Đề Xuất 12/2022 # Khởi Tố Vụ Án Hình Sự / 2023 # Top 21 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Khởi Tố Vụ Án Hình Sự / 2023 # Top 21 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Khởi Tố Vụ Án Hình Sự / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

I. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự

Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:

1. Tố giác của cá nhân;

2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;

4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;

5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;

6. Người phạm tội tự thú.

II. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác), 135 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh),136 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội), 138 (Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác), 139 (Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính), 141 (Tội hiếp dâm), 143 (Tội cưỡng dâm), 155 (Tội làm nhục người khác), 156 (Tội vu khống) và 226 (Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp) của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

III. Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự

Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau:

1. Không có sự việc phạm tội;

2. Hành vi không cấu thành tội phạm;

3. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;

4. Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;

5. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

6. Tội phạm đã được đại xá;

7. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;

8. Tội phạm khởi tố theo yêu cầu của người bị hại mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.

IV. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự

1. Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả vụ việc có dấu hiệu tội phạm, trừ những vụ việc do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử đang thụ lý, giải quyết quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này.

2. Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực và địa bàn quản lý của mình thì Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được tiến hành khởi tố vụ án hình sự.

3. Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp:

a) Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, cơ quan được  giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

b) Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

c) Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử.

4. Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc  xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm

Những Căn Cứ Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự? / 2023

1. Khái niệm căn cứ không khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Theo quy định tại Điều 157 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 như sau:

– Những quy định trong Điều 157 là sự kết hợp các quy phạm của Bộ luật hình sự quy định các trường hợp không phải là tội phạm với các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về những yếu tố loại trừ căn cứ khởi tố vụ án. Những quy định này là cơ sở pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Theo Điều luật quy định, khi có một trong những căn cứ quy định tại Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự thì không được khởi tố vụ án hình sự mà cơ quan có thẩm quyền phải ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

– Điều luật quy định bảy căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự. Một trong bảy căn cứ đó là độc lập và chỉ cần có một trong bảy căn cứ đó, cơ quan, người tiến hành tố tụng có thẩm quyền phải ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Bảy căn cứ đó là:

+ Không có sự việc phạm tội.

+ Hành vi không cấu thành tội phạm.

Trường hợp này được hiểu là đã có hành vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra, nhưng hành vi đó không có đủ những dấu hiệu cấu thành một tội phạm cụ thể nào quy định trong Bộ luật hình sự. Về mặt hình thức có thể có những hành vi có một số dấu hiệu giống như tội phạm, thậm chí có một số dấu hiệu đã được quy định trong cấu thành tội phạm cụ thể nào đó trong Bộ luật hình sự, nhưng không đầy đủ. Để xác định là có tội phạm cụ thể nào đó, hành vi được xem xét phải có đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành một tội phạm trong một điều luật cụ thể của Bộ luật hình sự hiện hành. Trong thực tế, có thể những hành vi giống như tội phạm như thế đã được thực hiện một cách không có lỗi, hoặc có hậu quả xấu gây ra cho xã hội nhưng không đáng kể, hoặc số lượng tài sản chiếm đoạt, hay thiệt hại chưa đạt đến mức điều luật của Bộ luật hình sự quy định về tội phạm đó. Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự thì hành vi tuy về hình thức có dấu hiệu cấu thành tội phạm cụ thể nhưng tính chất mức độ nguy hiểm không đáng kể thì không phải là tội phạm. Hành vi đã có những tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội như sự kiện bất ngờ, phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, thi hành mệnh lệnh, bắt giữ người phạm tội, những rủi ro trong nghiên cứu khoa học… thì không thể bị khởi tố về hình sự.

Tóm lại, khi mà hành vi hoặc là không có lỗi, hoặc là gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho xã hội không đáng kể; hoặc là hành vi được thực hiện không phải bởi những chủ thể mà Bộ luật hình sự quy định có thể là chủ thể của tội phạm đó, hoặc đã có những tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi, thì có căn cứ để không khởi tố vụ án hình sự.

+ Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự của một người là căn cứ quan trọng để khởi tố về hình sự đối với hành vi của họ và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đó. Theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật hình sự 2015, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Như vậy chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự được hiểu chính xác là chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với những loại tội phạm cụ thể.

Theo quy định tại Điều 157 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 12 của Bộ luật hình sự hiện hành, khi hành vi nguy hiểm cho xã hội do người chưa đủ 14 tuổi thực hiện là có căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự.

Cũng theo quy định tại các điều luật vừa nêu, nếu hành vi nguy hiểm cho xã hội do người chưa đủ 16 tuổi thực hiện mà hành vi đó không phải là tội phạm rất nghiêm trọng, tức là chưa đến mức gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt quy định đối với hành vi phạm tội ấy là đến mười lăm năm tù, thì cho dù hành vi đó có được thực hiện một cách cô ý, cũng có căn cứ đê không khởi tố vụ án hình sự.

Người chưa đủ 16 tuổi, có hành vi gây nguy hại rất lớn cho xã hội, được quy định trong Bộ luật hình sự là tội phạm rất nghiêm trọng mà mức cao nhất của khung hình phạt quy định đối với hành vi phạm tội ấy là đến mười lăm năm tù, nhưng đó là hành vi được thực hiện một cách vô ý, thì cũng có căn cứ để không khởi tố vụ án hình sự.

Tuổi của người chịu trách nhiệm hình sự được khẳng định trên cơ sở giấy khai sinh (bản gốc), sổ đăng ký khai sinh và các bằng chứng xác thực khác. Các giấy tờ phản ánh ngày sinh của người đang bị xem xét vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự phải đủ độ tin cậy. Nếu có nghi ngờ thì phải trưng cầu giám định về tuổi.

+ Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án đã có hiệu lực pháp luật.

Hành vi phạm tội của một người sau khi đã có bản án có hiệu lưc của Toà án tức là đã được phán quyết. Khi hành vi của một người đã được Toà án nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phán quyết và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật, thì cũng có nghĩa là công lý về vấn đề và sự kiện pháp lý làm phát sinh các quan hệ tố tụng hình sự ban đầu đã được xác lập. Đó là căn cứ để không khởi tố vụ án hình sự.

Quyết định đình chỉ vụ án có thể là văn bản của Viện kiểm sát hoặc Toà án nhằm chấm dứt việc tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự.

Trong quá trình kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử Viện kiểm sát phải quyết định việc đình chỉ vụ án khi có đủ căn cứ luật định và quyết định đó có hiệu lực pháp luật ngay (Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự). Trong quá trình thực hiện các hoạt động tố tụng hình sự, thực tế có thể có nhận thức khác nhau từ phía các cơ quan có thẩm quyền tố tụng ngay từ giai đoạn khởi tố vụ án hình sự đối với sự kiện pháp lý đã diễn ra. Tuy nhiên, Viện kiểm sát là cơ quan thay mặt Nhà nước, kiểm sát việc tuân thủ pháp luật, và theo quy định của pháp luật, quyết định đúng thẩm quyền của Viện Kiểm sát đình chỉ đối với những hành vi áp dụng pháp luật của pháp nhân và thể nhân nào đó phải được thi hành nghiêm chỉnh. Quyết định của Viện Kiểm sát đình chỉ vụ án là căn cứ không khởi tố vụ án hình sự.

Toà án là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan duy nhất được quyền ra bản án, nhân danh Nhà nước để quyết định bị cáo có phạm tội hay không, bị áp dụng hình phạt hay không, hình phạt gì và các biện pháp tư pháp. Thông qua nghiên cứu hồ sơ vụ án hoặc qua xét xử sơ thẩm mà Toà án đi đến quyết định đình chỉ vụ án đối với hành vi nào đó hoặc với những người nào đó (Điều 281 và 282, Bộ luật tố tụng hình sự) thì dù các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự có nhất trí hay không và có phát hiện những tình tiết mới nào đó thì cũng phải thi hành. Và đó là căn cứ không khởi tố vụ án hình sự.

Ngoài ra, thực tế có thể xảy ra những trường hợp mà người có hành vi phạm tội sau khi đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự, và đã được xét xử, bản án đã có hiệu lực pháp luật, có thể phát sinh những sự đánh giá nào đó về chính hành vi đã được xét xử, cả những tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng tuyệt nhiên, điều đó không thể là căn cứ để phát sinh bất cứ những quan hệ tô’ tụng hình sự nào. Trường hợp khác, người có hành vi phạm tội sau khi đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự, và đã được xét xử, bản án đã có hiệu lực pháp luật, do di trú đi nơi khác, sau thời gian dài, bị lãng quên, khi người này xuất hiện trở lại, có những người do nhầm lẫn mà tố giác họ về hành vi phạm tội trong quá khứ, thậm chí có thể nêu ra những tình tiết mới về hành vi đã được xét xử (mà không phải là một tội phạm khác) thì bản án đã có hiệu lực pháp luật chính là căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự.

Theo khoản 1, Điều 255, Bộ luật tố tụng hình sự, những bản án và quyết định đã có hiêu lực pháp luật, bao gồm: những bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị theo trình tự phúc thẩm; những bản án và quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm; những quyết định của Tòa án giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Ngoài những bản án, quyết định của Tòa phúc thẩm, hay Tòa Giám đốc thẩm hoặc tái thẩm có hiệu lực ngay, thì sau 15 ngày kể từ ngày Tòa sơ thẩm quyết định hoặc tuyên án, hoặc từ ngày bị cáo được giao bản án sơ thẩm, hoặc bản án sơ thẩm được niêm yết mà các chủ thể có quyền kháng cáo (quy định tại các khoản 1, 2, 6, Điều 331, Bộ luật tố tụng hình sự) không có kháng cáo, hoặc Viện kiểm sát trong vòng 15 ngày từ ngày tuyên án không kháng nghị, thì bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Những quy định vừa nêu là nhằm tránh tình trạng một hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhiều lần, hoặc việc truy cứu không đủ căn cứ pháp lý dẫn đến những vi phạm quyền con người, quyền công dân, thiệt hại cho Nhà nước và xã hội.

+ Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Điểm này hoàn toàn phù hợp và nhằm thực hiện quy định tại Điều 19, Bộ luật hình sự 2015 về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo quy định hiện hành thì những người có hành vi phạm tội nhưng đã qua những thời hạn nhất định nếu không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (không phải do người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã) thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội nào đó được hiểu là thời hạn mà quy định về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những hành vi phạm tội cụ thể của người đó còn hiệu lực áp dụng. Thời hạn đó được tính từ ngày phạm tội.

Theo quy định tại Điều 19, Bộ luật hình sự 2015 thì không truy cứu trách nhiệm hình sự, đối với những trường hợp hành vi phạm tội đã chấm dứt ở thời điểm mà thời gian trôi qua đã là:

– Năm năm đối với các tội phạm nghiêm trọng;

– Mười năm đối với tội nghiêm trọng;

– Mười lăm năm đối với các tội rất nghiêm trọng;

– Hai mươi năm đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Tuy nhiên, luật quy định, nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã thì thời gian trốn tránh không được tính vào thời hiệu; thời hiệu tính lại kể từ ngày người đó ra tự thú hoặc bị bắt giữ. Đồng thời, nếu trong thời hạn đó, người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù từ 1 năm trở lên thì thời gian đã qua không được tính thời hiệu và thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày phạm tội mới.

Bộ luật hình sự 2015 quy định không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia và tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh. Do vậy, căn cứ không khởi tố vụ án hình sự vì “đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự” không áp dụng đối với với các tội xâm phạm an ninh quốc gia và tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh.

+ Tội phạm được đại xá.

Đối với những tội phạm được đại xá thì không được khởi tố vụ án hình sự. Đại xá đối với những tội phạm nhất định là quyết định của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Hình thức và mức độ đại xá được nêu rõ trong văn bản về đại xá. Trong văn bản đại xá có thể công bố vô tội, phóng thích hoặc miễn trách nhiệm hình sự, hình phạt đối với một loại, hoặc một số loại can phạm nào đó. Có căn cứ để không khởi tố vụ án đối với những hành vi phạm tội được nêu trọng văn bản đại xá, kê cả những hành vi đã xảy ra trước khi văn bản đại xá được ban hành. Những vụ án đã được khởi tố, điều tra, truy tố hay đang xét xử đều được đình chỉ.

+ Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.

Việc khởi tố vụ án sẽ dẫn đến khởi tố bị can, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội. Hình phạt sẽ được áp dụng đối với người phạm tội nhằm giáo dục, cải tạo họ. Vì thế, khi người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác, thì có căn cứ không khởi tố vụ án hình sự, bởi việc khởi tố đã không cần thiết nữa.

– cĐiều luật không quy định riêng trường hợp: không có yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của người bị hại là một căn cứ độc lập không được khởi tố vụ án hình sự.

Bởi vì, trong trường hợp có căn cứ như quy định tại Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự (chỉ khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất), thì điều đó cũng được hiểu là nhà làm luật đặt ra đối với trường hợp này phải có đến hai điều kiện mới được khởi tố, chứ không phải quy định có căn cứ không khởi tố vụ án hình sự. Bản chất của quy định này là khi có yêu cầu của người bị hại thì đủ căn cứ. Như vậy, bản thân hành vi phạm các tội nói ở khoản 1 Điều 155 đã là căn cứ để Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xem xét việc khởi tố, chứ không phải là căn cứ không khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên, luật quy định điều đó chưa đủ mà cần có thêm yếu tố người bị hại yêu cầu khởi tố.

Hoặc trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên toà sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ. Quyết định đình chỉ vụ án của Viện kiểm sát là căn cứ để không khởi tố vụ án hình sự. Nhưng điểm này đã được quy định trong khoản 4, của Điều 157 này (người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật).

Trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án. Trong trường hợp đó không có căn cứ để không khởi tố vụ án hình sự.

Như vậy, đối với những trường hợp chỉ khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại thì không thể coi là căn cứ không khởi tố vụ án hình sự.

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, khách hàng có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀITƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.

Tác giả

Nguyễn Văn Phi

Phân Biệt Quy Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Và Khởi Tố Bị Can / 2023

Phân biệt quy định khởi tố vụ án và khởi tố bị can

Cơ sở pháp lý: Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015

Tiêu chí Khởi tố vụ án Khởi tố bị can

Đối tượng khởi tố Khởi tố về hành vi có dấu hiệu phạm tội.

Khởi tố người hoặc pháp nhân có hành vi phạm tội cụ thể.

Căn cứ khởi tố Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:

Tố giác của cá nhân;

Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;

Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;

Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;

Người phạm tội tự thú.

(Điều 143 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015)

Sau khi đã có quyết định khởi tố vụ án, cơ quan điều tra sẽ tiến hành điều tra vụ án. Từ đó, nếu có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị bị can. Quyết định khởi tố bị can phải được sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp với cơ quan điều tra.

(Điều 179 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015)

Thẩm quyền ra quyết định khởi tố Có 04 cơ quan:

– Cơ quan điều tra;

– Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

– Viện kiểm sát;

– Hội đồng xét xử.

Có 03 cơ quan:

– Cơ quan điều tra;

– Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

– Viện kiểm sát.

Các giai đoạn ra quyết định khởi tố Có 04 giai đoạn có thể khởi tố:

– Giai đoạn khởi tố;

– Giai đoạn điều tra;

– Giai đoạn truy tố;

– Giai đoạn xét xử.

(Điều 153 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015)

Có 02 giai đoạn có thể khởi tố:

– Giai đoạn điều tra;

– Giai đoạn truy tố.

(Điều 179 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015)

Kết thúc khởi tố Thời điểm kết thúc của giai đoạn khởi tố vụ án được tính từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự (trong trường hợp xác định có dấu hiệu tội phạm), hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự (khi xác định không có dấu hiệu tội phạm). Khởi tố bị can không phải là giai đoạn tố tụng mà chỉ là hành vi tố tụng tại giai đoạn điều tra của người có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can khi đã xác định được một người cụ thể có hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự, cần phải tiến hành các hoạt động điều tra đối với họ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự

Mối liên hệ giữa quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can

Quyết định khởi tố vụ án hình sự phải có trước quyết định khởi tố bị can bởi sau khi khởi tố vụ án bước vào giai đoạn điều tra thì cơ quan có thẩm quyền mới điều tra căn cứ xác định 04 yếu tố cấu thành tội phạm để có căn cứ khởi tố bị can.

Tuy nhiên, trong thực tế giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền có thể ban hành hai quyết định này cùng một thời điểm ngay khi xác định tại sự việc, sự kiện phạm tội có dấu hiệu tội phạm thì cũng đồng thời xác định được ngay người thực hiện hành vi phạm tội. (như  trường hợp bắt tội phạm quả tang)

Liên hệ với FBLAW theo thông tin sau:

Tel: 038.595.3737 – Hotline: 0973.098.987 Email: luatsu@fblaw.vn Địa chỉ: 45 Đàm Văn Lễ, phường Trường Thi, Thành Phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Trân trọng ./.

Khiếu Nại Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự / 2023

Khiếu nại là một quyền của cá nhân, tổ chức đối với các quyết định, hành vi của người có thẩm quyền nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng. Quyền khiếu nại các quyết định, hành vi của người có thẩm quyền trong tiến hành tố tụng hình sự được quy định cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; trong đó có quyền khiếu nại của cá nhân, tổ chức tố giác hoặc báo tin về tội phạm đối với quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

1. Cơ sở pháp lý

– Luật tố tụng hình sự năm 2015;

– Thông tư liên tịch số 02/2018/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTC-BNN & PT NT ngày 05/9/2018 về việc phối hợp thi hành một số quy định của bộ luật tố tụng hình sự về khiếu nại, tố cáo.

Căn cứ khoản 2, Điều 158, Bộ luật tố tụng hình sự quy định như sau: Cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm có quyền khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

* Xác định thời hiệu khiếu nại:

Thời hiệu khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án hình sự là 15 ngày kể từ ngày cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm nhận được hoặc biết được quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Nếu hết thời gian 15 ngày mà không khiếu nại thì hết quyền khiếu nại. Trừ trường hợp lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì thời gian này không tính vào thời hiệu khiếu nại.

* Xác định thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại:

Được quy định tại Điều 475, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, theo đó có thể xác định như sau:

Đối với quyết định không khởi tố vụ án hình sự do Thủ trưởng cơ quan điều tra cấp huyện ban hành: Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp (cấp huyện). Thời hạn giải quyết là 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Ví dụ: Thủ trưởng cơ quan điều tra huyện X ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Giải quyết khiếu nại lần đầu thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện X.

Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) của Viện trưởng VKSND cấp huyện thì có quyền khiếu nại lần 2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) của Viện trưởng VKSND cấp huyện thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện trưởng VKSND cấp tỉnh. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại viện trưởng VKSND cấp tỉnh phải xem xét, giải quyết. Quyết định của Viện trưởng VKSND cấp tỉnh là quyết định có hiệu lực pháp luật.

Đối với quyết định không khởi tố hình sự do Thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh ban hành:

Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp (cấp tỉnh). Thời hạn giải quyết là 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.

Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) của Viện trưởng VKSND cấp tỉnh thì có quyền khiếu nại lần 2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) của Viện trưởng VKSND cấp tỉnh, người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện trưởng VKSND Tối cao. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại viện trưởng VKSND Tối cao phải xem xét, giải quyết. Quyết định của Viện trưởng VKSND Tối cao là quyết định có hiệu lực pháp luật.

* Xác định quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại

Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại được quy định tại Điều 472, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Theo đó, cá nhân, tổ chức, cơ quan đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm có quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại đối với quyết định không khởi tố vụ án hình sự như sau:

– Về quyền: Tự mình khiếu nại hoặc thông qua người đại diện để khiếu nại; Rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết khiếu nại; Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại; được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

– Về nghĩa vụ: Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu cho người giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và việc cung cấp thông tin, tài liệu đó. Chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.

Để được tư vấn chi tiết xin vui lòng liên hệ:

Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam

Địa chỉ: Tầng 1, Toà nhà CT 1 – SUDICO Khu đô thị Mỹ Đình – Mễ Trì, đường Vũ Quỳnh, P. Mỹ Đình 1, Q. Nam Từ Liêm, Hà Nội.

ĐT: 0989.386.729; Email: htcvn.law@gmail.com

Website: https://htc-law.com; https://luatsuchoban.vn

Bạn đang đọc nội dung bài viết Khởi Tố Vụ Án Hình Sự / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!