Hợp Đồng Hành Chính Vô Hiệu Theo Quy Định Của Luật Công

Xem 1,584

Cập nhật thông tin chi tiết về Hợp Đồng Hành Chính Vô Hiệu Theo Quy Định Của Luật Công mới nhất ngày 26/02/2021 trên website Athena4me.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 1,584 lượt xem.

Bài viết: Hợp đồng hành chính vô hiệu theo quy định của luật công

  • Tác giả: Võ Trí Hảo*
  • Nguồn: Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam số 09(94)/2015 – 2021, Trang 57-63

TÓM TẮT

ABSTRACT:

Administrative contract is a special kind of contract. It is an agreement, therefore it must obey most of valid conditions of a civil contract; but it also to bear “public value” because administrative contract is related to public service and somehow related to state power. Therefore, in designing principles to annul an administrative contract, law makes should follow other public law principles beside principle of private contract. These are principles of legal peace, protecting good belief of citizens, ensuring the right to access to justice. Under the influence of the above mentioned principles, there are a lot of exceptional cases in considering the validity of administrative contract in comparison with that of civil contract. These exceptional cases are grouped in intensified exceptions and exempt exceptions.

TỪ KHÓA:

1. Những nguyên tắc, giá trị đặc thù khi thiết kế, xem xét hợp đồng hành chính vô hiệu

1.1. Tính ổn định của trật tự pháp luật

Việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu sẽ dẫn tới khôi phục lại trật tự ban đầu, hay nói cách khác sẽ diễn ra hiện tượng hồi tố. So với hợp đồng dân sự thương mại, việc khôi phục lại trật tự ban đầu hay hồi tố đối với HĐHC có thể gây ra hậu quả rất lớn, bởi bốn đặc thù:

– Thứ nhất, HĐHC, đặc biệt là dạng hợp đồng hợp tác công tư (Public – Private Partner hay còn gọi là PPP) thường có thời gian kéo dài 30-50 năm. Vì vậy, khi hồi tố, thì khoảng thời gian giật lùi rất dài, gần bằng ½ đời người sẽ gây ra sự thay đổi rất lớn, thậm chí không có khả năng hồi tố.

– Thứ ba, HĐHC cũng thường được sử dụng trong lĩnh vực quy hoạch, xây dựng. Cả một khu phố được xây lên căn cứ vào một HĐHC. Nếu muốn tuyên bố vô hiệu và khôi phục lại trật tự ban đầu, có nghĩa cả khu phố phải biến mất. Đây là sự thay đổi ghê gớm và thường gặp sự chống đối của cư dân và phản ứng của công chúng nói chung, khiến các nhà chính trị e ngại. Bởi vậy, họ phải tìm lối thoát, tìm căn cứ cho việc cho phép một HĐHC tuy trái luật, nhưng vẫn có hiệu lực và được phép tiếp tục tồn tại.

Chính vì những tác động nêu trên, khi thiết kế chế tài tuyên bố vô hiệu đối với HĐHC, nhà làm luật phải tìm được điểm cân bằng giữa một bên là tính ổn định của hoạt động hành chính và một bên là cái giá phải trả khi hồi tố xới tung lên các quan hệ xã hội, trật tự pháp luật đã được thiết lập ổn định hàng chục năm.

Bởi vậy, nguyên tắc chung là khi xem xét một HĐHC vô hiệu hay không, yếu tố bảo đảm sự ổn định pháp luật (Rechtsicherheit) có sức nặng rất lớn.

1.2. Quyền tiếp cận công lý khi cho rằng bị cơ quan công quyền xâm phạm lợi ích

Một yêu cầu của nhà nước pháp quyền là bất kỳ khi nào công dân cho rằng quyền lợi ích của mình đang bị cơ quan công quyền xâm phạm thì họ đều có quyền khởi kiện ra trước tòa án hay nói cách khác quyền tiếp cận tòa án, tiếp cận công lý của công dân phải được bảo đảm. Bởi vậy, khi bên đối tác tư nhân hay bên thứ ba thấy rằng HĐHC (với tư cách là một hình thức quản lý nhà nước) đang ảnh hưởng đến lợi ích của mình, theo yêu cầu nêu trên, họ có quyền khởi kiện HĐHC ra tòa án, trong đó có quyền yêu cầu tuyên bố HĐHC trái luật và vô hiệu. Điều này có nghĩa, nhà lập pháp và tòa án không thể chỉ dựa vào mục tiêu ổn định của trật tự pháp luật, hay chỉ dựa vào quyền tiếp cận công lý để thiết kể giải pháp cho HĐHC; mà họ phải tìm ra điểm cân bằng của hai giá trị xung đột này; và tìm ra giải pháp vừa bảo đảm quyền lợi của người dân, vừa bảo đảm tính ổn định của trật tự pháp luật.

Thông thường nhà nước sẽ chủ động đứng ra lãnh phần thiệt hại về lợi ích cho một trong hai bên của HĐHC khi xảy ra xung đột giữa quyền tiếp cận công lý và yêu cầu giữ ổn định của trật tự pháp luật dẫn tới tình huống không thể dung hòa.

1.3. Bảo vệ niềm tin công dân

Nguyên tắc bảo vệ niềm tin công dân như là hệ quả của một mức phát triển cao của nhà nước pháp quyền khẳng định khía cạnh: luật pháp và việc áp dụng luật pháp phải mang lại kết quả công bằng. Nói cách khác, pháp luật phải phục vụ người dân, khi không đạt được mục đích đó thì việc áp dụng pháp luật không còn ý nghĩa. Nguyên tắc này không phải do các nhà lập pháp nghĩ ra mà là sự phát triển từ bản án E9, 251 của Tòa hành chính tối cao (tiểu bang) Berlin vào tháng 10 năm 1957.

Thuật ngữ “hợp đồng hành chính phụ thuộc” chỉ loại hợp đồng trong đó một bên có địa vị thượng phong và một bên yếu thế; hay nói cách khác giữa hai bên có mối quan hệ phụ thuộc, quyền lực đàm phán không tương xứng với nhau, mặc dầu tại thời điểm ký kết, hai chủ thể vẫn bắt buộc được công nhận là “cùng một mặt bằng”.

Bởi vậy, trong trường hợp này, nếu áp dụng các biện pháp bảo vệ bên yếu thế thông thường như đối với hợp đồng dân sự thương mại sẽ không có hiệu quả, mà cần phải yêu cầu cơ quan hành chính tuân thủ nguyên tắc dưới luật, tuân thủ các giá trị công như thể là các bên đang ở trong quan hệ ban hành QĐHC.

a. Hợp đồng hành chính phụ thuộc vô hiệu khi nội dung của QĐHC tương ứng bị vô hiệu

HĐHC xuất phát từ QĐHC, dùng để thay thế QĐHC, nên hợp đồng hành chính phụ thuộc có thể bị tuyên bố vô hiệu nếu nội dung của QĐHC tương ứng (quyết định mà HĐHC hướng tới thay thế) bị vô hiệu theo pháp luật hành chính, dù HĐHC đáp ứng đủ các yêu cầu của luật dân sự. Sự vô hiệu có thể xuất hiện khi HĐHC vi phạm các quy định của thủ tục hành chính chung, ví dụ thủ tục ban hành quyết định quản lý nhà nước, hoặc có thể xuất hiện khi vi phạm các quy định của luật hành chính chuyên ngành như quản lý đất đai, môi trường, tài nguyên…

b. Hợp đồng hành chính phụ thuộc bị vô hiệu khi không tuân thủ đúng hình thức và thủ tục của quyết định hành chính và các bên của hợp đồng hành chính biết điều đó

Luật dân sự không đặt ra vấn đề các bước ký kết hợp đồng và không đặt ra vấn đề vô hiệu tương ứng. Tuy nhiên, đối với QĐHC thì ngược lại, thủ tục ban hành thường được pháp luật điều chỉnh chặt chẽ. Khi ký kết HĐHC phụ thuộc, các bên phải tuân theo các thủ tục này như khi đang ban hành một QĐHC.

Mặt khác, đối tác tư nhân khi tham gia hợp đồng thường không có nhiều hiểu biết về thủ tục ban hành QĐHC tương ứng và họ cũng thường quan niệm: đối tác tư nhân không chịu sự ràng buộc của các giá trị công. Bởi vậy, HĐHC phụ thuộc trong trường hợp này chỉ bị tuyên bố vô hiệu khi hai bên đều ý thức được sự vi phạm về thủ tục ký kết nhưng vẫn cố tình.

2.1.2. Ngoại lệ gia cường đối với hợp đồng bù trừ. Bởi vậy, pháp luật áp dụng chế tài tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng bù trừ giả tạo. Hợp đồng bù trừ giả tạo diễn ra khi lý do dẫn tới bù trừ không có thực, tranh chấp pháp lý không có thực, sự bất định, rủi ro không có thực; hoặc những yếu tố này là có trong thực tế nhưng lại không giống như những nội dung mà HĐHC hướng tới. Sự bịa đặt này có thể nhằm che đậy một QĐHC. Nếu QĐHC bị che đậy là hợp pháp, thì HĐHC bù trừ và giả tạo bị vô hiệu, nhưng nội dung QĐHC mà nó che đậy có thể vẫn có hiệu lực. Nếu bản thân QĐHC bị che đậy là bất hợp pháp, thì HĐHC giả tạo và QĐHC được che đậy đều vô hiệu và HĐHC giả tạo không mang lại một hiệu ứng pháp lý nào. Quy phạm phổ biến thường thấy là “người được đại diện khi có thái độ tạo nên cho bên thứ ba tin tưởng một cách hợp lý rằng người đại diện có quyền hành động vì lợi ích của người được đại diện sẽ không thể viện dẫn bất lợi cho bên thứ ba về việc người đại diện không có đủ thẩm quyền, vì vậy, bị ràng buộc bởi hành vi của người đại diện”. Người thứ ba chỉ có thể viện dẫn học thuyết “thẩm quyền hiển nhiên” và buộc người được đại diện phải chịu sự ràng buộc khi chứng minh được hai điều kiện: một là, người được đại diện đã có lỗi khi tạo ra thẩm quyền đại diện bên ngoài của người đại diện và hai là, người thứ ba hành động một cách thiện chí, ngay tình.

Như vậy, đối với HĐHC, khi người người ký kết không phải là người đại diện theo pháp luật của cơ quan hành chính, sẽ không tự động dẫn đến vô hiệu như trong hợp đồng dân sự, thương mại.

2.2.2. Vi phạm điều kiện về tính tự nguyện của cơ quan nhà nước

Hợp đồng dân sự, thương mại khi vi phạm điều kiện về tính tự nguyện, như có yếu tố nhầm lẫn, đe dọa sẽ bị coi là vô hiệu. Trong HĐHC, nếu bên đối tác tư nhân không được bảo đảm tính tự nguyện, bị nhầm lẫn, đe dọa, thì HĐHC sẽ bị tuyên bố vô hiệu theo yêu cầu của đương sự. Tuy nhiên, tính tự nguyện của đối tác cơ quan nhà nước được mặc nhiên suy đoán. Bên đại diện cho quyền lực nhà nước tham gia HĐHC, là bên nhân danh quyền lực nhà nước sẽ không được nại ra lý do bị đe dọa, nhầm lẫn để yêu cầu hủy bỏ HĐHC. Bởi, cơ quan đại diện cho quyền lực nhà nước, nhân danh quyền lực nhà nước bảo vệ người dân chống lại mọi sự đe dọa trái pháp luật, thì chính họ sẽ mất đặc quyền này. Nói cách khác, nếu vì sự tắc trách của công chức, mà có thể diễn ra sự nhầm lẫn, hay không có tính tự nguyện từ cơ quan nhà nước, thì HĐHC vẫn có hiệu lực, đặc biệt đối với HĐHC nhằm hướng tới trợ cấp xã hội, cứu đói – người dân đã tiêu hết tiền, ăn hết gạo, thì không thể tuyên HĐHC vô hiệu để đòi lại gạo tiền được, mà buộc phải chấp nhận HĐHC có hiệu lực, mặc cho có tì vết về ý chí từ phía cơ quan nhà nước.

2.2.3. Vi phạm điều kiện hình thức hợp đồng, HĐHC vẫn có thể có hiệu lực

Trong một số vụ án, những cam kết của cơ quan nhà nước không được văn bản hóa, không thỏa mãn điều kiện hình thức của HĐHC. Tuy nhiên, cuối cùng, cam kết đó được tòa án thừa nhận hiệu lực pháp lý và bảo đảm thực thi bởi nguyên tắc nhà nước pháp quyền và nguyên tắc bảo vệ niềm tin công dân.

Kết luận

CHÚ THÍCH

Tiếng Đức gọi là Subordinationsrechtliche Vertraege. Tiếng Anh gọi là Subordination contracts.

Trong khi HĐHC ngang hàng không cần thiết phải bảo vệ mức cao như vậy.

Matthias Werner, sđd, 2008, tr. 94.

Matthias Werner, sđd, 2008, tr. 95.

Matthias Werner, sđd, 2008, tr. 96.

Matthias Werner, sđd, 2008, tr. 97.

Võ Trí Hảo – Hà Thu Thủy, “Nguyên tắc bảo vệ niềm tin công dân trong hệ thống pháp luật Đức”, Tạp chí Nghề luật, 8/2007, số 3, tr. 60 – 64.

[15] Đáng tiếc, ở Việt Nam, lý luận về nguyên tắc bảo vệ niềm tin, ngoại diên khái niệm HĐHC chưa đủ rộng, dẫn tới phủ nhận giá trị pháp lý của các thỏa thuận được xác lập trong quá trình đối thoại trong giải quyết khiếu nại. Kết cục đã xảy ra những vụ việc đau lòng như vụ án Đoàn Văn Vươn.

Bạn đang xem bài viết Hợp Đồng Hành Chính Vô Hiệu Theo Quy Định Của Luật Công trên website Athena4me.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!