Đề Xuất 12/2022 # Kết Quả 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 48 / 2023 # Top 18 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Kết Quả 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 48 / 2023 # Top 18 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Kết Quả 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 48 / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Kết quả 10 năm thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020″ trên địa bàn tỉnh

Thứ Tư, ngày 21 tháng 10 năm 2015 – 09:40

Ngày 24/5/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020- Đây được xem là văn kiện chính trị quan trọng của Đảng định hướng cho sự phát triển của hệ thống pháp luật nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

 Nghị quyết đã xác định cụ thể những quan điểm chỉ đạo, đề ra các định hướng lớn và những giải pháp cơ bản cho hoạt động xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực thi pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.

Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã bám sát nội dung Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị, tổ chức triển khai học tập, quán triệt trong đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức… Việc tuyên truyền được thực hiện theo nhiều hình thức như sao gửi, lồng ghép với chương trình họp giao ban hàng tháng, quý của các cơ quan, đơn vị, địa phương, chỉ đạo triển khai phổ biến đến từng cán bộ, công chức, viên chức, Đảng viên biết để thực hiện. Việc lãnh đạo, chỉ đạo trong việc thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW gắn với triển khai thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND năm 2004 (viết tắt là Luật năm 2004) và văn bản hướng dẫn thi hành.

Kể từ khi Nghị quyết số 48-NQ/TW được ban hành đến nay, quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên địa bàn tỉnh có những chuyển biến căn bản và đạt được kết quả nhất định, thể hiện rõ nét trên một số kết quả sau:

* Thứ nhất, về xây dựng pháp luật

HĐND tỉnh đã ban hành 02 nghị quyết, UBND tỉnh ban hành 05 quy phạm pháp luật về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm tiếp tục hoàn thiện quy trình soạn thảo, ban hành, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật, quy định chế độ tài chính bảo đảm cho công tác này, đồng thời chỉ đạo triển khai thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004. Quy trình soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương từng bước đi vào nền nếp. Chất lượng văn bản của chính quyền địa phương ngày càng được nâng cao, công tác thẩm định văn bản quy phạm pháp luật được quan tâm, chú trọng, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp đã tổ chức thẩm định 650 hồ sơ dự thảo văn bản (đạt 100% hồ sơ văn bản gửi đến), đã phát hiện nhiều nội dung không phù hợp để đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục hoàn chỉnh trước khi trình cơ quan có thẩm quyền ban hành. Chính vì vậy, chất lượng văn bản sau khi ban hành ngày càng nâng cao, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, khả thi của văn bản.

Từ năm 2005 đến tháng 6/2015, HĐND, UBND các cấp trên địa bàn tỉnh đã ban hành 9.270 văn bản quy phạm pháp luật, gồm: 5.492 Nghị quyết của HĐND các cấp (trong đó: cấp tỉnh 134 NQ, cấp huyện 326 NQ, cấp xã 5.032 NQ); 3.781 quyết định, chỉ thị của UBND các cấp (trong đó: cấp tỉnh 486 VB, cấp huyện 675 VB, cấp xã 2.620 VB).

Cơ quan tư pháp từ tỉnh đến cơ sở đã giúp HĐND, UBND cùng cấp tự kiểm tra 6.849 lượt văn bản (gồm 6.721 lượt văn bản quy phạm pháp luật, 128 lượt văn bản không phải văn bản quy phạm pháp luật), qua kiểm tra đã phát hiện, đề nghị xử lý 360 văn bản (chiếm tỷ lệ 5.25%); Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp cấp huyện đã giúp UBND cùng cấp thực hiện kiểm tra theo thẩm quyền 5.342 lượt văn bản, qua kiểm tra đã phát hiện, đề nghị xử lý 1.342 lượt văn bản (chiếm tỷ lệ 25,12%), đã xử lý 1.242 văn bản (đạt 92,54%), chưa xử lý 100 văn bản (7,46%); cơ quan tư pháp các cấp đã chủ trì, phối hợp với cơ quan chuyên môn cùng cấp thực hiện rà soát 11.402 lượt văn bản, qua rà soát phát hiện và đề nghị xử lý 1.624 lượt văn bản (chiếm tỷ lệ 14%).

Ảnh: Quang cảnh Hội nghị thông qua kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật do HĐND, UBND tỉnh ban hành từ 01/01/2010 đến 30/9/2011

* Thứ hai, về tổ chức thi hành pháp luật: UBND tỉnh kịp thời ban hành văn bản chỉ đạo, kế hoạch triển khai thi hành pháp luật, nhất là các luật mới được Quốc hội thông qua; kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh, trong đó xác định lĩnh vực trọng tâm để theo dõi; thành lập các đoàn kiểm tra công tác phổ biến giáo dục pháp luật; xây dựng, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật; kiểm tra, thanh tra việc thi hành pháp luật trong cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Các ngành, các cấp từ tỉnh đến cơ sở tổ chức 8.357 hội nghị, hội thi, tập huấn, tuyên truyền pháp luật; 37.536 cuộc truyên truyền pháp luật lưu động; 42.482 buổi tuyên truyền pháp luật trên loa, đài, chuyên mục phát thanh và truyền hình; trợ giúp pháp lý được 7.832 vụ việc; xây dựng và phát sóng 173 chuyên mục “Pháp luật và cuộc sống” trên Đài Phát thanh truyền hình Tuyên Quang; đăng tải kịp thời các văn bản pháp luật mới ban hành trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Tuyên Quang và các trang thông tin điện tử của các cơ quan, đơn vị. Tổ chức Cuộc thi viết “Tìm hiểu Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” với 87.165 bài dự thi. Biên soạn, phát hành 291.203 ấn phẩm, tài liệu, tạp chí tuyên truyền, 138.440 sách, 86.350 tờ gấp có nội dung tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho Nhân dân.

Từ năm 2005 đến nay, các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh đã tiến hành xử lý vi phạm đối với 642 cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức (xử lý hình sự 25 trường hợp; xử lý hành chính 132 trường hợp; xử lý kỷ luật Đảng 379 trường hợp; xử lý kỷ luật theo pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức 235 trường hợp)

* Thứ ba, các thiết chế xây dựng và thi hành pháp luật được kiện toàn: Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo củng cố, kiện toàn các cơ quan Tư pháp, bổ trợ Tư pháp; tiếp tục sắp xếp, kiện toàn lại tổ chức bộ máy của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh nhất là đội ngũ công chức pháp chế sở ngành, các phòng ban chuyên môn thuộc UBND cấp huyện để phù hợp với quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện ở địa phương.

Quang cảnh Hội nghị tập huấn nghiệp vụ xây dựng, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật năm 2014

* Thứ tư, về đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực làm công tác pháp luật: Từ năm 2005 đến nay, các cơ sở đào tạo trên địa bàn tỉnh đã mở 05 lớp trung cấp Luật cho 233 người; 04 lớp Đại học Luật tại chức cho 419 người. Việc đào tạo các lớp trung cấp Luật, Đại học Luật đã đáp ứng phần nào về nhu cầu cán bộ có trình độ chuyên môn Luật, cung cấp cho các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh. Tính đến tháng 5/2015, toàn tỉnh có tổng số 436 người làm công tác pháp luật (275 cấp tỉnh; 90 cấp huyện; 71 cấp xã). Hàng năm, Sở Tư pháp, UBND các huyện, thành phố tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát văn bản và theo dõi thi hành pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức từ tỉnh đến cơ sở; thường xuyên hướng dẫn, trao đổi về chuyên môn, nghiệp vụ…

Nhìn chung, kể từ khi Nghị quyết số 48- NQ/TW công tác xây dựng và thực thi pháp luật tại địa phương có nhiều tiến bộ và chuyển biến cơ bản; hệ thống VBQPPL của địa phương được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý quan trọng, động lực cho quá trình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trong 10 năm qua đã bao quát tương đối đầy đủ các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội mà Trung ương phân cấp và thực tiễn quản lý nhà nước ở địa phương đặt ra.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần phải khắc phục như: (1) Việc triển khai tuyên truyền, quán triệt, phổ biến Nghị quyết số 48- NQ/TW có nơi còn chưa sâu rộng; chưa xây dựng chương trình, kế hoạch chuyên đề thực hiện Nghị quyết; (2) Việc thực hiện Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật hàng năm ở cấp tỉnh còn chậm tiến độ; chất lượng soạn thảo dự thảo văn bản quy phạm pháp luật nhất là ở cấp huyện, cấp xã chưa cao; (3) Hoạt động đánh giá thực trạng quan hệ xã hội ở địa phương phục vụ việc soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật còn ít, chưa hiệu quả. Việc lấy ý kiến tham gia vào dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND còn hình thức; (4) Việc thực hiện công tác rà soát văn bản quy phạm pháp luật ở cấp huyện, cấp xã chưa thường xuyên, hiệu quả chưa cao; (5) Việc triển khai thi hành một số văn bản quy phạm pháp luật còn chậm, chưa đồng bộ.

Nguyên nhân của các hạn chế nêu trên chủ yếu do: (1) Nhận thức của cán bộ, đảng viên, công chức về ý nghĩa, nội dung và tác động của Nghị quyết đối với chính quyền địa phương trong công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật còn hạn chế; (2) Một số lãnh đạo chính quyền cơ sở, lãnh đạo cơ quan chuyên môn chưa nhận thức đúng, đầy đủ về tầm quan trọng của công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật; (3) Công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, đòi hỏi có trình độ lý luận về nhà nước, pháp luật, pháp quyền và trình độ, kỹ năng soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, am hiểu thực tiễn. Trong khi đó, đội ngũ công chức pháp chế cơ quan chuyên môn cấp tỉnh còn mỏng; một số công chức pháp chế chưa có trình độ chuyên môn Luật; đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ, kỹ năng soạn thảo, xây dựng, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật còn ít, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; biên chế công chức chuyên trách về công tác văn bản tại Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp còn ít; Công chức Tư pháp- Hộ tịch cấp xã mỏng, thường xuyên thay đổi, trình độ chuyên môn hạn chế; (4) Quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật còn chưa đầy đủ, một số vấn đề còn chưa rõ ràng; việc phân cấp cho chính quyền cấp huyện, cấp xã ban hành văn bản quy phạm pháp luật không đồng bộ với tổ chức, bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức và điều kiện làm việc nên ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng ban hành văn bản quy phạm pháp luật; (5) Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan trung ương, nhất là văn bản hướng dẫn thi hành luật còn chậm, một số quy định còn trùng chéo, mâu thuẫn hoặc “bỏ ngỏ” nên việc thi hành còn lúng túng, chậm hoặc không đồng bộ, hoặc áp dụng không đúng quy phạm pháp luật; (6) Kinh phí dành cho công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật còn hạn chế, mức chi cho hoạt động xây dựng, văn bản quy phạm pháp luật còn thấp; chưa có chế độ đãi ngộ cho đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác văn bản nên chưa thu hút được người có trình độ năng lực, tâm huyết, chuyên tâm với nghề.

Tin: Nguyễn Ngọc Loan – Ảnh: Giang Lý, Đức Thành

2.300 views

Kết Quả 05 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 33 / 2023

Sau 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Nghệ An đã đạt được những kết quả nổi bật:

Sau 5 năm triển khai thực hiện  Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Nghệ An đã đạt được những kết quả nổi bật:

1. Về xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện

Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc hoàn thiện các chuẩn mực giá trị về văn hóa và con người Nghệ An; ban hành nhiều chương trình, đề án, tổ chức các cuộc hội thảo và đưa các quy định về xây dựng con người văn hóa, gia đình văn hóa vào hương ước, quy ước của khu dân cư thực hiện. Đồng thời, tạo điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật; đề cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người trong gia đình,trường học, cơ quan, đơn vị và trong xã hội.

Công tác giáo dục, đào tạo được nâng cao chất lượng; dạy làm người gắn liền với dạy chữ trong công tác dạy và học tập ở các cấp học với Cuộc vận động “Nhà trường văn hóa, nhà giáo mẫu mực, học sinh thanh lịch” nhằm nâng cao chất lượng, phẩm chất, trình độ cho nhà trường, giáo viên và học sinh. Công tác giáo dục truyền thống văn hóa, lịch sử địa phương được các cấp, các ngành, địa phương chú trọng thực hiện; 100% trường học (từ mầm non đến trung học cơ sở) thực hiện chương trình đưa dân ca Ví, Giặm, văn hóa, lịch sử địa phương vào trường học; tổ chức các hội thi, liên hoan văn nghệ, dân ca Ví, Giặm nhằm khơi dậy tình yêu, lòng đam mê đối với di sản văn hóa của nhân loại, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, định hướng thị hiếu âm nhạc giúp học sinh hướng tới các giá trị chân - thiện - mỹ, góp phần giáo dục truyền thống cách mạng,văn hóa, lịch sử địa phương cho thế hệ trẻ ở các cấp học.  

Hoạt động văn học, nghệ thuật được thực hiện với nhiều hình thức đa dạng, phong phú; nhiều văn nghệ sĩ đã phát huy tinh thần sáng tạo, tích cực sáng tác và có nhiều tác phẩm chất lượng, đạt giải khu vực, trong nước và quốc tế góp phần giới thiệu, quảng bá vùng đất và con người Nghệ An với bạn bè trong và ngoài nước.

2. Về xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh

Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhằm xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong cộng đồng (cơ quan, gia đình, trường học). Công tác giáo dục đời sống trong gia đình, phát huy giá trị tốt đẹp các mối quan hệ trong gia đình, dòng họ, xây dựng gia đình hạnh phúc, gia đình văn hóa, phòng chống bạo lực gia đình ngày càng được quan tâm chỉ đạo, thực hiện. Tính đến tháng 12/2018, toàn tỉnh đã xây dựng được 19 mô hình phòng chống bạo lực gia đình gắn với tuyên truyền giáo dục đạo đức lối sống trong gia đình Việt Nam. Việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy các di tích lịch sử, di sản văn hóa vật thể, phi vật thể và nhiều giá trị văn hóa khác ngày càng được chú trọng hơn. Nhiều kế hoạch, đề án xây dựng môi trường lành mạnh để phát triển văn hóa được ban hành, thực hiện, đảm bảo giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa. Đến nay, toàn tỉnh có 260/480 xã có thiết chế văn hóa thể thao đạt chuẩn theo tiêu chí của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định, đạt 53,9%.

Chỉ đạo các ngành chức năng tiếp tục thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.  Phong trào toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại ngày càng phát triển. Các hoạt động thể dục, thể thao được tổ chức rộng khắp, nhất là trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, lực lượng vũ trang, học sinh, sinh viên…  Hiện nay, toàn tỉnh 100% trường học duy trì tốt giáo dục thể chất nội khóa cho học sinh, sinh viên; 75% tỷ lệ người dân tham gia rèn luyện sức khỏe, 33% người dân tham gia tập luyện thể dục, thể thao thường xuyên góp phần nâng cao chất lượng rèn luyện sức khỏe, tuổi thọ và đời sống nhân dân.

Công tác gia đình được thực hiện theo chương trình giáo dục quốc gia về đời sống gia đình và Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 với nhiều mô hình, cách làm mới, nội dung phong phú, hiệu quả.

Công tác bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi được chú trọng, nhất là các loại hình nghệ thuật truyền thống góp phần bảo tồn và phát huy các phong tục tập quán, nghi lễ văn hóa truyền thống tốt đẹp, trình diễn dân gian của đồng bào các dân tộc thiểu số làm tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa các đồng bào dân tộc, tôn giáo.

Văn hóa đọc trong cộng đồng ngày càng được quan tâm tổ chức thực hiện. Chỉ đạo thực hiện có phòng đọc, tủ sách lớp học, tủ sách dùng chung, câu lạc bộ đọc sách trong hệ thống trường học; tạo điều kiện, khuyến khích học sinh tham gia, say mê đọc sách và yêu quý sách.

3. Về xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế

Hàng năm, Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo các cấp ủy đảng, địa phương đưa nội dung xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa trở thành một trong những tiêu chí để đánh giá, phân loại tổ chức cơ sở đảng, cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh. Nhiều cấp ủy đảng, địa phương, đơn vị đã cụ thể hóa thông qua nội quy, quy chế, các quy định chuẩn mực về đạo đức, tác phong, lề lối làm việc của cán bộ, đảng viên, công chức. Công tác cải cách hành chính ngày càng được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo. Các cấp ủy đảng, chính quyền, thủ trưởng cơ quan, đơn vị đã cụ thể hóa bằng các kế hoạch thực hiện công tác cải cách hành chính phù hợp với tình hình thực tế tạo sự chuyển biến tích cực, góp phần giảm tải các thủ tục hành chính rườm rà, nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân.

Ngày hội thể thao ngành Văn hóa Thể thao

4. Về nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hóa, văn học nghệ thuật, thông tin truyền thông

Việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, lịch sử; phát triển văn học nghệ thuật, phát triển du lịch, phát triển báo chí – xuất bản ngày được quan tâm. Nhiều địa phương, đơn vị đã tiến hành rà soát, lập hồ sơ trình các cấp xếp hạng di tích văn hóa, lịch sử. Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 435 di tích đã được xếp hạng, trong đó, có 4 di tích quốc gia đặc biệt, 139 di tích cấp quốc gia, 292 di tích cấp tỉnh. Chỉ đạo các ngành chức năng tham mưu xây dựng Đề án tu bổ di tích quốc gia và cấp tỉnh giai đoạn 2016 – 2020; tạo điều kiện để các địa phương triển khai thực hiện tu bổ, tôn tạo, mở rộng khuôn viên đối với các di tích quốc gia, di tích cấp tỉnh đang bị xuống cấp nghiêm trọng; xây dựng bia/nhà bia đối với các di tích thuộc dạng phế tích khác; tập trung kêu gọi, huy động các nguồn lực xã hội hóa cùng tham gia.

Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành các chính sách hỗ trợ sáng tạo và phổ biến tác phẩm văn học, nghiên cứu về Nghệ An, hỗ trợ tổ chức đêm nhạc của nhiều nhạc sĩ, tổ chức giải thưởng văn học nghệ thuật Hồ Xuân Hương lần thứ V, giai đoạn 2010 – 2015 với 76 tác phẩm, cụm tác phẩm, góp phần kịp thời động viên, khích lệ các hoạt động sáng tạo, sáng tác của đội ngũ văn nghệ sĩ tỉnh nhà.

Công tác quản lý và nâng cao chất lượng hoạt động báo chí trên địa bàn tỉnh thường xuyên được quan tâm chỉ đạo thực hiện đảm bảo đúng tôn chỉ, mục đích. Hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên từ tỉnh đến cơ sở  được đổi mới về nội dung, hình thức; thực hiện đúng chức năng là một kênh thông tin quan trọng trong việc tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

5. Về phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa

6. Về hội nhập quốc tế và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại

Hội nhập quốc tế, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại được các ngành chức năng đẩy mạnh thực hiện, nhất là việc hợp tác với các nước: Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga, Lào, Thái Lan trong việc xây dựng các công trình văn hóa (tượng đài Bác Hồ tại Nga, nhà lưu niệm Bác Hồ tại Thái Lan, Lào…), tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư, văn hóa, du lịch. Hợp tác với các tổ chức văn hóa, du lịch trong việc xây dựng chiến lược và nâng cao năng lực bảo tồn văn hóa và phát triển du lịch các huyện miền núi tỉnh Nghệ An gắn việc phát triển du lịch với giảm nghèo bền vững, xây dựng mô hình du lịch cộng đồng ở miền núi. Nhiều địa phương, đơn vị đã có các chương trình giao lưu, hợp tác với các nước trong khu vực;

Công tác hoạt động thông tin đối ngoại được Tỉnh ủy, UBND tỉnh quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện. Đến nay, Nghệ An đãthành lập được Ban Chỉ đạo Công tác thông tin đối ngoại và ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo Công tác thông tin đối ngoại cấp tỉnh; chỉ đạo các ngành chức năng tham mưu đề án, kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện tốt hoạt động thông tin đối ngoại trên địa bàn tỉnh. Xây dựng và ban hành các chương trình hoạt động đối ngoại nhằm phát huy tài năng và tâm huyết của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, cộng đồng người Nghệ ở nước ngoài trong việc tham gia phát triển văn hóa xứ Nghệ, trở thành cầu nối giao lưu, quảng bá hình ảnh đất nước, văn hóa và con người Nghệ An đến với bạn bè quốc tế.

Kết Quả 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 29 / 2023

Kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW trên địa bàn huyện Như Xuân

Sau 5 năm triển khai, thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN”, công tác giáo dục, đào tạo trên địa bàn huyện Như Xuân đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.

Ngay sau khi Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN” được triển khai, đặt yêu cầu nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc trong huyện về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác giáo dục trong tình hình mới; nắm vững những quan điểm, mục tiêu và các giải pháp của Đảng về công tác giáo dục trong cả nước.

Trên cơ sở các văn bản hướng dẫn chỉ đạo, UBND huyện đã ban hành Kế hoạch số 98/KH-UBND, ngày 11/7/2014 về việc triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết; các địa phương, đơn vị trường học trên địa bàn huyện căn cứ để xây dựng kế hoạch thực hiện Nghị quyết theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, phù hợp với thực tế của địa phương, đơn vị, nhằm đảm bảo thực hiện đạt kết quả nhiệm vụ giáo dục được giao.

Trong 5 năm, chất lượng giáo dục đại trà có nhiều chuyển biến đáng kể: Về hạnh kiểm: 98,14% học sinh đạt hạnh kiểm khá; tốt tăng 3,8%. Về học lực: 39,9% học sinh đạt học lực khá, giỏi, tăng 3,6%; tỷ lệ học sinh yếu, kém 6,1% giảm 1,7% so với năm 2013; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS đạt từ 99 % trở lên.

Quy mô, hệ thống trường, lớp được quy hoạch phù hợp, đảm bảo cho công tác nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục, đáp ứng được nhu cầu học tập của nhân dân và tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Toàn huyện có 54 trường , 710 nhóm lớp, 17.333 học sinh (tăng 19 lớp, 1.008 học sinh so với năm 2013). Trong 5 năm đã quy hoạch, sắp xếp giảm 5 điểm lẻ tại các trường mầm non, tiểu học; sáp nhập 01 Trung tâm Giáo dục Thường xuyên và Trung tâm Dạy nghề thành Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên; thành lập 01 trường THCS&THPT đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong huyện.

Công tác điều động, bổ nhiệm, bộ nhiệm lại trong các năm qua được thực hiện chặt chẽ, đảm bảo đúng quy định, quy trình. Thực hiện đảm bảo chế độ phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo và các chế độ, chính sách khác theo đúng quy định. Trong 5 năm, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên thường xuyên được rà soát, sắp xếp gắn với vị trí việc làm, đảm bảo sự cân đối, hợp lý về số lượng, chất lượng giữa các bậc học, giữa các đơn vị, trường học trên địa bàn toàn huyện. Hiện nay, cán bộ, giáo viên toàn ngành từ bậc mầm non đến THPT (biên chế 1.244, hợp đồng 130) Trong 5 năm, huyện đã bổ sung thêm 130 giáo viên (trong đó hợp đồng theo Quyết định 60 là 126 trường hợp; hợp đồng tỉnh 4 trường hợp giáo viên Tiếng Anh); điều động 58 giáo viên bậc THCS xuống dạy tiểu học; luân chuyển cân đối thừa thiếu giữa các đơn vị 83 trường hợp. Đến nay cơ bản đã giải quyết xong tình trạng giáo viên dôi dư trên địa bàn huyện.

Đến nay, huyện có 54 trường học và cơ sở giáo dục và đào tạo. Chỉ tính riêng năm 2017- 2018, tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình tiểu học đạt 100%, tốt nghiệp THCS đạt 99,6%, tốt nghiệp THPT đạt 95,5%; học sinh đậu đại học chiếm tỷ lệ 27% học sinh đăng ký xét tuyển. Tham gia thi học sinh giỏi các môn văn hóa lớp 9 cấp tỉnh xếp thứ 3/11 huyện miền núi, xếp hạng 15/24 huyện, thị, thành phố (có 3 huyện trùng hạng), tăng 8 bậc so với năm 2013 cơ bản đã giải quyết được tình trạng thừa, thiếu giáo viên ở các trường; tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn 100%, trên chuẩn 80,6%; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia 52,8%.

Qua 5 năm triển khai, thực hiện 9 nhiệm vụ, giải pháp và 7 quan điểm chỉ đạo, huyện Như Xuân đã cơ bản đạt được các mục tiêu đề ra: Mạng lưới trường lớp được quy hoạch đảm bảo tính hợp lý về quy mô; đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên có nhiều cố gắng trong công tác chuyên môn dạy học; cơ sở vật chất, trang thiết bị cho dạy và học được quan tâm đầu tư với quy mô lớn. Công tác xã hội hoá giáo dục phát triển mạnh mẽ, tạo được chuyển biến sâu sắc cả về nhận thức và hành động của toàn xã hội. Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia, phổ cập giáo dục mầm non trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học, xóa mù chữ, phổ cập giáo dục THCS, xây dựng nhà trường văn hoá được quan tâm chỉ đạo đồng bộ, đạt kết quả tốt. Chất lượng đại trà về văn hoá, hạnh kiểm hàng năm đều tăng; chất lượng học sinh giỏi có chuyển biến tiến. Công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập được đẩy mạnh, toàn xã hội đã chăm lo, quan tâm nhiều hơn đến giáo dục./.

Đoàn Đức Lưu, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy

<

Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 14 / 2023

(HBĐT) – Ngày 30/5, Đảng uỷ Quân sự (ĐUQS) tỉnh đã tổ chức tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 14-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành trung ướng khoá X về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát (KTGS) của Đảng và thông báo Kết luận số 68 – TB/TW của Bộ Chính trị về sơ kết 4 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá X.

Thực hiện Nghị quyết số 14-NQ/TW, trong 10 năm qua, ĐUQS tỉnh đã luôn quán triệt, thực hiện tốt công tác KTGS của Đảng. Kịp thời ban hành đồng bộ các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ KTGS đối với tổ chức Đảng, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì trong LLVT tỉnh; kịp thời kiện toàn, bổ sung đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác KTGS; trong thực hiện công tác luôn đảm bảo đúng quy trình, nguyên tắc, sau mỗi cuộc kiểm tra đều có kết luận rõ ràng, khách quan, công tâm. Trong 10 năm qua, ĐUQS tỉnh đã tiến hành kiểm tra 10 lượt tổ chức Đảng và 41 cấp uỷ viên; Đảng uỷ cơ sở kiểm tra 85 lượt tổ chức Đảng và 323 đảng viên. Qua đó, cấp uỷ và Chi bộ các cấp đã thi hành kỷ luật 6 đảng viên. Cùng với đó, trong 10 năm qua, UBKT ĐUQS cũng đã tiến hành kiểm tra và phối hợp với UBKT các huyên uỷ, thành uỷ tiến hành kiểm tra được 20 tổ chức Đảng và 4 đảng viên. UBKT các cấp trong Đảng bộ Quân sự tỉnh cũng đã thực hiện việc giám sát chuyên đề 72 cuộc và 232 đảng viên. Trong đó, UBKT ĐUQS tỉnh giám sát 9 cuộc và 39 uỷ viên, UBKT cấp cơ sở giám sát 63 cuộc và 193 đảng viên. Thông qua đó, đã giúp cấp uỷ, UBKT của cấp uỷ các cấp kịp thời đánh giá đúng ưu điểm của tổ chức Đảng và đảng viên; phát hiện, làm rõ thiếu sót, khuyết điểm để uốn nắn, khắc phục kịp thời, đồng thời xử lý nghiêm minh đối với những trường hợp vi phạm. Góp phần xây dựng tổ chức Đảng TSVM; kịp thời rút kinh nghiệm, nhân rộng nhân tố mới. Tạo sự chuyển biến tích cực về tư tưởng nhận thức và hành động của mỗi tổ chức Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng.

Cũng trong chương trình, ĐUQS tỉnh đã tổ chức sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 719-NQ/TW ngày 30/12/2012 của Quân uỷ Trung ương về lãnh đạo công tác khoa học, công nghệ và môi trường trong quân đội đến năm 2020 và những năm tiếp theo.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Kết Quả 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 48 / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!