Đề Xuất 11/2022 # Hoàn Thiện Quy Định Về Tiêu Chuẩn Và Quy Trình Bổ Nhiệm, Miễn Nhiệm, Cách Chức Các Chức Danh Của Cơ Quan Điều Tra / 2023 # Top 18 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 11/2022 # Hoàn Thiện Quy Định Về Tiêu Chuẩn Và Quy Trình Bổ Nhiệm, Miễn Nhiệm, Cách Chức Các Chức Danh Của Cơ Quan Điều Tra / 2023 # Top 18 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Hoàn Thiện Quy Định Về Tiêu Chuẩn Và Quy Trình Bổ Nhiệm, Miễn Nhiệm, Cách Chức Các Chức Danh Của Cơ Quan Điều Tra / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hoàn thiện quy định về tiêu chuẩn và quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh của cơ quan điều tra

PGS,TS. NGUYỄN MINH ĐỨC

Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu tội phạm học và phòng ngừa tội phạm, Học viện Cảnh sát nhân dân

1. Các quy định hiện hành

Tiêu chuẩn bổ nhiệm điều tra viên. Điều tra viên (ĐTV) là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự hiện hành (Pháp lệnh TCĐTHS), công dân Việt Nam là sĩ quan Công an, Quân đội tại ngũ, cán bộ Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), có đủ các tiêu chuẩn sau: Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực; có trình độ Đại học An ninh, Đại học Cảnh sát hoặc Đại học Luật; có chứng chỉ nghiệp vụ điều tra; có thời gian làm công tác thực tiễn theo quy định của Pháp lệnh TCĐTHS; có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được bổ nhiệm làm ĐTV. Nhiệm kỳ của ĐTV là năm năm kể từ ngày được bổ nhiệm. ĐTV có ba bậc là ĐTV sơ cấp, ĐTV trung cấp và ĐTV cao cấp

– Người có đủ tiêu chuẩn quy định, có thời gian làm công tác pháp luật từ bốn năm trở lên, có khả năng điều tra các vụ án thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng thì có thể được bổ nhiệm làm ĐTV sơ cấp.

– Người có đủ tiêu chuẩn quy định và đã là ĐTV sơ cấp ít nhất năm năm, có khả năng điều tra các vụ án thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng và có khả năng hướng dẫn các hoạt động điều tra của ĐTV sơ cấp thì có thể được bổ nhiệm làm ĐTV trung cấp.

– Người có đủ tiêu chuẩn quy định và đã là ĐTV trung cấp ít nhất năm năm, có khả năng nghiên cứu, tổng hợp đề xuất biện pháp phòng, chống tội phạm, có khả năng điều tra các vụ án thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, có khả năng hướng dẫn các hoạt động điều tra của ĐTV sơ cấp, ĐTV trung cấp thì có thể được bổ nhiệm làm ĐTV cao cấp.

Ngoài các quy định trên, trong trường hợp đặc biệt, người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền điều động đến công tác tại cơ quan điều tra (CQĐT), tuy chưa có chứng chỉ nghiệp vụ điều tra, chưa đủ thời gian đối với chức danh ĐTV trung cấp, cao cấp, nhưng có đủ các tiêu chuẩn khác được quy định thì cũng có thể được bổ nhiệm làm ĐTV trung cấp hoặc ĐTV cao cấp.

Bổ nhiệmĐTV. Hệ thống CQĐT hiện nay được tổ chức thuộc ba lực lượng: Công an nhân dân (CAND); Quân đội nhân dân (QĐND) và VKSND tối cao. Biên chế trong mỗi hệ thống CQĐT này có các ĐTV sơ cấp, trung cấp, cao cấp. Tuy nhiên, do sự phân cấp theo thẩm quyền điều tra nên ngoài quy định chung, quy trình bổ nhiệm ĐTV ở mỗi lực lượng cũng có những điểm khác và mỗi ngành sẽ thành lập ra các Hội đồng tuyển chọn ĐTV.

– Bổ nhiệm ĐTV trong hệ thống CQĐT thuộc lực lượng CAND: CQĐT trong lực lượng CAND chia làm hai cấp là các CQĐT thuộc Bộ Công an và các CQĐT địa phương (cấp tỉnh, huyện), nên có hai Hội đồng tuyển chọn ĐTV.

Hội đồng tuyển chọn ĐTV (cao cấp, trung cấp, sơ cấp) ở các CQĐT Bộ Công an gồm có Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND làm Chủ tịch; đại diện lãnh đạo Cơ quan Cảnh sát điều tra – CSĐT – (Cục CSĐT tội phạm về trật tự xã hội, Cục CSĐT tội phạm về tham nhũng, Cục CSĐT tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Cục CSĐT tội phạm về ma túy và Văn phòng Cơ quan CSĐT); Cơ quan An ninh điều tra (ANĐT); Cục Tổ chức – cán bộ và Vụ pháp chế Bộ Công an là uỷ viên.

Hội đồng tuyển chọn ĐTV (trung cấp, sơ cấp) ở CQĐT cấp tỉnh, huyện gồm có Giám đốc Công an cấp tỉnh làm Chủ tịch, đại diện lãnh đạo Cơ quan CSĐT, Cơ quan ANĐT, Phòng Tổ chức – cán bộ và Văn phòng Công an cấp tỉnh là ủy viên.

– Bổ nhiệm ĐTV trong hệ thống CQĐT của lực lượng QĐND: Hội đồng tuyển chọn ĐTV trong QĐND gồm có Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chủ tịch, đại diện lãnh đạo CQĐT hình sự, Cơ quan ANĐT, Cục cán bộ và Vụ pháp chế Bộ Quốc phòng là ủy viên.

– Bổ nhiệm ĐTV trong CQĐT của VKSND tối cao: Hội đồng tuyển chọn ĐTV do một Phó Viện trưởng VKSND tối cao làm Chủ tịch, đại diện Ủy ban kiểm sát VKSND tối cao, đại diện lãnh đạo Viện kiểm sát Quân sự trung ương, CQĐT và Vụ Tổ chức – cán bộ VKSND tối cao là ủy viên.

 Miễn nhiệm,mất chức, cách chức chức danh ĐTV: Điều 34 Pháp lệnh TCĐTHS năm 2004 quy định việc miễn nhiệm, mất chức và cách chức chức danh ĐTV như sau:

– Quy định về miễn nhiệm: ĐTV đương nhiên được miễn nhiệm chức danh ĐTV khi nghỉ hưu, chuyển công tác khác. Hoặc ĐTV có thể được miễn nhiệm chức danh vì lý do sức khoẻ, hoàn cảnh gia đình hoặc vì lý do khác mà xét thấy không thể bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.

– Quy định về mất chức: ĐTV đương nhiên bị mất chức danh ĐTV khi bị kết tội bằng bản án của Toà án đã có hiệu lực pháp luật hoặc bị kỷ luật bằng hình thức tước danh hiệu CAND, tước quân hàm sỹ quan QĐND.

– Quy định về cách chức: Tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm, ĐTV có thể bị cách chức chức danh ĐTV khi thuộc một trong các trường hợp sau: vi phạm trong công tác điều tra vụ án hình sự; vi phạm quy định tại Điều 33 của Pháp lệnh này; bị kỷ luật bằng hình thức cách chức chức vụ quản lý đang đảm nhiệm theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức; vi phạm về phẩm chất đạo đức; có hành vi vi phạm pháp luật khác.

Đối với chức danh thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT: Theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Pháp lệnh TCĐTHS năm 2004, tiêu chuẩn để bổ nhiệm thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT phải là những người đã là “ĐTV cao cấp hoặc ĐTV trung cấp, có năng lực tổ chức, chỉ đạo hoạt động điều tra thì có thể được bổ nhiệm làm thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT” (khoản 1 Điều 35). Như vậy, theo quy định này, trước khi được bổ nhiệm vào các chức danh trên thì ứng cử viên phải là người có đủ tiêu chuẩn là một ĐTV cao cấp hoặc ĐTV trung cấp. Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và cấp, thu hồi giấy chứng nhận thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT trong CAND, trong QĐND do Bộ trưởng của hai bộ quyết định, ở VKSND tối cao do Viện trưởng VKSND tối cao quyết định.

2. Một số vướng mắc và khó khăn trong thực tiễn thi hành

Pháp lệnh TCĐTHS ra đời từ năm 2004, sau hơn 8 năm thi hành đã được sửa đổi, bổ sung hai lần vào các năm 2007, 2009. Qua thực tiễn áp dụng, Pháp lệnh đã bộc lộ một số vướng mắc, thiếu sót nhất định:

Tên gọi, đối tượng, phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh TCĐTHS còn pha trộn với ngành luật tố tụng hình sự

Tên gọi của Pháp lệnh là “Pháp lệnh TCĐTHS” có lẽ chưa thực sự gần với bản chất của một văn bản quy định về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của hệ thống CQĐT hình sự thuộc ngành Luật Nhà nước (Luật Hiến pháp), bởi tên gọi này thiếu từ “cơ quan”. Vì thế nên có thể dẫn đến hai cách hiểu khác nhau: (i) đây là văn bản quy định hướng dẫn việc thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) thuộc ngành luật TTHS; (2) đây là văn bản quy định về xây dựng, cơ cấu tổ chức của hệ thống CQĐT hình sự. Câu hỏi đặt ra là “Pháp lệnh TCĐTHS thuộc ngành luật nào điều chỉnh”, thuộc ngành Luật Nhà nước hay thuộc ngành Luật TTHS, trong khi nội dung của Pháp lệnh thuộc về ngành Luật Nhà nước (khoa học pháp lý Việt Nam phân chia hệ thống pháp luật Việt Nam thành 12 ngành luật).

 Bộ luật TTHS ra đời năm 1988, Pháp lệnh TCĐTHS được ban hành năm 1989, tiếp đến năm 2003 Bộ luật TTHS được sửa đổi, bổ sung và ngay sau đó, năm 2004 Pháp lệnh TCĐTHS cũng được sửa đổi, bổ sung. Như vậy, về tiến trình xây dựng luật, sự ra đời của Pháp lệnh này giống như một văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật TTHS. Đã thế, nhiều quy phạm trong Pháp lệnh còn thiếu sót, hạn chế nên chưa đủ sức điều chỉnh về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, thẩm quyền của hệ thống các CQĐT theo tinh thần của ngành Luật Hiến pháp. Do các thiếu sót này mà mỗi lực lượng Công an, Quân đội, VKSND khi ban hành các thông tư hướng dẫn triển khai nội dung Pháp lệnh này về hệ thống CQĐT theo chức năng của ngành mình, đã thiếu sự thống nhất với nhau.

Một số quy định về tiêu chuẩn bổ nhiệm ĐTV chưa thống nhất, rõ ràng

Khoản 1 Điều 30 Pháp lệnh TCĐTHS quy định, ngoài các tiêu chuẩn khác thì người được bổ nhiệm làm ĐTV phải có thời gian “làm công tác thực tiễn”, nhưng điểm a, khoản 2 Điều 30 quy định về tiêu chuẩn để bổ nhiệm ĐTV sơ cấp lại quy định người được bổ nhiệm – ngoài các tiêu chuẩn chung quy định tại khoản 1 Điều 30 – phải có thời gian “làm công tác pháp luật” từ bốn năm trở lên. Quy định như trên là không thống nhất. 

– Về cách hiểu “làm công tác pháp luật”, thì đây là một khái niệm trừu tượng hơn so với khái niệm làm tác công thực tiễn. Xung quanh thuật ngữ này cũng có hai quan điểm khác nhau, một cho rằng, tất cả những cán bộ làm việc tại CQĐT (gồm cán bộ tổng hợp, trợ lý, trinh sát) đều là những người làm công tác pháp luật, bởi mọi công việc của họ đều phục vụ cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và đương nhiên sử dụng pháp luật. Quan điểm thứ hai cho rằng, người làm công tác pháp luật là những sĩ quan Công an, Quân đội, cán bộ VKSND đã tốt nghiệp Đại học Cảnh sát, An ninh, Luật và đang làm công tác pháp luật tại các cơ quan của lực lượng Công an, Quân đội, VKSND (cả trong CQĐT và cơ quan khác).

Tại đoạn 2 điểm b khoản 2 Điều 30 quy định: “Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này, có thời gian làm công tác pháp luật từ chín năm trở lên…”; đoạn 2 điểm c khoản 2 Điều 30 quy định: “Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này và đã có thời gian làm công tác pháp luật từ mười bốn năm trở lên…”. Vậy, người làm công tác pháp luật trong trường hợp này là làm việc liên tục hay có thể ngắt quãng nhưng cộng đủ thời gian là có thể bổ nhiệm ĐTV? Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng, do nhu cầu cán bộ, nếu cán bộ đã có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 30 rồi thì đương nhiên họ đủ tiêu chuẩn để bổ nhiệm ĐTV mà không cần phải quy định thêm “làm công tác pháp luật” từ 9 năm hoặc 14 năm, quy định như vậy là thừa, tạo nên sự rắc rối và thậm chí nếu hiểu không đúng sẽ dẫn đến sự tùy tiện.

Quy định về tiêu chuẩn bổ nhiệm thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT chưa rõ ràng và đầy đủ  

Khoản 1 Điều 35 Pháp lệnh TCĐTHS quy định, những người là “ĐTV cao cấp hoặc ĐTV trung cấp, có năng lực tổ chức, chỉ đạo hoạt động điều tra thì có thể được bổ nhiệm làm thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT”. Quy định như vậy mới chỉ dừng ở tiêu chuẩn để bổ nhiệm, mà chưa quy định về trình tự, thủ tục bổ nhiệm, thời hạn của chức danh, trong khi đó chức danh ĐTV được bổ nhiệm có thời hạn. Thực tế, nhiều người giữ chức danh thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT với thời hạn rất dài, có thể lên đến 10-15 năm mà không có thủ tục bổ nhiệm lại như chức danh ĐTV.

Do quy định chưa đầy đủ về tiêu chuẩn nên chưa tách bạch giữa chức năng tư pháp với chức năng quản lý của thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT. Người có chức danh thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT thường là người đồng thời giữ chức vụ quản lý hành chính, quản lý nhà nước. Đặc biệt là các CQĐT thuộc lực lượng CAND, nhất là sau khi thực hiện theo mô hình mới, trong các CQĐT có cả lực lượng ĐTV và trinh sát, nên thủ trưởng và phó thủ trưởng CQĐT đồng thời là những người chỉ huy của các cơ quan này thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác phòng ngừa và điều tra tội phạm, do đó nhiều nơi thủ trưởng CQĐT thường chỉ là hình thức, mà công việc này được giao cho một phó chuyên trách.

Mặc dù Pháp lệnh quy định “ĐTV cao cấp hoặc ĐTV trung cấp, có năng lực tổ chức, chỉ đạo hoạt động điều tra thì có thể được bổ nhiệm làm thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT” (khoản 1 Điều 35), nhưng thực tế vẫn còn rất nhiều trường hợp người được bổ nhiệm vào các chức danh thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT không thỏa mãn tiêu chuẩn này. Thậm chí có người đã giữ lần lượt nhiều chức vụ thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT các cấp, nhưng chưa một lần được bổ nhiệm chức danh ĐTV, đặc biệt là trong lực lượng CAND. Có thực trạng này là theo quy định, thường sau khi bổ nhiệm chức vụ thủ trưởng, phó thủ trưởng đơn vị (ví dụ, trưởng, phó Công an quận, huyện; trưởng, phó phòng CSĐT tội phạm về trật tự xã hội,…) xong rồi mới bổ nhiệm chức danh thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT; mà để bổ nhiệm chức vụ thủ trưởng, phó thủ trưởng đơn vị lại theo tiêu chuẩn cán bộ, công chức mà không theo tiêu chuẩn chức danh ĐTV hay tiêu chuẩn chức danh thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT như Pháp lệnh TCĐTHS quy định. Sự tồn tại này xuất phát từ tính chất đặc thù của ngành Công an và đây là điểm khác với việc bổ nhiệm thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT thuộc lực lượng QĐND và VKSND tối cao, bởi các CQĐT thuộc hai cơ quan này chuyên trách làm nhiệm vụ điều tra hình sự, không kiêm nhiệm cả công tác trinh sát, phòng ngừa như các CQĐT thuộc lực lượng CAND.

Quy định về trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và cấp, thu hồi giấy chứng nhận thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT chưa rõ ràng

Khoản 2 Điều 35 Pháp lệnh TCĐTHS quy định về việc bổ nhiệm thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT trong CAND và QĐND do Bộ trưởng của hai bộ này quyết định; ở VKSND tối cao do Viện trưởng VKSND tối cao quyết định. Thuật ngữ “quyết định” ở đây rất chung chung, nên mỗi ngành thực hiện một kiểu. Trong lực lượng CAND, chỉ có chức danh thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT Bộ Công an, thì Bộ trưởng mới ra quyết định, còn các trưởng phòng của các đơn vị Cảnh sát, ANĐT thuộc các Cục điều tra theo khoản 1 Điều 9 Pháp lệnh TCĐTHS (sửa đổi, bổ sung năm 2007) thì do Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND ra quyết định bổ nhiệm.

Cũng tại khoản 2 Điều 35, Pháp lệnh quy định về miễn nhiệm, cách chức và cấp, thu hồi giấy chứng nhận, nhưng không quy định điều kiện như đối với ĐTV. Các quy định về trình tự, thủ tục miễn nhiệm, cách chức, thu hồi giấy chứng nhận thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT hoàn toàn thiếu vắng. Vì vậy, khi người giữ chức danh thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT chuyển sang chức vụ công tác khác hay được bổ nhiệm chức vụ mới, hầu hết họ “tự hiểu” rằng, đã chuyển công tác thì đương nhiên không giữ chức danh thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT nữa.   Ngay cả giấy chứng nhận cũng không bị thu hồi và như vậy, kết hợp với việc Pháp lệnh không quy định thời hạn đảm nhiệm chức danh thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT, cũng không có thủ tục bắt buộc về miễn nhiệm, nên về mặt hình thức, người đó vẫn được là “thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT” dù không còn hoạt động về TTHS.

3. Một số kiến nghị  

Việc sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh TCĐTHS đang được tiến hành và theo hướng xây dựng Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự (Luật Tổ chức CQĐTHS) để thay thế Pháp lệnh này. Chúng tôi xin kiến nghị một số điểm sau:

Một là, tên gọi theo Dự thảo “Luật Tổ chức CQĐTHS” là hoàn toàn chính xác, đúng với bản chất của một văn bản luật thuộc ngành Luật Nhà nước, tránh được sự hiểu nhầm là văn bản thuộc ngành Luật TTHS. Đồng thời, quá trình soạn thảo và hoàn thiện Luật này phải tuân thủ đúng nguyên tắc pháp chế mà Điều 12 Hiến pháp hiện hành quy định, xác định rõ đối tượng và phạm vi điều chỉnh các quan hệ về xây dựng, tổ chức của bộ máy CQĐT hình sự, không được nhầm lẫn trong việc điều chỉnh quan hệ thủ tục TTHS. Tổ chức bộ máy CQĐT hình sự, các chức danh ĐTV, thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT đều là các chức danh tư pháp giống như thẩm phán, thư ký tòa án, hội thẩm nhân dân, chánh án, phó chánh án Tòa án nhân dân; kiểm sát viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND. Do đó, nội dung của Luật Tổ chức CQĐTHS phải được xây dựng chi tiết như các Luật Tổ chức VKSND, Luật Tổ chức TAND.

Hai là, cần quy định rõ ràng cụ thể, thống nhất về tiêu chuẩn chức danh ĐTV cũng như chức danh thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT. Đề nghị bỏ quy định về tiêu chuẩn “làm công tác pháp luật”, bởi quy định này rất trừu tượng và quá rộng. Chỉ nên quy định thống nhất một tiêu chuẩn “làm công tác thực tiễn”, tuy nhiên, để tránh tùy tiện trong cách hiểu và áp dụng, theo chúng tôi tiêu chuẩn này cần bổ sung thêm và quy định là “làm công tác thực tiễn phòng ngừa và điều tra tội phạm” sẽ đầy đủ và chính xác hơn, vừa dễ dàng cho Hội đồng tuyển chọn, vừa tăng năng lực của ĐTV trong thực tiễn công tác, hạn chế sai sót trong điều tra tội phạm. Lý do quy định tiêu chuẩn như vậy, xuất phát từ thực tiễn chức năng, nhiệm vụ của các CQĐT hiện nay, khi có vụ án xảy ra, nhất là án chưa rõ thủ phạm (án mờ) thường phải sử dụng các biện pháp nghiệp vụ để điều tra ban đầu, sau đó có đủ căn cứ mới chuyển sang điều tra công khai theo thủ tục TTHS. Ngoài ra, nhiệm vụ của các CQĐT bên cạnh việc điều tra vụ án, còn phải làm nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm, nhất là CQĐT trong lực lượng CAND. Cho nên, trong các CQĐT – bao gồm cả cán bộ là ĐTV, cán bộ trinh sát hoặc cán bộ giúp việc khác – tất cả cán bộ đều làm nhiệm vụ với mục đích chung là “phòng ngừa và điều tra tội phạm”.

Bốn là, cần cụ thể hóa trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT. Đặc biệt là phải tách bạch rõ ràng quyền năng tư pháp và quyền năng hành chính của thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT. Khoản 2 Điều 35 quy định việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và cấp, thu hồi giấy chứng nhận thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT do người đứng đầu ba ngành “quyết định”. Quy định này có phạm vi hẹp, dễ hiểu nhầm việc ra (ký) quyết định với quyết định những vấn đề về trình tự, thủ tục. Do vậy, theo chúng tôi, nên thay thuật ngữ “quyết định” bằng thuật ngữ “quy định” vào Luật Tổ chức CQĐTHS. Sự thay thế này sẽ chính xác hơn, đúng với thuật ngữ của văn bản quy phạm pháp luật. Như vậy, sẽ quy định là: “Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và cấp, thu hồi giấy chứng nhận thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT trong CAND, QĐND, VKSND do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định”. Quy định như vậy sẽ tạo nên sự thống nhất với quy định trong Luật Tổ chức VKSND, Luật Tổ chức TAND.

Năm là, đối với CQĐT cấp huyện thuộc lực lượng CAND, Luật Tổ chức CQĐTHS nên quy định thống nhất “thủ trưởng CQĐT cấp huyện trong CAND giao cho một phó trưởng công an huyện chuyên trách”, bởi thực tế hiện nay, chức danh thủ trưởng CQĐT cấp huyện đồng thời là trưởng công an huyện (quận). Trong khi đó, việc bổ nhiệm chức vụ trưởng công an cấp huyện phải phụ thuộc vào nhiều tiêu chí của ngành Công an, đồng thời còn phải thỏa mãn tiêu chí “huyện ủy viên”. Vì vậy, có thể xảy ra trường hợp người đáp ứng được tiêu chí ĐTV để bổ nhiệm chức vụ trưởng công an huyện chưa chắc đã thỏa mãn được một trong các tiêu chí về tổ chức cán bộ hoặc tiêu chí huyện ủy viên. Ngược lại, người đủ tiêu chí cán bộ và huyện ủy viên thì lại không thỏa mãn tiêu chuẩn ĐTV. Ngoài ra, chức vụ trưởng công an cấp huyện (quận) phải thực hiện việc lãnh đạo chỉ huy trên nhiều phương diện khác nhau trong lĩnh vực bảo vệ an ninh, trật tự trên địa bàn huyện (quận) nên không thể toàn tâm, toàn ý trong công tác chỉ đạo hoạt động điều tra vụ án, nên thực tế công việc này thường được ủy quyền cho phó trưởng công an huyện (quận).

Sáu là, cần quy định thời hạn đối với chức danh thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT như quy định thời hạn đối với chức danh ĐTV. Bởi, nếu thực hiện đúng quy định tại khoản 1 Điều 35 về tiêu chuẩn bổ nhiệm thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT là “ĐTV cao cấp hoặc ĐTV trung cấp”, thì theo quy định tại khoản 4 Điều 30 “Nhiệm kỳ của ĐTV là năm năm kể từ ngày được bổ nhiệm” sẽ có mâu thuẫn. Với tư cách là ĐTV thì sau 5 năm, ĐTV phải bổ nhiệm lại, nhưng nếu là thủ trưởng hoặc phó thủ trưởng CQĐT, dù đã hết 5 năm (hoặc lâu hơn) đều không phải bổ nhiệm lại. Đây là điều bất hợp lý, cần phải được quy định rõ trong Luật Tổ chức CQĐTHS.

Ngoài ra, việc giới hạn về nhiệm kỳ bổ nhiệm, bổ nhiệm lại đối với chức danh ĐTV với thời hạn 5 năm là là chưa phù hợp, có thể gây ra tiêu cực trong quá trình xem xét để được đề nghị bổ nhiệm lại khi hết nhiệm kỳ theo quy định, đồng thời tạo ra những thủ tục hành chính rườm rà sau một thời gian không dài. Do đó, có thể quy định trong Luật Tổ chức CQĐTHS theo hướng tăng thời hạn bổ nhiệm chức danh ĐTV từ 5 năm lên 10 năm hoặc 15 năm, hoặc cũng có thể quy định không giới hạn về thời gian bổ nhiệm, nhiệm kỳ bổ nhiệm đối với chức danh ĐTV. Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã nêu: “Nghiên cứu thực hiện cơ chế thi tuyển để chọn người bổ nhiệm vào các chức danh tư pháp. Tăng thời hạn bổ nhiệm chức danh tư pháp hoặc thực hiện chế độ bổ nhiệm không có kỳ hạn”.

Bảy là, cần quy định trong Luật Tổ chức CQĐTHS về chế độ, chính sách đối với thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT. Hiện tại trong Pháp lệnh TCĐTHS không có quy định nên mỗi ngành có cách vận dụng chế độ khác nhau đối với hai chức danh này. Thực tế, VKSND tối cao và QĐND có văn bản quy định về chế độ phụ cấp đối với thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT trong QĐND và trong VKSND tối cao, nhưng ngành CAND chưa có văn bản nào quy định, nên có nghịch lý là ĐTV trong CQĐT thì có phụ cấp chế độ, nhưng thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT lại không có chế độ phụ cấp (nếu người đó chưa lần nào được bổ nhiệm chức danh ĐTV)./.

Ubnd Tỉnh Quảng Nam Quy Định Tiêu Chuẩn, Điều Kiện Bổ Nhiệm Chức Danh Trưởng Phòng, Phó Trưởng Phòng / 2023

Thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 30/6/2011 của Tỉnh ủy Quảng Nam về công tác cán bộ giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020; ngày 16/5/2013, UBND tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định số 08/2013/QĐ-UBND quy định tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm chức danh Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng và tương đương thuộc sở, ban, ngành, UBND huyện, thành phố của tỉnh.

Ngoài các tiêu chuẩn chung về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, hiểu biết về tình hình chính trị và kinh tế-xã hội, về năng lực và các điều kiện khác theo quy định tại Quyết định nêu trên; người được bổ nhiệm còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện cụ thể đối với từng chức danh, cụ thể như sau:

1. Đối với chức danh Trưởng phòng và tương đương:

a/ Về trình độ chuyên môn và lí luận chính trị: 1) Phải tốt nghiệp đại học chuyên môn trở lên và Cao cấp lý luận chính trị (Đối với công chức sinh từ năm 1975 về sau, khi bổ nhiệm lần đầu phải tốt nghiệp đại học hệ chính quy và Cao cấp lý luận chính trị hệ tập trung. Trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền về công tác cán bộ xem xét, quyết định hoặc thi tuyển chức danh Trưởng phòng và tương đương, sẽ có quy định riêng); 2) Đã tốt nghiệp khóa đào tạo, bồi dưỡng về chương trình quản lý nhà nước ngạch chuyên viên trở lên; 3) Sử dụng thành thạo máy tính và các trang thiết bị văn phòng phục vụ cho công tác; 4) Có chứng chỉ trình độ B ngoại ngữ trở lên.

b/ Về độ tuổi, quá trình công tác. 1) Tuổi bổ nhiệm lần đầu không quá 50 tuổi đối với nam và không quá 45 tuổi đối với nữ; 2) Có quá trình công tác về lĩnh vực chuyên môn gần với lĩnh vực được phân công phụ trách từ 05 năm trở lên tính đến thời điểm được xét bổ nhiệm.

Trường hợp đặc biệt, đối với công chức có thời gian công tác về lĩnh vực chuyên môn gần với lĩnh vực được phân công phụ trách ít nhất 03 năm nhưng có thành tích nổi trội, có phẩm chất đạo đức tốt, đảm bảo tiêu chuẩn, được cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, đơn vị tín nhiệm, trong diện quy hoạch thì vẫn được xem xét bổ nhiệm giữ chức vụ Trưởng phòng và tương đương thuộc Sở, UBND cấp huyện.

2. Đối với chức danh Phó Trưởng phòng và tương đương

a/ Về trình độ chuyên môn và lí luận chính trị: 1) Tốt nghiệp đại học chuyên môn và trung cấp lý luận chính trị trở lên. Ưu tiên những công chức tốt nghiệp Cao cấp lý luận chính trị (Đối với công chức sinh năm 1975 trở đi khi bổ nhiệm lần đầu nói chung phải tốt nghiệp đại học hệ chính quy trở lên. Những trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền về công tác cán bộ xem xét, quyết định hoặc thi tuyển chức danh Phó Trưởng phòng và tương đương, sẽ có quy định riêng); 2) Đã tốt nghiệp khóa đào tạo, bồi dưỡng về chương trình quản lý Nhà nước ngạch chuyên viên trở lên; 3) Sử dụng thành thạo máy tính và các trang thiết bị văn phòng phục vụ cho công tác; 4) Có chứng chỉ trình độ B ngoại ngữ trở lên.

b/ Về độ tuổi, quá trình công tác: 1) Tuổi bổ nhiệm lần đầu không quá 50 tuổi đối với nam và không quá 45 tuổi đối với nữ; 2) Có quá trình công tác về lĩnh vực chuyên môn gần với lĩnh vực được phân công phụ trách từ 03 năm trở lên, tính đến thời điểm được xét bổ nhiệm.

Trường hợp đặc biệt, đối với công chức có thời gian công tác về lĩnh vực chuyên môn gần với lĩnh vực được phân công phụ trách dưới 03 năm nhưng có thành tích nổi trội, có phẩm chất đạo đức tốt, được cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, đơn vị tín nhiệm, trong diện quy hoạch thì vẫn được xem xét bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Trưởng phòng và tương đương thuộc Sở, UBND cấp huyện.

Các tiêu chuẩn nêu trên là căn cứ để Thủ trưởng các Sở (và tương đương), Chủ tịch UBND cấp huyện áp dụng cụ thể tại cơ quan, đơn vị khi thực hiện công tác nhận xét, đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, điều động, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức.

Ngoài ra, Quyết định còn quy định trường hợp công chức chưa được cơ quan, đơn vị bố trí đi học cao cấp lý luận chính trị, trung cấp lý luận chính trị nhưng do yêu cầu nhiệm vụ công tác và thực sự cần thiết thì Thủ trưởng các sở, ban, ngành và Chủ tịch UBND cấp huyện có thể xem xét, bổ nhiệm công chức, giữ chức vụ Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng và tương đương; sau đó bố trí cho công chức đó đi học để bảo đảm tiêu chuẩn theo quy định (quy định này chỉ áp dụng đến ngày 31/12/2015).

Quyết định có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày ký,

Ly Dung

Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Danh / 2023

Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Danh Bí Thư Chi Bộ, Mẫu Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Danh, Mẫu Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Danh Bí Thư Chi Bộ, Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Danh, Mẫu Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Danh Trưởng Thôn, Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Danh Phó Tổng Giám Đốc, Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Danh Trưởng Thôn, Nghị Quyết Miễn Nhiệm Chức Danh Chủ Tịch Ubnd Xã, Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Vụ, Mẫu Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Vụ, Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Vụ Bí Thư Chi Bộ, Mẫu Quyết Định Miễn Nhiệm Cán Bộ Viên Chức, Mẫu Quyết Định Miễn Nhiệm Cán Bộ Công Chức, Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Vụ Giám Đốc, Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Vụ Kế Toán Trưởng, Mẫu Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Vụ Kế Toán Trưởng, Dự Thảo Quy Định Tiêu Chuẩn Thủ Tục Bổ Nhiệm Miễn Nhiệm Chức Danh Giáo Sư Phó Giáo Sư, Quyết Định Bổ Nhiệm Chức Danh Nghề Nghiệp Viên Chức, Quyết Định Bổ Nhiệm Chức Danh, Quyet Dinh Miem Nhiem Chuc Danh Bi Thu Chi Bo, Mẫu Tờ Trình Miễn Nhiệm Chức Danh Phó Chủ Tịch Ubnd Xãchức Danh, Quyết Định Bổ Nhiệm Chức Danh Nghề Nghiệp, Don Xin Miên Nhiệm Chức Danh, Mẫu Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh, Mau Mien Nhiem Chuc Danh Bi Thu Chi Bo, Don Xin Mien Nhiem Chuc Danh Dbhd, Don Xin Mien Nhiem Chuc Danh Pct HĐnd Xã, Mẫu Tờ Trình Miễn Nhiệm Chức Danh, Quyết Định Bổ Nhiệm Chức Danh Nghề Nghiệp Giáo Viên, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Trươnger Ban Pháp Chế, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Trưởng Ban Kinh Tế Xã Hội, Mau Don Xin Mien Nhiem Chuc Danh Chu Tich Hdnd, Mẫu Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Trưởng Ban HĐnd, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chúc Danh Ctubnd Xanh, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Công Đoàn, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Đại Biểu HĐnd Xã, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Hiệu Trưởng, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Chủ Tịch Ubnd Xã, Mẫu Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Chủ Tịch HĐnd, Don Xin Mien Nhiem Chuc Danh Chu Tich Ubnd, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Trưởng Thôn, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Chủ Tịch HĐnd, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Phó Hiệu Trưởng, Don Xin Mien Nhiem Chuc Danh Chu Tich Hdnd, Tờ Trình Miễn Nhiệm Chức Danh Chủ Tịch Ubnd, Tờ Trình Miễn Nhiệm Chức Danh Chủ Tịch HĐnd Xã, Tờ Trình Miễn Nhiệm Chức Danh Chủ Tịch Ubnd Xã, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Trưởng Ban HĐnd Huyện, Tờ Trình Miễn Nhiệm Chức Danh Phó Chủ Tịch Ubnd Xã, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Xã, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Hội Đồng Nhân Dân, Mẫu Tờ Trình Miễn Nhiệm Chức Danh Chủ Tịch Ubnd Xã, Mẫu Tờ Trình Miễn Nhiệm Chức Danh Chủ Tịch HĐnd, Tờ Trình Miễn Nhiệm Chức Danh Chủ Tịch HĐnd, Tờ Trình Về Miễn Nhiệm Chức Danh Chủ Tịch Ubnd Xã, Don Xin Mien Nhiem Chuc Danh Chu Tich Hoi Dong Nhan Dan, Don Xin Mien Nhiem Chuc Danh Truong Ban Kinh Te Xa Hoi Hdnd, Quy Chế Bổ Nhiệm Bổ Nhiệm Lại Luân Chuyển Từ Chức Miễn Nhiệm Cán Bộ Công Chức Lãnh Đạo, Tờ Trình Miễn Nhiệm, Bầu Bổ Sung Chức Danh Phó Chủ Tịch Ubnd Xã, Don Xin Mien Niem Nhiem Chuc Danh Truong Ban Phap Che HĐnd, Tờ Trình Về Miễn Nhiệm Chức Danh Phó Chủ Tịch Hooij Cựu Chiến Binh, Biên Bản Kiểm Phiếu Miễn Nhiệm Chức Danh Chủ Tịch HĐnd Xã, Quyết Định Số 75-qĐ/tw Ngày 21/8/2007 Của Ban Bí Thư Ban Hành Quy Chế Bổ Nhiệm, Miễn Nhiệm, Khen Thư, Quyết Định Số 75-qĐ/tw Ngày 21/8/2007 Của Ban Bí Thư Ban Hành Quy Chế Bổ Nhiệm, Miễn Nhiệm, Khen Thư, Quyết Định Miễn Nhiệm Bổ Nhiệm, Quyết Định Bổ Nhiệm Miễn Nhiệm, Mẫu Quyết Định Bổ Nhiệm Miễn Nhiệm, Quyết Định Miễn Nhiệm Và Bổ Nhiệm, Quy Chế Bổ Nhiệm Bổ Nhiệm Lại Luân Chuyển Từ Chức Miễn Nhiệm Cán Bộ Công , Quyết Định Miễn Nhiệm Cán Bộ, Quyết Định Miễn Nhiệm Phó Bí Thư Chi Bộ Cơ Sở, Quyết Định Miễn Nhiệm Phó TgĐ Đầu Tư, Quyết Định Miễn Nhiệm Là Gì, Quyết Định Miễn Nhiệm Bí Thư Chi Bộ, Mẫu Quyết Định Miễn Nhiệm Cán Bộ, Mẫu Quyết Định Miễn Nhiệm Bí Thư Chi Bộ, Quyết Đinh Miễn Nhiệm Phó Bí Thư Chi Bộ, Mẫu Quyết Định Miễn Nhiệm, Quyết Định Miễn Nhiệm, Mẫu Quyết Định Miễn Nhiệm Giám Đốc, Quyết Định Miễn Nhiệm Bí Thư Chi Bộ Thôn, Quyết Định Miễn Nhiệm Trưởng ấp, Quyết Định Miễn Nhiệm Giám Đốc, Quyết Định Miễn Nhiệm Phó Giám Đốc, Mẫu Quyết Định Miễn Nhiệm Kế Toán, Mẫu Quyết Định Miễn Nhiệm Bí Thư Chi Bộ Thôn, Quyết Định Miễn Nhiệm Tổ Trưởng Tổ Dân Phố, Quyết Định Miễn Nhiệm Bí Thư Chi Đoàn, Quyết Định Miễn Nhiệm Kế Toán, Quyết Định Miễn Nhiệm Hiệu Trưởng, Mẫu Quyết Định Miễn Nhiệm Trưởng Phòng, Quyết Định Miễn Nhiệm Giám Đốc Công Ty, Quyết Định Miễn Nhiệm Giám Đốc Chi Nhánh, Mẫu Quyết Định Miễn Nhiệm Trưởng Thôn, Quyết Định Miễn Nhiệm Cong An Viên, Quyết Định Miễn Nhiệm Kế Toán Trưởng Doc, Quyết Định Miễn Nhiệm Trưởng Công An Xã, Quyết Định Miễn Nhiệm Tổ Trưởng Chuyên Môn, Quyết Định Miễn Trách Nhiệm Hình Sự,

Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Danh Bí Thư Chi Bộ, Mẫu Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Danh, Mẫu Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Danh Bí Thư Chi Bộ, Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Danh, Mẫu Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Danh Trưởng Thôn, Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Danh Phó Tổng Giám Đốc, Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Danh Trưởng Thôn, Nghị Quyết Miễn Nhiệm Chức Danh Chủ Tịch Ubnd Xã, Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Vụ, Mẫu Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Vụ, Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Vụ Bí Thư Chi Bộ, Mẫu Quyết Định Miễn Nhiệm Cán Bộ Viên Chức, Mẫu Quyết Định Miễn Nhiệm Cán Bộ Công Chức, Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Vụ Giám Đốc, Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Vụ Kế Toán Trưởng, Mẫu Quyết Định Miễn Nhiệm Chức Vụ Kế Toán Trưởng, Dự Thảo Quy Định Tiêu Chuẩn Thủ Tục Bổ Nhiệm Miễn Nhiệm Chức Danh Giáo Sư Phó Giáo Sư, Quyết Định Bổ Nhiệm Chức Danh Nghề Nghiệp Viên Chức, Quyết Định Bổ Nhiệm Chức Danh, Quyet Dinh Miem Nhiem Chuc Danh Bi Thu Chi Bo, Mẫu Tờ Trình Miễn Nhiệm Chức Danh Phó Chủ Tịch Ubnd Xãchức Danh, Quyết Định Bổ Nhiệm Chức Danh Nghề Nghiệp, Don Xin Miên Nhiệm Chức Danh, Mẫu Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh, Mau Mien Nhiem Chuc Danh Bi Thu Chi Bo, Don Xin Mien Nhiem Chuc Danh Dbhd, Don Xin Mien Nhiem Chuc Danh Pct HĐnd Xã, Mẫu Tờ Trình Miễn Nhiệm Chức Danh, Quyết Định Bổ Nhiệm Chức Danh Nghề Nghiệp Giáo Viên, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Trươnger Ban Pháp Chế, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Trưởng Ban Kinh Tế Xã Hội, Mau Don Xin Mien Nhiem Chuc Danh Chu Tich Hdnd, Mẫu Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Trưởng Ban HĐnd, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chúc Danh Ctubnd Xanh, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Công Đoàn, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Đại Biểu HĐnd Xã, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Hiệu Trưởng, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Chủ Tịch Ubnd Xã, Mẫu Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Chủ Tịch HĐnd, Don Xin Mien Nhiem Chuc Danh Chu Tich Ubnd, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Trưởng Thôn, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Chủ Tịch HĐnd, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Phó Hiệu Trưởng, Don Xin Mien Nhiem Chuc Danh Chu Tich Hdnd, Tờ Trình Miễn Nhiệm Chức Danh Chủ Tịch Ubnd, Tờ Trình Miễn Nhiệm Chức Danh Chủ Tịch HĐnd Xã, Tờ Trình Miễn Nhiệm Chức Danh Chủ Tịch Ubnd Xã, Đơn Xin Miễn Nhiệm Chức Danh Trưởng Ban HĐnd Huyện, Tờ Trình Miễn Nhiệm Chức Danh Phó Chủ Tịch Ubnd Xã,

Hoàn Thiện Các Quy Định Của Pháp Luật Về Bỏ Phiếu Tín Nhiệm Đổi Với Người Giữ Chức Vụ Do Quốc Hội Bầu Hoặc Phê Chuẩn / 2023

Hoàn thiện các quy định của pháp luật về bỏ phiếu tín nhiệm đổi với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn

ThS. TRẦN VIỆT DŨNG

Trường Đại học Luật, Đại học Huế.

Tóm tắt: Để góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước, xác định rõ trách nhiệm của các cán bộ lãnh đạo nhà nước, Hiến pháp và một số văn bản pháp luật khác đã quy định việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật về bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn còn có những hạn chế nhất định làm ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bài viết, tác giả phân tích những hạn chế và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.

Từ khóa: Quốc hội, bỏ phiếu tín nhiệm, người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.

Abstract: The confidence votes of the position holders elected or approved by the National Assembly are stipulated in the Constitution and other legal documents with an aim to improve the effectiveness of state power control, clearly define the responsibilities of high position government leaders. However, the legal provisions on confidence votes of the position holders elected or approved by the National Assembly appear several limitations that affect the effectiveness of control of state power. In the article, the author analyzes the limitations and proposes recommendations to improve the legal provisions on confidence votes of the position holders elected or approved by the National Assembly. 

Key words: National Assembly, confidence votes, position holder elected or approved by National Assembly.

 1. Những hạn chế của các quy định của pháp luật về bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn

Thứ nhất, những quy định về việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn còn nằm rải rác ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau.Hiện nay, trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014,Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân (HĐND) năm 2015, Quy chế hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, Nghị quyết số 85/2014/QH13 của Quốc hội về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn… đều có chứa đựng những quy định về việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Có một số quy định trong các văn bản pháp luật này trùng lặp với nhau, chồng chéo và mâu thuẫn lẫn nhau, điển hình là việc quy định về quy trình bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Theo quy định tại Điều 13 Nghị quyết số 85/2014/QH13 của Quốc hội về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn, quy trình bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn bao gồm 9 bước, trong khi đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015, quy trình bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn chỉ bao gồm 6 bước.Thứ hai,các quy định của pháp luật về các trường hợp Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm còn quá chặt, thiếu những hướng dẫn chi tiết để thực hiện.Mặc dù việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn đã được Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung vào năm 2001) và Hiến pháp năm 2013 cùng những văn bản pháp luật khác quy định, nhưng trên thực tế 16 năm qua, Quốc hội chưa lần nào tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Về vấn đề này, TS. Vũ Đức Khiển cho rằng, bỏ phiếu tín nhiệm vẫn chưa một lần được thực hiện trên thực tế “bởi những quy định ngặt nghèo nhưng lại thiếu những hướng dẫn chi tiết để có thể áp dụngSự “ngặt nghèo nhưng lại thiếu những hướng dẫn chi tiết để có thể áp dụng” được thể hiện trong các quy định của pháp luật về thủ tục UBTVQH trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm trong các trường hợp sau đây:

– Về trường hợp “UBTVQH tự mình đề nghị”

Điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 85 của Quốc hội về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn quy định: “UBTVQH tự mình quyết định việc trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn khi xét thấy cần thiết”.Quy định này chưa cụ thể, rõ ràng, chưa nêu rõ như thế nào là cần thiết. Chính việc quy định chưa cụ thể, rõ ràng này làm cho việc UBTVQH tự mình quyết định việc trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn khó có thể thực hiện trên thực tế.

– Trường hợp “có kiến nghị của Hội đồng Dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội”

Điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 85 của Quốc hội về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn quy định: “Khi có kiến nghị bằng văn bản của ít nhất hai mươi phần trăm (20%) tổng số thành viên Hội đồng Dân tộc, thành viên Uỷ ban của Quốc hội về việc xem xét bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn thì Thường trực Hội đồng, Thường trực Uỷ ban có trách nhiệm báo cáo Hội đồng, Uỷ ban quyết định. Trong trường hợp có ít nhất hai phần ba (2/3) tổng số thành viên Hội đồng, thành viên Uỷ ban bỏ phiếu tán thành kiến nghị đó thì Hội đồng, Uỷ ban kiến nghị UBTVQH trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm”.Những quy định này rất phức tạp với những yêu cầu quá cao. Hơn nữa, pháp luật không quy định hướng dẫn chi tiết thủ tục thu thập ý kiến của 20% tổng số thành viên Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội để có thể kiến nghị bằng văn bản về việc xem xét bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.  

– Trường hợp có kiến nghị của ít nhất 20% tổng số đại biểu Quốc hội (ĐBQH)

Điểm c khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 85 của Quốc hội về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn quy định: “ĐBQH kiến nghị Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn bằng cách gửi văn bản đến UBTVQH. Khi nhận được kiến nghị của ít nhất 20% tổng số ĐBQH đối với một người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn thì UBTVQH trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm”.Việc pháp luật quy định cần có ít nhất 20% tổng số ĐBQH kiến nghị Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm là quá chặt, rất khó thực hiện được trên thực tế.Hơn nữa, pháp luật cũng không quy định chi tiết thủ tục thu thập ý kiến của 20% tổng số ĐBQH để kiến nghị Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm.Thứ ba,hệ quả đối với người không được Quốc hội tín nhiệm không được quy định cụ thể, rõ ràng.Điều 15 Nghị quyết số 85 của Quốc hội về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn quy định: “Người được bỏ phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số ĐBQH, HĐND đánh giá “không tín nhiệm” thì có thể xin từ chức; trường hợp không từ chức thì cơ quan hoặc người có thẩm quyền giới thiệu người đó để Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn có trách nhiệm trình Quốc hội, HĐND xem xét, quyết định việc miễn nhiệm hoặc phê chuẩn đề nghị miễn nhiệm đối với người đó”.Những quy định nêu trên không rõ ràng và rất khó áp dụng trong thực tiễn, bởi:- Thực tế cho thấy, có nhiều cán bộ lãnh đạo có nhiều sai phạm đến mức phải bị bãi nhiệm, cách chức nhưng đã không từ chức và quyết tâm giữ “ghế” đến cùng.- Pháp luật chưa có quy định thủ tục giải quyết việc xin từ chức của những người không được Quốc hội tín nhiệm.- Chưa có quy định về biện pháp xử lý đối với người không xin từ chức, chưa nêu rõ trong trường hợp nào thì bị miễn nhiệm, trong trường hợp nào thì bị bãi nhiệm hoặc cách chức đối với người không được đa số các ĐBQH tín nhiệm mà không xin từ chức.Thứ tư, “bỏ phiếu tín nhiệm” hay “bỏ phiếu bất tín nhiệm”?Nếu “những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn” tự mình đề xuất Quốc hội bỏ phiếu nhằm đánh giá sự tín nhiệm của Quốc hội dành cho những người đó cao hay thấp, để từ đó có thể điều chỉnh hoạt động của mình thì được gọi là “bỏ phiếu tín nhiệm”. Trong thủ tục “bỏ phiếu tín nhiệm”, thì “những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn” đóng vai trò chủ động đề xuất Quốc hội bỏ phiếu.Nếu Quốc hội chủ động tiến hành bỏ phiếu “những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn” nhằm bày tỏ sự không hài lòng với hoạt động lãnh đạo, điều hành của của những người này, thì được gọi là “bỏ phiếu bất tín nhiệm”. Trong thủ tục “bỏ phiếu bất tín nhiệm”, thì “những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn” đóng vai trò bị động.Thực tiễn ở nước ta từ trước đến nay cho thấy, không có trường hợp “những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn” chủ động đề xuất Quốc hội bỏ phiếu, mà họ chỉ có thể bị bỏ phiếu ở dạng bị động. Hình thức bỏ phiếu này được pháp luật hiện hành gọi là “bỏ phiếu tín nhiệm” là chưa chính xác.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn

Thứ nhất,hệ thống hóa quy định bỏ phiếu tín nhiệm.Cần hệ thống hóa những quy định về việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn vào một văn bản luật với tên gọi là Luật Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn. Trong văn bản luật này sẽ quy định cụ thể khái niệm, thẩm quyền, thủ tục, hậu quả pháp lý và các trường hợp bỏphiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn.Thứ hai,đơn giản hóa thủ tục UBTVQH trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.Để đơn giản hóa thủ tục UBTVQH trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, cần xem xét sửa đổi quy định “Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn khi có kiến nghị của ít nhất 20% tổng số ĐBQH”. Trong trường hợp UBTVQH xét thấy việc kiến nghị của các ĐBQH đối với việc bỏ phiếu tín nhiệm là cần thiết, nên giảm bớt tỷ lệ số ĐBQH cần có để kiến nghị Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn xuống dưới 20% tổng số ĐBQH. Bên cạnh đó pháp luật cần có quy định cụ thể trình tự, thủ tục thu thập ý kiến của các ĐBQH để có thể kiến nghị bỏ phiếu tín nhiệm. Bởi vì, “nếu không có những quy định cụ thể hóa về trình tự, thủ tục thu thập ý kiến của các ĐBQH thì chắc chắn các quy định bỏ phiếu tín nhiệm chỉ tồn tại trên văn bản”Cần đơn giản hóa thủ tục Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội thực hiện quyền kiến nghị việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với chức danh do Quốc hội bầu và phê chuẩn. Theo đó, chỉ cần hơn 50% tổng số thành viên Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội biểu quyết tán thành, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội thực hiện quyền kiến nghị việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với chức danh do Quốc hội bầu và phê chuẩn.Cần quy định cụ thể trongnhững trường hợp UBTVQH có thể tự mình trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.Thứ ba,quy định cụ thể, rõ ràng hệ quả đối với người không được Quốc hội tín nhiệm.Pháp luật cần quy định cụ thể, rõ ràng biện pháp xử lý, thủ tục xử lý đối với người không được Quốc hội tín nhiệm; quy định rõ trong trường hợp nào thì người không được Quốc hội tín nhiệm bị miễn nhiệm, trong trường hợp nào thì người không được Quốc hội tín nhiệm bị bãi nhiệm hoặc cách chức.Cầnsửa đổi quy định “người được bỏ phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số ĐBQH, đánh giá “không tín nhiệm” thì có thể xin từ chức thành “người được bỏ phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số ĐBQH, đánh giá “không tín nhiệm” thì bị đình chỉ chức vụ”. Sau khi người không được Quốc hội tín nhiệm bị đình chỉ chức vụ, thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thủ tục miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc cách chức đối với người này.Thứ tư,sử dụng thuật ngữ “bỏ phiếu bất tín nhiệm” thay cho “bỏ phiếu tín nhiệm”

* ThS. Trường Đại học Luật – Đại học Huế.[1] Bảo Cầm, “Tháo khóa, rộng cửa” để thực thi bỏ phiếu tín nhiệm, http://thanhnien.vn/thoi-su/thao-khoa-rong-cua-de-thuc-thi-bo-phieu-tin-nhiem-487237.html, truy cập ngày 23/7/2017.Bỏ phiếu tín nhiệm – Bàn về thủ tục khả thi,Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 5/2004. [2] Vũ Văn Nhiêm,,Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 5/2004.Bỏ phiếu tín nhiệm – Bàn về thủ tục khả thi,Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 5/2004.[3] Vũ Văn Nhiêm,,Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 5/2004.

Theo quy định của các văn bản pháp luật hiện hành, Quốc hội chỉ bỏ phiếu tín nhiệm khi có sự không đồng tình của các ĐBQH hoặc của UBTVQH, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội đối với cách lãnh đạo, điều hành của “những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn”. Do đó việc bỏ phiếu này cần được gọi là bỏ phiếu bất tín nhiệm. Hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới khi có quy định vấn đề tương tự hoặc có tính chất tương tự như vấn đề “bỏ phiếu tín nhiệm” ở nước ta, họ đều sử dụng thuật ngữ “bỏ phiếu bất tín nhiệm”

 

Bạn đang đọc nội dung bài viết Hoàn Thiện Quy Định Về Tiêu Chuẩn Và Quy Trình Bổ Nhiệm, Miễn Nhiệm, Cách Chức Các Chức Danh Của Cơ Quan Điều Tra / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!