Đề Xuất 12/2022 # Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Số 31/2017/Nq / 2023 # Top 21 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Số 31/2017/Nq / 2023 # Top 21 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Số 31/2017/Nq / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ngày 24/10/2017, HĐND tỉnh Vĩnh Phúc ban hành Nghị quyết số 31/2017/NQ-HĐND về việc hỗ trợ công chức, viên chức, lao động hợp đồng thôi việc theo nguyện vọng; Ngày 18/12/1018 HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 37/2018/NQ-HĐND sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 31/2017/NQ-HĐND về việc hỗ trợ công chức, viên chức, lao động hợp đồng thôi việc theo nguyện vọng. Đây là một chính sách hỗ trợ, động viên kịp thời cho những người thôi việc tự nguyện ổn định cuộc sống nhằm góp phần thực hiện thành công Đề  án số 01 của  BTV Tỉnh ủy về sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan, đơn vị tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016-2021. 

Để góp phần tinh giản biên chế, giải quyết một bộ phận công chức, viên chức, người lao động dôi dư trong quá trình các cơ quan, đơn vị sắp xếp lại tổ chức bộ máy, sắp xếp lại nhân sự để thực hiện chế độ tự chủ hoặc do cơ cấu lại đội ngũ theo vị trí việc làm, HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 31/2017/NQ-HĐND ngày 24/10/2017 về việc hỗ trợ công chức, viên chức, lao động hợp đồng thôi việc theo nguyện vọng. Ngày 18/12/1018 HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 37/2018/NQ-HĐND sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 31/2017/NQ-HĐND về việc hỗ trợ công chức, viên chức, lao động hợp đồng thôi việc theo nguyện vọng, theo đó, bổ sung đối tượng là cán bộ thôi giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; công chức trong các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội từ cấp tỉnh đến cấp xã”.

Nghị quyết triển khai thực hiện đã đem lại lợi ích cho công chức, viên chức và người lao động khi có nguyện vọng thôi việc đồng thời góp phần thực hiện thành công đề án số 01 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan, đơn vị. Những người thôi việc theo quy định của nghị quyết đã đánh giá cao tính nhân văn, kịp thời thể hiện sự quan tâm của cấp ủy đảng, chính quyền đối với cán bộ công chức, viên chức và người lao động đã có thời gian làm việc, cống hiến cho sự phát triển của địa phương.

Nghị quyết 31/2017/NQ-HĐND, Nghị quyết số 37/2018/NQ-HĐND  có vai trò ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Do đó các cấp ngành địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện để nghị quyết tiếp tục đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả tích cực góp phần xây dựng bộ máy nhà nước trên địa bàn tỉnh ngày càng tinh gọn hiệu quả./.

Đức Thiện

Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Số 19 Nq / 2023

Ngay sau khi ban hành Kế hoạch Hành động, các đơn vị thuộc cơ quan Tổng cục Thuế cũng như các Cục Thuế đã đồng loạt hưởng ứng, kịp thời cụ thể hoá thành các công việc, nhiệm vụ và giao trực tiếp cho từng bộ phận, cán bộ triển khai thực hiện.

Tiếp đến, ngày 19/8/2014, Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-TCT chỉ đạo cơ quan Thuế các cấp tăng cường kỷ cương, kỷ luật, chấn chỉnh lề lối làm việc, thái độ, tác phong ứng xử của cán bộ thuế với người nộp thuế (NNT), tạo ra đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn bộ hệ thống, nhờ đó tạo bước chuyển biến căn bản trong chấp hành chế độ công vụ và phục vụ NNT của công chức thuế.

Tổng cục Thuế đã chủ động rà soát và tham khảo các đánh giá của một số tổ chức quốc tế trong việc khảo sát, đánh giá thời gian kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp để xác định số giờ kê khai nộp thuế, về tần suất khai, nộp thuế; về số lượng hồ sơ; về nội dung tờ khai; về phương thức khai, phương thức nộp tờ khai; nộp thuế…

Tính đến thời điểm 1/1/2015, sau khi thực hiện các giải pháp thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính, số giờ tuân thủ về thuế giảm được 370 giờ/năm. Với kết quả đã đạt được, năm 2015, Bộ Tài chính sẽ phải tiếp tục rà soát để cắt giảm 45,5 giờ, để đạt được mục tiêu cắt giảm thời gian làm thủ tục về thuế xuống còn 121,5 giờ trong năm 2015 theo chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 19/NQ-CP.

Tổng cục Thuế đã phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng nhằm tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về thuế; đã tham mưu trình Bộ Tài chính phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và các hiệp hội doanh nghiệp (Hàn Quốc, Nhật Bản, EU…) tổ chức đối thoại với doanh nghiệp về thực hiện cải cách thủ tục hành chính, phổ biến các nội dung về quản lý thuế và chính sách thuế mới; giải đáp các vướng mắc, khó khăn cho doanh nghiệp về thuế. Mở rộng thực hiện khai thuế điện tử, đến hết 25/3/2015 đã có trên 97,5% số doanh nghiệp khai thuế điện tử (đầu năm 2014 là 65%). Đồng thời, đã phối hợp với 20 ngân hàng thương mại để triển khai dịch vụ nộp thuế điện tử, tính đến 1/4/2015 đã triển khai tại 18/63 tỉnh/thành phố với 41.806 doanh nghiệp đăng ký nộp thuế điện tử.

Dưới sự chỉ đạo quyết liệt, sát sao của các cấp, cùng với quyết tâm chính trị của toàn thể công chức, viên chức toàn hệ thống thuế trên cả nước, Tổng cục Thuế đã tích cực, chủ động triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 19/NQ-CP của Chính phủ, được cộng đồng doanh nghiệp hưởng ứng, đồng tình, được các tổ chức quốc tế ghi nhận và được Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành biểu dương, đánh giá cao góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong lĩnh vực thuế năm 2014.

PV (Nguồn: Tổng cục Thuế)

Tổng Kết Thực Hiện Nghị Quyết Số 42/Nq / 2023

Sáng qua, 30-8, Huyện ủy Tân Uyên đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng nhằm sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 42/NQ-TW về “Công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” và tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về “Công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý”.

Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết số 42/NQ-TW và 10 năm thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-TW của Bộ Chính trị (khóa IX), công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý được Ban Thường vụ Huyện ủy Tân Uyên thực hiện dân chủ, công khai theo đúng quy trình. Đồng thời, số lượng cán bộ trong quy hoạch được bảo đảm theo đúng chỉ đạo, hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương. Qua đó, góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo cán bộ lãnh đạo quản lý cấp huyện, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chính trị, nhất là chuẩn bị tốt nguồn nhân sự cho Đại hội Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2010-2015 và nhân sự chủ chốt của HĐND và UBND nhiệm kỳ 2011-2016. Đến nay, các đồng chí cán bộ luân chuyển đều có bước trưởng thành, tiếp cận nhanh với môi trường công tác mới, biết vận dụng và phát huy chuyên môn, nghiệp vụ, giữ gìn đạo đức lối sống được Đảng bộ và nhân dân tin tưởng, góp phần đưa các địa phương ổn định tình hình, tập trung thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội.

Để thực hiện công tác quy hoạch cán bộ gắn với luân chuyển cán bộ đáp ứng tốt yêu cầu, trong thời gian tới, Huyện ủy Tân Uyên tiếp tục thực hiện đúng quy trình công tác quy hoạch, bảo đảm đúng quan điểm, phương châm, phương pháp theo chỉ đạo, nhất là nâng chất lượng công tác đánh giá cán bộ, phát huy tốt dân chủ nội bộ, vô tư khách quan và công khai minh bạch, tạo động lực phấn đấu cho cán bộ được quy hoạch. Đồng thời, các cấp ủy phải dựa vào chương trình công tác hàng năm để rà soát, chấn chỉnh bổ sung; tiếp tục quán triệt các quan điểm, chủ trương của cấp trên cho các cấp ủy và đội ngũ chủ chốt từ cơ sở, thường xuyên kiểm tra đôn đốc, kiểm tra thực hiện công tác quy hoạch, luân chuyển cán bộ.

Diệu – Ngọc

Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Số 43 / 2023

Cải cách hành chính (CCHC) có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện quan hệ giữa các cơ quan hành chính Nhà nước với người dân, doanh nghiệp, bảo đảm tính công khai minh bạch trong giải quyết công việc của nhân dân, góp phần thực hiện hiệu quả công tác phòng chống tham nhũng. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác cải cách hành chính, ngày 14/3/2016 Ban Thường vụ Huyện ủy đã ban hành Nghị quyết số 43-NQ/HU về đẩy mạnh CCHC giai đoạn 2016-2020; qua lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai và tổ chức thực hiện Nghị quyết đến nay đạt được nhiều kết quả tích cực.  

Tập huấn CNTT cho cán bộ các cơ quan, các xã, thị trấn

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt thực hiện CCHC được cấp ủy đảng, chính quyền, ngành, đoàn thể từ huyện đến xã quan tâm, chỉ đạo, tổ chức thực hiện với quyết tâm cao. UBND huyện, UBND các xã, thị trấn đã ban hành các kế hoạch CCHC phù hợp với yêu cầu thực tiễn và xác định nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm của từng năm nhằm thực hiện có hiệu quả Chương trình CCHC giai đoạn 2016-2020. Các văn bản chỉ đạo, tổ chức triển khai công tác CCHC được thực hiện nghiêm túc, kịp thời.

Công tác kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện được quan tâm. Hàng tháng, quý, 6 tháng, Huyện ủy, UBND huyện tổ chức giao ban tình hình KT-XH gắn với kiểm điểm việc triển khai thực hiện công tác CCHC, tiến độ thực hiện nhiệm vụ trọng tâm và công tác CCHC của các cơ quan, đơn vị. HĐND huyện đã tổ chức giám sát chuyên đề về việc thực hiện công tác CCHC. Các Đoàn kiểm tra, Tổ Kiểm tra đã kiểm tra định kỳ, đột xuất việc thực hiện nhiệm vụ CCHC và kiểm tra công vụ, kết quả: Đã kiểm tra 607 lượt tại các xã, thị trấn và cơ quan, đơn vị. Lãnh đạo UBND huyện, Thường trực Ban chỉ đạo CCHC (Phòng Nội vụ) thường xuyên nắm bắt, theo dõi, giám sát qua hệ thống camera việc giải quyết TTHC tại bộ phận TN&TKQ. Qua kiểm tra, giám sát, nắm bắt tình hình đã kịp thời chấn chỉnh việc thực hiện nhiệm vụ CCHC, siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ; từng bước cải thiện, nâng cao chỉ số CCHC cấp huyện.

Việc rà soát thủ tục hành chính được thực hiện thường xuyên. Đã tổ chức rà soát, kiểm soát, đề xuất cắt giảm từ 25-30% thời gian giải quyết thủ tục hành chính có thời hạn từ 15 ngày trở lên. Cơ sở vật chất, trang thiết bị Bộ phận TN&TKQ cấp huyện, cấp xã được bổ sung cơ bản đảm bảo theo quy định và đáp ứng yêu cầu; đa số công chức Bộ phận TN&TKQ có trình độ đạt chuẩn và năng lực công tác tốt. Việc áp dụng phần mềm dùng chung vào giải quyết TTHC đã đáp ứng yêu cầu người dân và doanh nghiệp. Việc tiếp nhận, xử lý và giải quyết phản ánh, kiến nghị của công dân và tổ chức được quan tâm; kết quả khảo sát lấy ý kiến của người dân, doanh nghiệp về việc giải quyết các thủ tục hành chính cho thấy đa số nhận xét tốt về việc giải quyết TTHC; hài lòng với thái độ ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức. 

Việc rà soát, sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan, đơn vị bảo đảm hợp lý, tinh gọn, hiệu quả gắn với thực hiện đề án vị trí việc làm được quan tâm, chỉ đạo thực hiện đồng bộ với lộ trình cụ thể. Các nhiệm vụ chính trị trọng tâm về sắp xếp tổ chức bộ máy đều hoàn thành đúng kế hoạch như: Nhập 4 đơn vị hành chính cấp xã (giảm 02 đơn vị hành chính so với 2016); sáp nhập và giải thể 06 đơn vị sự nghiệp (giảm 07 đơn vị so với năm 2016); bố trí công an chính quy tại 19/19 xã, thị trấn; sắp xếp, tinh giản người hoạt động không chuyên trách cấp xã và các thôn, tổ dân phố… Đến nay số cán bộ không chuyên trách cấp xã 157/165 người, bằng 95,2% so với quy định; số cán bộ không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố 629/636 người, bằng 98,9 so với quy định.

Công tác tổ chức cán bộ được quan tâm với nhiều giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; trong đó chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và năng lực công tác, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức được tăng cường, nhất là bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước, kỹ năng làm việc.. đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa theo ngạch công chức. Từ 2016 đến nay đã chuyển đổi 59 công chức, viên chức. Đến nay việc chuyển đổi vị trí công tác trên địa bàn huyện đã đi vào nề nếp, trở thành việc làm thường xuyên tại các cơ quan, đơn vị, UBND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện. Thông qua chuyển đổi ý thức, lề lối làm việc, chất lượng, hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức từng bước được nâng lên, đáp ứng yêu cầu trong triển khai và tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Công tác đánh giá, phân loại cán bộ, công chức được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định, dần đi vào thực chất. Tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên đạt trên 95%, không hoàn thành nhiệm vụ dưới 0,5%.  

UBND huyện đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ để thực hiện việc ứng dụng CNTT phục vụ hiện đại hóa nền hành chính như: Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong chỉ đạo, điều hành, giải quyết TTHC; trang bị máy tính, kết mối mạng LAN, Internet, mạng chuyên dùng; lắp đặt, triển khai, hệ thống Hội nghị trực tuyến tại UBND huyện và 100% xã, thị trấn; triển khai và nhân rộng phần mềm Quản lý văn bản và điều hành tác nghiệp qua mạng, triển khai phần mềm “Một cửa điện tử” dùng chung tại bộ phận TN& TKQ cấp huyện và 19/19 xã, thị trấn; thực hiện thư điện tử và chữ ký số tại 100% cơ quan, đơn vị, xã, thị trấn; áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn Quốc gia TCVN ISO 9001: 2015 tại 13/13 phòng chuyên môn, 12/19 xã, thị trấn và phấn đấu hoàn thành áp dụng 19/19 xã, thị trấn trong năm 2020. Các quy trình Hệ thống QLCL huyện Yên Thế đã đạt 100% thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết cấp huyện…

Với quyết tâm chính trị cao, Huyện ủy, HĐND, UBND huyện tập trung chỉ đạo, giám sát, tổ chức thực hiện các giải pháp để hoàn thành các mục tiêu của Nghị quyết số 43-NQ/HU ngay từ đầu nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ huyện, cụ thể như: Việc xây dựng và tổ chức hoạt động bộ máy hành chính từ huyện đến xã đã thể hiện rõ tính chất phục vụ nhân dân, giảm tối đa tình trạng phiền hà, sách nhiễu, tạo niềm tin của nhân dân đối với bộ máy chính quyền. Hoàn thành thực hiện Bộ phận TN& TKQ hiện đại tại cấp huyện, một cửa liên thông 3 cấp (tỉnh, huyện, xã) tại 19/19 xã, thị trấn, đạt 100 %; tỷ lệ giải quyết hồ sơ đúng hạn tại Bộ phận TN& TKQ được nâng lên rõ rệt (đạt trên 97%).

Đội ngũ công chức, viên chức có tính chuyên nghiệp cao, có năng lực quản lý và kỹ năng thực thi công vụ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao. 100% công chức cấp huyện, 90,1% công chức cấp xã đạt chuẩn về trình độ đào tạo, sử dụng thành thạo tin học văn phòng; Hiện đại hóa nền hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin đạt mục tiêu và đáp ứng được yêu cầu, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, từng bước hoàn thiện chính quyền điện tử; 100 % cơ quan, đơn vị cấp huyện và UBND các xã, thị trấn sử dụng phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc, 100 % công chức, viên chức sử dụng thư điện tử công vụ trong trao đổi văn bản; trên 90% văn bản chính thức được trao đổi trên môi trường mạng và ứng dụng chữ ký số; tỷ lệ văn bản điện tử được gửi/nhận qua hệ thống cấp huyện đạt 98%, cấp xã 90%; 100% công chức cấp huyện và 92% cấp xã được trang bị máy tính. Năm 2016 đã hoàn thành xây dựng họp trực tuyến từ huyện đến xã với 20 điểm cầu, 50% các cuộc họp được tổ chức trực tuyến giữa UBND huyện với UBND các xã, thị trấn.

Mục tiêu trên 80% chính quyền cơ sở được xếp loại khá, tốt cơ bản hoàn thành (năm 2016: 18/21 xã được đánh giá mức tốt, khá, đạt 85,7%; năm 2017: 16/21 xã được đánh giá mức tốt, khá, đạt 76,2%; năm 2018: 21/21 xã được đánh giá mức tốt, khá, đạt 100%; năm 2019: 19/21 xã được đánh giá mức tốt, khá, đạt 90,5%); 13/13 phòng chuyên môn áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO  9001: 2015, được công nhận trong tháng 12/2019, đạt 100% kế hoạch.

Nhìn chung, các mục tiêu trong Nghị quyết số 43-NQ/HU cơ bản hoàn thành, công tác CCHC đã có nhiều chuyển biến tích cực; bộ máy chính quyền từ huyện đến xã được sắp xếp hợp lý, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đa số cán bộ, công chức, viên chức chấp hành tốt kỷ luật, kỷ cương hành chính, tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân được nâng lên rõ rệt…. Song một số nội dung, nhiệm vụ chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra; cụ thể: Nhận thức và sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền và một bộ phận cán bộ, công chức về CCHC còn chưa đầy đủ. Người đứng đầu một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa quan tâm đúng mức đến công tác CCHC, chưa gương mẫu thực hiện trách nhiệm người đứng đầu, không sát sao, nắm bắt tình hình thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức; chỉ đạo việc cải cách, rà soát thủ tục hành chính thực hiện chưa thường xuyên, thiếu hiệu quả; một số thủ tục hành chính giải quyết còn chậm so với thời gian quy định, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế, tài nguyên môi trường, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất… Chất lượng, hiệu quả cải cách thế chế, cải cách tổ chức bộ máy, cải cách tài chính công và hiện đại hóa nền hành chính chưa cao, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động điều hành và thực hiện nhiệm vụ chưa mang lại hiệu qủa tích cực; chất lượng xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật tuy có được nâng lên nhưng còn chưa đáp ứng yêu cầu. Hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn còn thấp; năng lực quản lý, kỹ năng thực hiện nhiệm vụ, công vụ, chất lượng một số cán bộ, công chức, viên chức chưa cao. Việc đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức tại một số cơ quan, đơn vị, xã, thị trấn còn hình thức; việc thực hiện kỷ luật, kỷ cương hành chính, quy định về văn hóa công sở tại một số các cơ quan, đơn vị và các xã, thị trấn còn hạn chế; một bộ phận công chức, viên chức còn hạn chế về trình độ chuyên môn, năng lực công tác, trong thực thi nhiệm vụ còn né tránh, đùn đẩy trách nhiệm khi giải quyết công việc, kết quả thực hiện nhiệm vụ chưa cao, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao;, một số công chức, viên chức đảm bảo tiêu chuẩn về tin học nhưng kỹ năng, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin hạn chế… làm ảnh hưởng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ chung của cơ quan, đơn vị, địa phương. Chỉ số đánh giá, xếp loại công tác cải cách hành chính trên địa bàn huyện tuy có cải thiện nhưng thiếu ổn định (năm 2016 đứng thứ 10, năm 2017 đứng thứ 8, năm 2018 đứng thứ 5, năm 2019 đứng thứ 6/10 huyện, thành phố).

Phát huy những kết quả đạt được đồng thời khắc phục những tồn tại, hạn chế trong triển khai thực hiện Nghị quyết số 43-NQ/HU; trong thời gian tới, cần thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp sau:

Một là, phát huy vai trò cấp ủy, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong công tác chỉ đạo, quản lý điều hành và thực hiện nhiệm vụ CCHC, tập trung triển khai đồng bộ các nội dung của chương trình CCHC, đặc biệt quan tâm thực hiện các hoạt động xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh, bảo đảm bộ máy công vụ hoạt động thông suốt, hiệu quả đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân. Gắn trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương với kết quả thực hiện nhiệm vụ CCHC, đưa nội dung CCHC là một nội dung quan trọng đánh giá cán bộ công chức, viên chức hàng năm; gắn việc thực hiện CCHC với đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng và việc tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Hai là, tổ chức thực hiện đồng bộ, hệ thống, hiệu quả các nội dung CCHC; trong tâm là: Tập trung thực hiện công tác cải cách thể chế, thẩm định, kiểm tra rà soát văn bản, công bố văn bản hết hiệu lực; Tiếp tục rà soát các thủ tục hành chính, cắt giảm thời gian giải quyết hồ sơ đặc biệt trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, bảo hiểm, tài nguyên môi trường, cải thiện mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp trong các giao dịch hành chính và dịch vụ hành chính công. Thực hiện tinh giản biên chế, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu quả trong đó tập trung thực hiện Kế hoạch số 47-KH/TU ngày 30/5/2018 của Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết TW6 (khóa XII) “Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” và “Tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập”; rà soát, sắp xếp, sáp nhập các trường học có số lớp, số học sinh thấp để hình thành các trường liên cấp theo địa bàn xã; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, đổi mới lề lối, phong cách làm việc, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, tích cực trong thi hành công vụ của đội ngũ cán bộ công chức, viên chức.

Ba là, gắn CCHC với việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở tại từng cơ quan, đơn vị, địa phương; phát huy sức mạnh tập thể, tạo sự đồng thuận cao trong thực hiện, giám sát, kiểm tra, đấu tranh với các biểu hiện và hành vi quan liêu, tham nhũng, tiêu cực. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, đẩy mạnh đối thoại và công khai, minh bạch kế hoạch, chương trình, nội dung hoạt động cải cách hành chính nhà nước ở địa phương.

Năm là, tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động của đường dây nóng, công tác tiếp dân và giải quyết kiến nghị người dân. Đa dạng các kênh thông tin tiếp nhận ý kiến góp ý phản ánh của người dân, doanh nghiệp; mở rộng kênh lắng nghe, tiếp nhận các thông tin về cải cách hành chính. Xác định hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ cải cách hành chính là hành động thiết thực, là nhiệm vụ đột phá trong thực hiện Chỉ thị 05-CT/BCT của Bộ Chính trị về Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh, góp phần xây dựng chính quyền thực sự của dân, do dân và vì dân./.

Trần Thị Ánh Tuyết

Bạn đang đọc nội dung bài viết Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Số 31/2017/Nq / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!