ bị vô hiệu một phần và bạn chỉ có thể được chuyển lại quyền sử dụng đất đối với phần đất của ông A (trường hợp bạn vẫn muốn thực hiện hợp đồng này). Lúc này, anh em ông A có quyền đòi lại phần đất của họ, đồng thời bạn có quyền lấy lại tiền tương ứng với phần đất phải trả lại theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu như sau:

” Điều 131. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Bạn có thể nộp đơn khởi kiện tại Tòa án hoặc nộp đơn khởi kiện tới Tòa án qua đường bưu điện.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi: . Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

Khiếu Nại Quyết Định Thu Hồi Đất Và Tư Vấn Giải Quyết Tranh Chấp Đất Đai ? / 2023

Điều 203 Luật đất đai 2013 quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai như sau:

“Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau: 1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết; 2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây: a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này; b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; 3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau: a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính; b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính; 4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.”

Đối với tranh chấp quyền sử dụng đất, bạn có thể làm đơn khiếu nại tới Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc khởi kiện tới Tòa án nơi người hàng xóm cư trú để yêu cầu giải quyết.

Thứ hai, hành vi đánh vợ bạn của người hàng xóm: Bạn có quyền làm đơn tố cáo tới Cơ quan công an cấp huyện nơi người hàng xóm đang cư trú để yêu cầu giải quyết.

Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác như sau:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm: a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người; b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người; d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê; i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm; k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân. 2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. 3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm. 4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.”

Tùy vào tỷ lệ thương tật của vợ bạn để xác định trách nhiệm hình sự của người hàng xóm.

Nếu không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự thì người hàng xóm sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại điểm a) Khoản 2 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP như sau:

“2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;”

Bạn đang đọc nội dung bài viết Không Đồng Ý Với Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Lần 2 Về Giải Quyết Tranh Chấp Đất, Có Quyền Khởi Kiện Lại Tòa Án Hay Không? / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!