Đề Xuất 12/2022 # Hướng Dẫn Giải Quyết Khiếu Nại Đất Đai / 2023 # Top 14 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Hướng Dẫn Giải Quyết Khiếu Nại Đất Đai / 2023 # Top 14 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Hướng Dẫn Giải Quyết Khiếu Nại Đất Đai / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Căn cứ:

- Luật Đất đai năm 2013;

– Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đất đai;

- Luật Khiếu nại 2011;

– Thông tư 07/2013/TT-TTCP về quy trình giải quyết khiếu nại hành chính.

1. Khiếu nại đất đai là gì?

Căn cứ khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại 2011 quy định về khiếu nại thì khiếu nại đất đai được hiểu như sau:

Để thực hiện quyền khiếu nại về đất đai thì người dân phải biết được ai có quyền khiếu nại (người khiếu nại), đối tượng khiếu nại, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, cụ thể:

Người sử dụng đất gồm:

+ Hộ gia đình, cá nhân trong nước;

+ Tổ chức sử dụng đất như: Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công lập và tổ chức khác theo quy định của pháp luật về dân sự;

+ Cộng đồng dân cư;

+ Cơ sở tôn giáo;

+ Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại;

+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài;

+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

+ Người nhận tặng cho quyền sử dụng đất;

+ Người nhận chuyển nhượng (người mua đất) quyền sử dụng đất…

(Khi nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho mà làm thủ tục đăng ký biến động (thủ tục sang tên giấy chứng nhận) mà bị từ chối, chậm thực hiện…thì có quyền khiếu nại).

Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại có thể tự mình thực hiện hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện việc khiếu nại, cụ thể:

+ Người đại diện theo pháp luật của người sử dụng đất thực hiện việc khiếu nại (chỉ áp dụng khi người sử dụng đất là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự).

+ Trường hợp người khiếu nại ốm đau, già yếu, có nhược điểm về thể chất hoặc vì lý do khách quan khác mà không thể tự mình khiếu nại thì được ủy quyền cho cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em ruột, con đã thành niên hoặc người khác có năng lực hành vi dân sự đầy đủ để thực hiện việc khiếu nại.

+ Uỷ quyền cho luật sư thực hiện khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

– Đối tượng khiếu nại:

Theo khoản 1 Điều 204 Luật Đất đai 2013 đối tượng khiếu nại đất đai là quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai, cụ thể:

+ Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất;

+ Quyết định bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư;

+ Quyết định cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

Ví dụ: Hộ gia đình, cá nhân có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 100 Luật Đất đai và Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP nhưng khi làm hồ sơ yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bị từ chối cấp giấy chứng nhận hoặc tiếp nhận hồ sơ nhưng quá thời hạn mà không cấp thì hộ gia đình, cá nhân có quyền khiếu nại.

+ Quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất.

+ Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai…

Hành vi hành chính về quản lý đất đai: Là hành vi của cán bộ, công chức khi giải quyết công việc thuộc thẩm quyền để ban hành các quyết định quản lý hành chính về đất đai với các hành vi thường gặp như: Chậm thực hiện, thực hiện không đúng, không thực hiện, gây khó dễ cho người sử dụng đất khi thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận, chuyển mục đích sử dụng đất…

2. Điều kiện thực hiện quyền khiếu nại đất đai

2.1. Điều kiện thực hiện quyền khiếu nại theo thủ tục khiếu nại lần đầu

Để thực hiện quyền khiếu nại đất đai phải có đủ điều kiện sau:

– Có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chính mình (trái pháp luật nhưng không xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì không có quyền khiếu nại mà có quyền tố cáo).

– Người khiếu nại phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có người đại diện hợp pháp thực hiện khiếu nại trong trường hợp khiếu nại thông qua người đại diện;

– Việc khiếu nại chưa được toà án thụ lý để giải quyết.

– Còn thời hiệu, thời hạn khiếu nại hoặc đã hết thời hiệu, thời hạn mà có lý do chính đáng.

– Khiếu nại chưa có quyết định giải quyết khiếu nại lần hai (điều kiện này áp dụng với trường hợp đã có quyết định khiếu nại lần 1 nhưng không đồng ý).

2.2. Điều kiện thực hiện khiếu nại theo thủ tục khiếu nại lần hai

Ngoài các điều kiện theo thủ tục khiếu nại lần đầu thì khi thực hiện quyền khiếu nại theo thủ tục khiếu nại lần 2 thì phải có quyết định giải quyết khiếu nại đất đai lần đầu.

3. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai

Để tránh việc trả lại đơn thì phải xác định được chính xác thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai theo quy định.

4. Thủ tục giải quyết khiếu nại đất đai

Khoản 2 Điều 204 Luật Đất đai 2013 quy định:

“Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại”.

Như vậy, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai (gọi chung là thủ tục giải quyết khiếu nại đất đai) không được quy định và thực hiện theo Luật Đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn mà được thực hiện theo quy định của Luật Khiếu nại 2011 và các văn bản hướng dẫn, cụ thể:

4.1. Thời hiệu, thời hạn giải quyết khiếu nại đất đai

Thời hiệu khiếu nại:

Theo Điều 9 Luật Khiếu nại 2011 thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính.

Người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu vì:

+ Ốm đau;

+ Thiên tai;

+ Địch họa;

+ Đi công tác, học tập ở nơi xa

+ Hoặc vì những trở ngại khách quan khác thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.

Thời hạn giải quyết khiếu nại:

Thời hạn giải quyết khiếu nại là khoảng thời gian mà người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải thực hiện việc giải quyết khiếu nại. Hết thời hạn sẽ bị coi là vi phạm pháp luật.

Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu:

Theo Điều 28 Luật Khiếu nại 2011 thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu như sau:

– Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý.

– Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý.

Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai:

Theo Điều 37 Luật Khiếu nại 2011 thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai như sau:

– Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý.

– Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 70 ngày, kể từ ngày thụ lý.

4.2. Thủ tục giải quyết khiếu nại đất đai lần đầu

Hình thức khiếu nại:

Căn cứ theo Điều 8 Luật Khiếu nại 2011, việc khiếu nại về đất đai được thực hiện bằng đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp, cụ thể:

Trường hợp 1: Khiếu nại được thực hiện bằng đơn

Trường hợp khiếu nại được thực hiện bằng đơn thì trong đơn khiếu nại phải ghi rõ nội dung sau:

– Ngày, tháng, năm khiếu nại;

– Tên, địa chỉ của người khiếu nại;

– Tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại;

Lưu ý: Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ.

Trường hợp 2: Đến khiếu nại trực tiếp

Trường hợp người khiếu nại đến khiếu nại trực tiếp thì người tiếp nhận khiếu nại hướng dẫn người khiếu nại viết đơn khiếu nại hoặc người tiếp nhận ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản và yêu cầu người khiếu nại ký hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản, trong đó ghi rõ nội dung như trường hợp 1.

Trình tự giải quyết khiếu nại đất đai lần đầu

Bước 1. Gửi đơn và tiếp nhận đơn khiếu nại

– Nếu khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì người có thẩm quyền tiếp nhận đơn.

Bước 2. Thụ lý đơn

– Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, người có thẩm quyền thụ lý giải quyết và thông báo về việc thụ lý giải quyết;

– Trường hợp không thụ lý để giải quyết thì nêu rõ lý do.

Bước 3. Xác minh nội dung khiếu nại

Trong quá trình giải quyết khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có trách nhiệm sau:

– Kiểm tra lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp, nếu khiếu nại đúng thì ra quyết định giải quyết khiếu nại ngay;

– Trường hợp chưa có cơ sở kết luận nội dung khiếu nại thì tự mình tiến hành xác minh hoặc giao cho người có trách nhiệm xác minh xác minh nội dung khiếu nại, kiến nghị giải quyết khiếu nại.

Bước 4. Tổ chức đối thoại

– Trong quá trình giải quyết khiếu nại, người giải quyết khiếu nại lần đầu tổ chức đối thoại nếu yêu cầu của người khiếu nại và kết quả xác minh nội dung khiếu nại còn khác nhau.

– Việc đối thoại phải được lập thành biên bản.

– Kết quả đối thoại là một trong các căn cứ để giải quyết khiếu nại.

Bước 5. Ra quyết định giải quyết khiếu nại

– Người giải quyết khiếu nại lần đầu phải ra quyết định giải quyết khiếu nại.

Gửi kết quả giải quyết khiếu nại:

– Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định giải quyết khiếu nại, người giải quyết khiếu nại lần đầu có trách nhiệm gửi quyết định giải quyết khiếu nại cho:

+ Người khiếu nại;

+ Cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp.

4.3. Thủ tục giải quyết khiếu nại đất đai lần hai

Bước 1. Gửi và tiếp nhận đơn

– Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu mà không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai.

Lưu ý:

– Đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày.

– Hồ sơ khiếu nại lần hai gồm:

+ Đơn khiếu nại;

+ Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu;

Nơi nộp: Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai (theo hướng dẫn tại mục 3).

Bước 2. Thụ lý đơn

– Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết mà việc khiếu nại lần hai có đủ điều kiện theo mục 2.2 thì phải thụ lý giải quyết.

– Trường hợp không thụ lý giải quyết thì phải nêu rõ lý do trong văn bản thông báo cho người khiếu nại.

Khiếu Nại Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Lần Hai (Chỉ Trong Trường Hợp Khiếu Nại Về Đất Đai) / 2023

Thông tin thủ tục hành chính Khiếu nại quyết định giải quyết khiếu nại lần hai (chỉ trong trường hợp khiếu nại về đất đai) – An Giang

Cách thực hiện thủ tục hành chính Khiếu nại quyết định giải quyết khiếu nại lần hai (chỉ trong trường hợp khiếu nại về đất đai) – An Giang

 Trình tự thực hiện

Bước 1:

Thanh tra tỉnh chuyển hồ sơ cho Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh

Bước 2:

Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp nhận hồ sơ, tiến hành thẩm tra hồ sơ. Nếu hồ sơ đầy đủ theo quy định của Nhà nước thì trình Ủy ban nhân dân tỉnh ký quyết định giải quyết khiếu nại, ngược lại nếu hồ sơ còn thiếu hoặc chưa đúng thì yêu cầu Thanh tra tỉnh bổ sung hoặc trả lại

Bước 3:

Thanh tra tỉnh nhận lại hồ sơ tại Văn phòng Ủy ban nhân tỉnh để trả kết quả cho đối tượng thực hiện thủ tục hành chính

 Điều kiện thực hiện

Nội dung Văn bản quy định

Đơn khiếu nại phải được gửi trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần hai mà người khiếu nại không đồng ý

Chưa có văn bản!

Thành phần hồ sơ của thủ tục hành chính Khiếu nại quyết định giải quyết khiếu nại lần hai (chỉ trong trường hợp khiếu nại về đất đai) – An Giang

Tờ tình Thanh tra tỉnh

Đơn khiếu nại

Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai (bản photo, được đối chiếu bản chính)

Biên bản tống đạt quyết định giải quyết khiếu nại lần hai (bản photo, được đối chiếu bản chính)

Giấy chứng minh nhân dân (bản photo, được đối chiếu bản chính; nếu người khiếu nại là cá nhân)

Các biểu mẫu của thủ tục hành chính Khiếu nại quyết định giải quyết khiếu nại lần hai (chỉ trong trường hợp khiếu nại về đất đai) – An Giang

Phí và lệ phí của thủ tục hành chính Khiếu nại quyết định giải quyết khiếu nại lần hai (chỉ trong trường hợp khiếu nại về đất đai) – An Giang

Cơ sở pháp lý của thủ tục hành chính Khiếu nại quyết định giải quyết khiếu nại lần hai (chỉ trong trường hợp khiếu nại về đất đai) – An Giang

 Văn bản căn cứ pháp lý

 Văn bản công bố thủ tục

Lược đồ Khiếu nại quyết định giải quyết khiếu nại lần hai (chỉ trong trường hợp khiếu nại về đất đai) – An Giang

Một Số Vấn Đề Về Khiếu Nại, Tố Cáo Và Giải Quyết Khiếu Nại, Tố Cáo Trong Lĩnh Vực Đất Đai / 2023

Trang chủThanh tra – Pháp chế

Một số vấn đề về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai 

Nội dung KN,TC trong lĩnh vực quản lý đất đai chủ yếu tập trung vào các quyết định hành chính về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (chiếm 70%); về giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (chiếm 20%); về cấp, thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (chiếm 10%). Trong tổng số quyết định hành chính về đất đai bị KN,TC thì tỷ lệ KN,TC đúng và có đúng, có sai chiếm 47,8%. Trong số các vụ được đưa ra xét xử tại Tòa án thì tỷ lệ khởi kiện đúng và đúng một phần chiếm 19,5%. Điều này cho thấy, nhiều vụ việc KN,TC của công dân là có cơ sở, việc ra quyết định hành chính về đất đai của các cấp chính quyền còn nhiều thiếu sót. 

Tuy nhiên, nhìn chung tình hình tranh chấp, KN,TC về đất đai vẫn diễn biến phức tạp, gay gắt, kéo dài, tập trung vào lĩnh vực bồi thường giải phóng mặt bằng phát triển các khu đô thị (chiếm gần 70% tổng số vụ KN,TC)(4), trong đó, chủ yếu là khiếu nại về giá đất bồi thường. Đây là nguy cơ tiềm ẩn sự mất ổn định ở một số địa phương. Nguyên nhân của tình trạng trên là do:

a. Chính sách, pháp luật về đất đai trong thời gian dài không được hoàn thiện đồng bộ, thiếu cụ thể và nhất quán

b. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng còn nhiều bất cập

Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và quyền của người sử dụng đất đã được pháp luật công nhận, dẫn tới nhấn mạnh quyền thu hồi đất của Nhà nước, tạo vốn từ quỹ đất mà chưa quan tâm đầy đủ lợi ích chính đáng của người sử dụng đất, đặc biệt là trong việc định giá đất bồi thường, xử lý mối tương quan giữa giá đất thu hồi với giá đất tái định cư (thu hồi giá quá thấp, giao lại giá cao).  Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa lợi ích của xã hội với lợi ích của những người có đất bị thu hồi, thường chỉ nhấn mạnh đến tính cấp thiết của việc giải phóng mặt bằng để có được dự án; chưa chú ý những vấn đề xã hội nảy sinh sau khi thu hồi đất, dẫn tới không bảo đảm điều kiện tái định cư, không có phương án tích cực về giải quyết việc làm cho người có đất bị thu hồi, nhất là đối với nông dân không còn hoặc còn ít đất sản xuất hoặc những người không còn việc làm như nơi ở cũ. Việc quy định giá đất quá thấp so với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường tuy có tác động tích cực tới việc khuyến khích nhà đầu tư nhưng lại gây ra những phản ứng gay gắt của người có đất bị thu hồi.

Quy hoạch thu hồi đất nông nghiệp để giao cho các nông trường, lâm trường, các dự án đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ, xây dựng hạ tầng trong nhiều trường hợp chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng, tính khả thi thấp dẫn tới tình trạng thu hồi đất nhưng không sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả trong khi nông dân thiếu hoặc không còn đất sản xuất, đời sống khó khăn. Không chấp hành đúng các quy định của Nhà nước về trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư như ra thông báo giải phóng mặt bằng mà không có quyết định thu hồi đất, không thông báo trước về kế hoạch, phương án thu hồi đất cho người có đất bị thu hồi, cưỡng chế giải phóng mặt bằng trong khi chưa bố trí nơi tái định cư, quyết định thu hồi đất không đúng thẩm quyền, thu hồi đất để sử dụng vào mục đích trái quy hoạch đã được xét duyệt.

c. Sự yếu kém trong công tác tổ chức thi hành pháp luật về đất đai

Việc áp dụng pháp luật về đất đai của các địa phương còn nhiều bất cập, nhất là trong việc thu hồi đất. Sau khi có Luật đất đai 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành, nhiều địa phương chưa kịp thời ban hành các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể hóa thuộc thẩm quyền của cấp tỉnh để triển khai; nhiều địa phương cấp huyện và cấp xã chưa nắm chắc những quy định mới của pháp luật về đất đai nên vẫn còn áp dụng những quy định cũ đã bị hủy bỏ hoặc thay thế, nhiều trường hợp áp dụng sai quy định. 

Những bất cập này đã tạo nên những vụ việc khiếu kiện mới về đất đai. Nhiều địa phương chưa có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết, dẫn tới tùy tiện trong giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Đa số các địa phương chưa đầu tư kinh phí thỏa đáng để xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính, bảo đảm quản lý chặt chẽ đối với từng thửa đất. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chậm và trong một số trường hợp không chính xác. Công tác kiểm tra, thanh tra chưa được quan tâm đúng mức, trong đó công tác hậu kiểm đối với các dự án, công trình sau khi được giao đất, cho thuê đất ít được các địa phương chú ý. Tình trạng sử dụng đất không đúng mục đích, không đúng tiến độ, không đầu tư theo dự án mà chỉ chờ chuyển nhượng kiếm chênh lệch giá đã ít được phát hiện và xử lý kịp thời. Việc kiểm tra, thanh tra thực hiện giá cũng ít được phát hiện và xử lý kịp thời. Việc kiểm tra, thanh tra thực hiện chế độ công vụ và xử lý những vi phạm của cán bộ, công chức trong công tác quản lý và sử dụng đất đai chưa được đặt ra một cách cụ thể, tích cực.

Sự yếu kém, bất cập trong công tác quản lý đất đai cùng với một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức có những hành vi vụ lợi trong quản lý, sử dụng đất đai, nhũng nhiễu, thiếu công tâm là nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh những tranh chấp, khiếu nại về đất đai.

d. Bất cập trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo

Nhìn chung, tổ chức và cơ chế giải quyết KN,TC về đất đai thiếu ổn định và bất cập so với yêu cầu thực tế. Giải quyết một vụ khiếu nại đòi hỏi phải có các bước điều tra, nghiên cứu, kết luận và thi hành kết luận, do đó cần một đội ngũ những người am hiểu pháp luật, có nghiệp vụ chuyên sâu và làm việc chuyên trách. Nhưng hiện nay, hầu hết cán bộ làm công tác giải quyết khiếu nại chủ yếu là kiêm nhiệm; khiếu nại về đất đai chủ yếu nảy sinh ở cấp huyện, xã nhưng cơ quan có thẩm quyền thụ lý giải quyết ở cấp này lại không tương ứng. Chủ tịch UBND các cấp là người chủ trì, chịu trách nhiệm chính về quyết định giải quyết khiếu nại nhưng lại phải giải quyết rất nhiều công việc khác nhau của địa phương nên khó có điều kiện chuyên tâm về việc này. Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng giải quyết khiếu nại chậm, thiếu dứt điểm, chất lượng thấp, dẫn đến tình trạng khiếu kiện lại hoặc khiếu kiện vượt cấp. Trong tổ chức thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp, KN,TC lĩnh vực đất đai, nhiều địa phương chưa làm tốt việc tiếp dân, nhận đơn, hướng dẫn cụ thể theo pháp luật về việc nộp đơn dẫn đến tình trạng người đi khiếu kiện lúng túng, mất nhiều thời gian, công sức khi phải đi hết nơi này đến nơi khác. Khi phát sinh khiếu kiện, cấp ủy, chính quyền một số địa phương chưa tập trung chỉ đạo giải quyết kịp thời, còn né tránh, đùn đẩy. Nhiều vụ việc đã có quyết định giải quyết cuối cùng nhưng việc tổ chức thi hành quyết định không nghiêm; cơ quan ra quyết định thiếu kiểm tra, đôn đốc kịp thời để giải quyết dứt điểm; một số vụ việc không có tính khả thi trong tổ chức thi hành dẫn tới phát sinh những khiếu kiện mới phức tạp hơn.

Công tác hòa giải ở cấp cơ sở chưa được quan tâm đúng mức, nhiều địa phương chưa bố trí cán bộ có đủ năng lực, phẩm chất, kinh nghiệm đảm nhiệm công việc này nên việc hòa giải đạt hiệu quả chưa cao. Nhiều vụ việc giải quyết không triệt để dẫn đến khiếu kiện đông người, có trường hợp dẫn đến xảy ra vụ án hình sự. Một số địa phương chưa làm tốt trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về đất đai trên địa bàn như vi phạm trong thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, bồi thường, tái định cư, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Công tác thanh tra chưa được thực hiện thường xuyên, còn thiếu tính chủ động, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Việc xử lý sau thanh tra của các cấp, các ngành chưa kiên quyết, triệt để, kịp thời làm hạn chế hiệu quả hoạt động thanh tra, cụ thể: Tình trạng lấn chiếm đất công, chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, sử dụng sai mục đích, để đất hoang hóa diễn ra thường xuyên và dưới nhiều hình thức gây bức xúc trong dư luận nhân dân và xã hội nhưng chưa có chế tài đủ mạnh để ngăn ngừa các hành vi vi phạm; chế tài quy định xử lý, xử phạt vi phạm pháp luật đất đai còn nhẹ, chưa đủ sức răn đe các đối tượng vi phạm. Việc giải quyết đơn thư KN,TC, tranh chấp đất đai còn mang tính chủ quan, nể nang, nặng về mệnh lệnh hành chính; nhiều quyết định giải quyết chưa thấu tình, đạt lý. Việc tổ chức thực hiện các quyết định giải quyết đã có hiệu lực pháp luật còn thiếu kiên quyết, dẫn đến vụ việc không được giải quyết dứt điểm, khiếu kiện kéo dài. Hình thức văn bản giải quyết một số vụ việc chưa bảo đảm theo quy định của pháp luật như việc ban hành công văn, thông báo… để thay thế quyết định giải quyết tranh chấp, KN,TC về đất đai.

2. Một số đề xuất, kiến nghị

Từ thực tế nêu trên, xin đưa ra một số đề xuất, kiến nghị như sau:

Hai là, sớm hoàn thành việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất. Bảo đảm kinh phí đáp ứng nhu cầu hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai, thống nhất hệ thống hồ sơ địa chính trên cả nước. Hoàn thiện hệ thống điều tra, đánh giá tài nguyên đất, số lượng, chất lượng, tiềm năng và môi trường đất, bảo đảm cung cấp đầy đủ thông tin, tư liệu, dữ liệu về đất đai phục vụ cho việc hoạch định chính sách và ban hành quyết định của cơ quan nhà nước trong việc quản lý và sử dụng đất đai.

Ba là, cần khẩn trương kiện toàn về tổ chức và nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tiếp dân từ Trung ương đến địa phương. Tăng cường trách nhiệm, tính chủ động của người đứng đầu các cơ quan nhà nước trong việc tiếp công dân và giải quyết KN,TC về đất đai để giải quyết kịp thời, dứt điểm, công bố công khai kết quả giải quyết, không để khiếu kiện vượt cấp, diễn biến phức tạp, khiếu kiện đông người; chịu trách nhiệm về việc giải quyết tranh chấp, KN,TC.

Năm là, quan tâm thực hiện hòa giải tại cơ sở; tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý trong việc giải quyết KN,TC. Xử lý kiên quyết đối với các trường hợp lợi dụng quyền KN,TC để kích động, gây rối, làm mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

(2) Báo cáo số 263/BC-UBTVQH13 ngày 05-11-2012 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

(3) (4) Theo Báo cáo Tổng kết thi hành Luật đất đai năm 2003.

Tác giả bài viết: TS. Nguyễn Thanh Hải – Ths. Thảo Trang

Khiếu Nại Và Giải Quyết Khiếu Nại Quyết Định Hành Chính / 2023

Khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định hành chính

1. Quyền khiếu nại hành chính là gì?

Quyền khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân, thông qua hoạt động khiếu nại, công dân có thế yêu cầu cơ quan nhà nước bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình. Luật khiếu nại năm 2011, đã quy định: Khiếu nại là việc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét lại các quyết định hành chính, hành vi hành chính khi có căn cứ cho rằng các quyết định hay hành vi này là trái pháp luật và xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Như vậy, đối tượng của khiếu nại hành chính là các quyết định hành chính và hành vi hành chính. Căn cứ để cá nhân, tổ chức thực hiện quyền khiếu nại là tính trái pháp luật của quyết định hành chính, hành vi hành chính đó và được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước.

2. Tính hợp pháp của quyết định hành chính

Quyết định hành chính là một dạng cụ thể của quyết định pháp luật, do chủ thể có thẩm quyền nhân danh Nhà nước ban hành theo một trình tự thủ tục nhất định theo quy định.

Như vậy, một quyết định hành chính chỉ được coi là hợp pháp khi nó thỏa mãn các yêu cầu sau về tính hợp pháp của một quyết định pháp luật:

– Nội dung của quyết định không trái với Hiến pháp, luật và pháp lệnh cũng như các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền ban hành (có nội dung không trái pháp luật);

– Không vi phạm về thẩm quyền ban hành, hay nói cách khác là phải do chủ thể có thẩm quyền ban hành;

– Theo một trình tự và thủ tục do pháp luật quy định.

Khi quyết định hành chính vi phạm một trong các yêu cầu trên thì được xác định là quyết định trái pháp luật và cá nhân, tổ chức có quyền khiếu nại đối với quyết định đó.

3. Giải quyết khiếu nại quyết định hành chính cá biệt

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì cá nhân, tổ chức chỉ có quyền khiếu nại với các quyết định hành chính cá biệt, bởi vì chỉ có các quyết định này mới trực tiếp xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

Như vậy, cá nhân, tổ chức không có quyền khiếu nại đối với các quyết định hành chính chủ đạo hay quy phạm. Tuy nhiên, xuất phát từ vai trò quan trọng của quyết định hành chính trong quản lý hành chính nhà nước, các quyết định chủ đạo hay quy phạm có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực và hiệu quả của quản lý hành chính nhà nước. Bởi vì quyết định hành chính không chỉ đề ra các chủ trương, chính sách mà còn tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế xã hội.

Ví dụ: Như quyết định tăng giá điện của cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tác động trực tiếp đến đời sống dân sinh, đến hoạt động kinh doanh sản xuất, đến các hoạt động cung cấp dịch vụ. Bên cạnh đó, cũng tồn tại những quyết định hành chính quy phạm không mang tính khả thi hay không có khả năng thực hiện trên thực tế.

Như vậy, để đảm bảo nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước thì hoạt động khiếu nại, phản ánh hay kiến nghị của các cá nhân, tổ chức phải được đảm bảo giải quyết trên thực tế.

Khi tiếp nhận được các khiếu nại của các cá nhân, tổ chức thì các cơ quan nhà nước, các chủ thể có thẩm quyền có nghĩa vụ xem xét và giải quyết khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật hiện hành. Khiếu nại là căn cứ để chủ thể có thẩm quyền xem xét lại các quyết định hành chính, hành vi hành chính và khắc phục những vi phạm trong việc ban hành quyết định hành chính. Quyết định giải quyết khiếu nại của cấp có thẩm quyền phải đưa ra kết luận về việc khiếu nại là đúng, đúng một phần hay sai toàn bộ, đồng thời cũng đưa ra cách giải quyết như giữ nguyên, sửa đổi hoặc hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính.

Như vậy, khi giải quyết khiếu nại thì chủ thể có thẩm quyền mới chỉ xem xét đến tính hợp pháp của quyết định hành chính và đưa ra quyết định giải quyết khiếu nại. Tuy nhiên, quyết định hành chính chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi nó đảm bảo tính hợp lý, khả thi và phù hợp với điều kiện khách quan của hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

Tóm lại, hoạt động khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với các quyết định hành chính là một trong các biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý hành chính nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức./.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Hướng Dẫn Giải Quyết Khiếu Nại Đất Đai / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!