Đề Xuất 11/2022 # Hoàn Thiện Cơ Chế, Chính Sách Phát Triển Ktxh Vùng Dân Tộc Thiểu Số Và Miền Núi / 2023 # Top 14 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 11/2022 # Hoàn Thiện Cơ Chế, Chính Sách Phát Triển Ktxh Vùng Dân Tộc Thiểu Số Và Miền Núi / 2023 # Top 14 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Hoàn Thiện Cơ Chế, Chính Sách Phát Triển Ktxh Vùng Dân Tộc Thiểu Số Và Miền Núi / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

(Chinhphu.vn) – Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương rà soát, xây dựng kế hoạch, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, chuẩn bị đầy đủ nguồn lực để kịp thời triển khai Chương trình MTQG Phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030.

Thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã quyết liệt chỉ đạo, hoàn thiện cơ bản hệ thống chính sách dân tộc, bao gồm: ban hành mới 01 Nghị quyết số 12/NQ-CP ngày 15 tháng 02 năm 2020 của Chính phủ, 03 Quyết định quy phạm pháp luật của Thủ tướng Chính phủ, xây dựng 01 Chương trình mục tiêu quốc gia riêng cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS và MN) với tổng số vốn bố trí giai đoạn 2021 – 2025 hơn 134 nghìn tỷ đồng và 41 chương trình, chính sách mang tính chiến lược, có ý nghĩa quan trọng, tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh vùng đồng bào DTTS và MN.

Giai đoạn 2016 – 2019, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các địa phương vùng đồng bào DTTS và MN khá cao, đạt bình quân 7% và tăng dần hàng năm, cao hơn bình quân chung cả nước. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng. Bước đầu hình thành vùng sản xuất nông lâm nghiệp hàng hóa. Kết cấu hạ tầng vùng đồng bào DTTS và MN từng bước hoàn thiện, gắn liền với sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội từng vùng, từng bước nâng cao và đáp ứng nhu cầu của người dân. Hộ nghèo ở các huyện nghèo, các xã đặc biệt khó khăn giảm nhanh. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt; bản sắc văn hóa của cộng đồng các DTTS được quan tâm bảo tồn, phát huy. Cơ bản giải quyết được những vấn đề nổi cộm về di cư tự do, hoạt động tôn giáo trái pháp luật, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, ổn định trật tự, an toàn xã hội vùng đồng bào DTTS và MN…

Tuy nhiên, một số chính sách về dân tộc còn chậm triển khai do thiếu vốn; một số vấn đề bức xúc đặt ra trong thực tiễn như: Kết cấu hạ tầng ở các vùng sâu, vùng xa còn thiếu thốn; di cư tự phát, thiếu đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt,… chậm được giải quyết; việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các DTTS còn hạn chế; chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa tuy được cải thiện nhưng vẫn còn ở mức trung bình thấp; tình hình an ninh, trật tự, tôn giáo ở vùng đồng bào DTTS và MN còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình yêu cầu yêu cầu trong giai đoạn tới, các Bộ, ngành, địa phương rà soát, xây dựng Kế hoạch, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, chuẩn bị đầy đủ nguồn lực để kịp thời triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào DTTS và MN trong năm 2021 theo đúng Nghị quyết số 12/NQ-CP ngày 15 tháng 02 năm 2020 của Chính phủ về triển khai thực hiện Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18 tháng 11 năm 2019 của Quốc hội khóa XIV và Quyết định số 1409/QĐ-TTg ngày 15 tháng 9 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19 tháng 6 năm 2020 của Quốc hội khóa XIV ngay sau khi Quốc hội phê duyệt Kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quyết định đầu tư Chương trình.

Ủy ban Dân tộc và các Bộ, ngành, cơ quan thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội khẩn trương hoàn thiện hồ sơ báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư 02 Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo và an sinh xã hội bền vững giai đoạn 2021 – 2025, trình Chính phủ để báo cáo Quốc hội xem xét, phê duyệt theo đúng quy định, bảo đảm không trùng lắp với Chương trình mục tiêu quốc gia Phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào DTTS và MN giai đoạn 2021 – 2030.

Vũ Phương Nhi

Cần Có Nghị Quyết Về Phát Triển Vùng Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số, Miền Núi / 2023

Nhìn nhận thực tế đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi còn nhiều khó khăn, nhiều ĐBQH cho rằng rất cần một nghị quyết căn cơ về phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, và không nên tiếp tục hỗ trợ theo kiểu… cho không.

Đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi còn nhiều khó khăn

Đa số các đại biểu QH, đặc biệt đại biểu người dân tộc thiểu số hoặc là cán bộ vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi đều bày tỏ sự cảm ơn, khẳng định những năm qua, Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã có nhiều chương trình, dự án hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Đời sống đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi đã có bước phát triển nhiều mặt về kinh tế, văn hoá, trình độ lao động sản xuất, giáo dục…

Tuy nhiên, khó khăn của đồng bào là hiện hữu và còn không ít vấn đề cần được tiếp tục quan tâm giải quyết. Vẫn còn đó vô vàn khó khăn, so với mặt bằng chung cả nước. ĐB Đoàn Văn Việt (Lâm Đồng) cung cấp thông tin, đến cuối năm 2017 tỉ lệ hộ nghèo của cả nước là 6,7%, ước tính đến cuối năm 2018 thì con số này sẽ giảm xuống còn dưới 6%. Trong đó còn gần 865.000 hộ nghèo, người dân tộc thiểu số chiếm tới 52,66% tổng số hộ nghèo cả nước. Riêng khu vực Tây Nguyên tỉ lệ hộ nghèo khoảng 12,86%, như vậy có đến 175.772 hộ, trong đó tỉ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm đến hơn 73% trên tổng số hộ nghèo. Đáng lưu ý là tỉ lệ tái nghèo vẫn còn cao, tỉ lệ hộ nghèo phát sinh gần bằng 23%.

Một cách cụ thể hơn, ĐB Lò Thị Luyến (Điện Biên) nói: “Dân tộc thiểu số chiếm 14,6% dân số của cả nước nhưng tỉ lệ hộ nghèo chiếm tới 52,7%. Hiện có khoảng 21% người dân tộc thiểu số trên 15 tuổi chưa đọc thông viết thạo chữ phổ thông, kết cấu hạ tầng, điện, đường, trường trạm đều thấp kém”.

Cho “cần câu” thay cho “con cá”

Đánh giá về nguyên nhân, nhiều ĐB cho rằng, dù đã có nhiều chương trình, dự án đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi với niềm tin, hy vọng và tình cảm lớn lao nhưng khi thực hiện đã không thể như kỳ vọng vì nguồn lực còn hạn chế. ĐB Hoàng Văn Hùng (Thái Nguyên) nói: “Rất nhiều chính sách được ban hành, nhưng nhiều chính sách manh mún, dàn trải, chồng chéo, có chính sách được ban hành song không có nguồn lực thực hiện”.

Nhiều đại biểu cho rằng, lâu nay việc hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi rất nhiều dự án kiểu cho không như cấp không sách báo, giống, gạo… Những điều đó rất cần, đã góp phần hỗ trợ kịp thời giúp đồng bào bớt khó khăn, đặc biệt trong lúc thiên tai, mất mùa. Tuy nhiên, trong tình hình mới, cần có những chính sách thiết thực, căn cơ hơn.

ĐB Hoàng Văn Hùng nói: “Chính sách hỗ trợ trực tiếp đã làm một bộ phận người dân có tư tưởng trông chờ chính sách, không tích cực lao động sản xuất, thiếu ý chí vươn lên mặc dù có sức lao động, có đất sản xuất, có đủ các điều kiện để canh tác, làm ra sản phẩm nhưng không làm vì đã có Nhà nước cho không.

Còn ĐB Triệu Tài Vinh (Hà Giang) nói: “Về hỗ trợ hộ nghèo hiện nay, chúng ta thường nói cho cần câu hay cho con cá. Thực tế chúng ta đã cho nhiều cần câu rồi, vấn đề hiện nay là có cần câu thì câu ở đâu? Như vậy, chúng ta phải tạo ra những môi trường tốt hơn, đó là những ao để nông dân có thể câu được”.

Theo ĐB Triệu Tài Vinh, lâu nay chúng ta hỗ trợ cho không người dân quá lâu, nó đã trở thành chế độ, tính ỷ lại như một tập quán và đã đến lúc tập quán này phải thay đổi.

Từ các phân tích trên, các đại biểu cho rằng, Quốc hội, Chính phủ xem xét và có những giải pháp tổ chức thực hiện chính sách phù hợp, làm sao để khuyến khích được người nghèo cũng vươn lên, người khá giả, người giàu được khích lệ. Trước hết, cần có lộ trình bỏ dần những chính sách hỗ trợ trực tiếp, cho không người dân, chuyển dần sang thực hiện các chính sách hỗ trợ có điều kiện. Ví dụ, cho vay tín dụng ưu đãi với lãi suất thấp, vay không lãi, hỗ trợ khởi nghiệp v.v…

Đa số đại biểu phát biểu về phát triển đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi đều thống nhất đề xuất của Hội đồng Dân tộc, là đề nghị Quốc hội có nghị quyết về chương trình mục tiêu mang tính tổng thể, toàn diện, lâu dài để phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn tới.

Nghị Quyết Về Nâng Cao Hiệu Quả Chương Trình Mục Tiêu Quốc Gia Giảm Nghèo Bền Vững Trên Địa Bàn Vùng Dân Tộc Thiểu Số Và Miền Núi / 2023

Theo đó, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững được triển khai thực hiện trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi là chủ trương lớn, luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước trong định hướng, chỉ đạo, bố trí nguồn lực. Với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương, các địa phương, cùng sự nỗ lực phấn đấu vươn lên của đồng bào các dân tộc, sự chung tay vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, các tầng lớp nhân dân và bạn bè quốc tế, việc giảm nghèo cả nước nói chung và giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số, miền núi nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, được quốc tế ghi nhận, là điểm sáng trong hệ thống các chính sách an sinh xã hội, góp phần tạo nên sự thay đổi tích cực diện mạo của vùng dân tộc thiểu số, miền núi và đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào.

Kết quả này là tiền đề quan trọng để đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi tiếp tục ổn định cuộc sống và sản xuất, an tâm, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; tăng cường đoàn kết dân tộc, củng cố quốc phòng và giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng dân tộc thiểu số, miền núi.

Có thể khẳng định rằng, thành tựu to lớn đạt được của Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số, miền núi hiện nay là thành quả của công cuộc đổi mới đất nước, thành quả của hơn 20 năm thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng về phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói, giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số, miền núi; là quá trình thực hiện kiên trì, bền bỉ trong thời gian dài, có tính kế thừa và phát triển về mặt chất lượng, từng bước tích hợp các chính sách giảm nghèo, chuyển từ thực hiện chuẩn nghèo đơn chiều sang chuẩn nghèo đa chiều, tiếp cận chuẩn nghèo quốc tế.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện chính sách, pháp luật về Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số, miền núi còn những hạn chế, bất cập cần được khắc phục. Cụ thể, kết quả giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số, miền núi chưa bền vững, chất lượng giảm nghèo chưa cao: Tỷ lệ hộ dân tộc thiểu số nghèo, cận nghèo, tái nghèo, phát sinh nghèo cao hơn tỷ lệ chung cả nước; thu nhập bình quân đầu người thấp và không đồng đều; các chỉ số thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản còn ở mức cao…

Nguyên nhân dẫn đến các bất cập do chính sách hỗ trợ giảm nghèo thường có mục tiêu lớn nhưng thời gian thực hiện ngắn, định mức hỗ trợ thấp; nguồn lực không đủ, vốn cấp chậm và không đồng bộ, nên việc triển khai thực hiện đạt hiệu quả chưa cao. Sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng và thực hiện chính sách còn hạn chế; sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương trong xây dựng, ban hành, triển khai thực hiện chính sách chưa chặt chẽ, đồng bộ, kịp thời; công tác tổ chức, quản lý các chương trình, dự án giảm nghèo còn chồng chéo…

Theo đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Chính phủ triển khai thực hiện các chính sách đối với vùng dân tộc thiểu số, miền núi đang còn hiệu lực thi hành, trong đó đặc biệt quan tâm tới việc giải quyết các khó khăn trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số rất ít người; bảo đảm mức sống của các dân tộc này tương đương với các dân tộc khác trong vùng theo mục tiêu Đề án đề ra đến năm 2025; thực hiện các giải pháp hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo sinh kế ổn định cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số, miền núi; chú trọng xây dựng đời sống văn hoá, tinh thần; chăm lo giáo dục, y tế, đào tạo nghề, xuất khẩu lao động, giải quyết việc làm, nâng cao năng suất lao động…

Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, đổi mới nội dung tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với công tác giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số, miền núi; khơi dậy truyền thống đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường, nỗ lực vươn lên thoát nghèo; cân đối nguồn lực thực hiện cho từng chương trình, dự án, chính sách cụ thể.

Tiếp Tục Hoàn Thiện Cơ Chế Chính Sách Về Quản Lý, Sử Dụng Tài Sản Công / 2023

Tiếp tục xác định số lượng ô tô phục vụ theo chức danh, ô tô phục vụ công tác chung, ô tô chuyên dùng theo quy định.

Hoàn thiện hệ thống văn bản về công tác quản lý, sử dụng tài sản công

Cục Quản lý công sản (Bộ Tài chính) cho biết, căn cứ Chỉ thị số 32/CT-TTg ngày 10/12/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh triển khai thi hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và các văn bản hướng dẫn, Bộ Tài chính đã ban hành kế hoạch hành động thực hiện; ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định số 63/2019/NĐ-CP ngày 11/7/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; dự trữ quốc gia; Kho bạc Nhà nước.

Bộ Tài chính tiếp tục triển khai dự án nâng cấp cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công, qua đó tổng hợp, quản lý toàn diện các tài sản công; nghiên cứu xây dựng hệ thống giao dịch điện tử về tài sản công, đảm bảo công khai, minh bạch trong quản lý, xử lý tài sản công.

Như vậy, đến nay Bộ Tài chính đã hoàn thành công tác xây dựng các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, trong đó trình ban hành 17 Nghị định, 01 Quyết định và 01 Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và ban hành 09 thông tư theo thẩm quyền.

Trong 6 tháng đầu năm 2020, Bộ Tài chính đã đề nghị các bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế rà soát, xác định số lượng ô tô phục vụ theo chức danh, ô tô phục vụ công tác chung, ô tô chuyên dùng theo quy định; phối hợp sắp xếp lại, xử lý nhà, đất của các cơ quan, đơn vị thuộc trung ương quản lý.

Bên cạnh đó, tiếp tục triển khai dự án nâng cấp cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công, qua đó tổng hợp, quản lý toàn diện các tài sản công; nghiên cứu xây dựng hệ thống giao dịch điện tử về tài sản công, đảm bảo công khai, minh bạch trong quản lý, xử lý tài sản công. Trong đó, đã triển khai một số nhóm nhiệm vụ cụ thể như:

Thứ nhất, đối với công tác sắp xếp lại, xử lý nhà, đất, Cục Quản lý công sản cho biết, để đảm bảo sắp xếp lại, xử lý nhà, đất phục vụ công tác cổ phần hóa, ngày 20/3/2020, Bộ Tài chính đã có Công văn số 3199/BTC-QLCS gửi các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan khác ở Trung ương, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện sắp xếp lại, xử lý cơ sở nhà, đất của các doanh nghiệp trong danh sách cổ phần hóa doanh nghiệp.

Đồng thời phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tổ chức sắp xếp lại, xử lý nhà, đất của các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc trung ương quản lý. Trong 6 tháng đầu năm 2020, Bộ Tài chính đã phê duyệt mới phương án sắp xếp lại, xử lý đối với 287 cơ sở nhà, đất.

Thứ hai, đối với việc quản lý, sử dụng xe ô tô, theo quy định tại Nghị định số 04/2019/NĐ-CP quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô và yêu cầu thực tế phải xử lý xe ô tô trong điều kiện Nghị định đã có hiệu lực thi hành; để kịp thời triển khai thực hiện, Bộ Tài chính đã có văn bản đề nghị các bộ, ngành, địa phương và các Tập đoàn kinh tế do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập chỉ đạo một số nội dung về rà soát, xác định rõ số lượng xe ô tô phục vụ công tác các chức danh; số lượng xe ô tô phục vụ công tác chung của các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý; rà soát, xác định tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô chuyên dùng theo quy định tại Nghị định số 04/2019/NĐ-CP của Chính phủ.

Thứ ba, về việc quản lý, sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng, căn cứ quy định của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi, kết cấu hạ tầng giao thông (hàng hải, hàng không, đường thủy nội địa, đường sắt quốc gia, đường bộ), Bộ Tài chính đang phối hợp với Bộ Giao thông vận tải trong việc xây dựng phương án quản lý, khai thác tài sản công là cơ sở hạ tầng đường sắt quốc gia, hàng không trong thời gian bộ máy của cơ quan nhà nước chưa đáp ứng điều kiện để quản lý các tài sản này; tham gia ý kiến với Bộ Giao thông vận tải về Đề án cho thuê quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông.

Trình Thủ tướng Chính phủ điều chuyển 129 công trình điện được đầu tư bằng vốn nhà nước từ Ủy ban nhân dân tỉnh sang Tập đoàn Điện lực Việt Nam quản lý.

Thứ tư, Bộ Tài chính tiếp tục hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công. Trong đó tập trung triển khai Dự án: “Nâng cấp Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công” nhằm tổng hợp quản lý tất cả các tài sản công được quy định tại Luật; nghiên cứu xây dựng Hệ thống giao dịch điện tử về tài sản công để thực hiện các giao dịch về tài sản (như: bán, chuyển nhượng, cho thuê tài sản, cho thuê quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng, chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng…) đảm bảo công khai, minh bạch trong công tác quản lý, xử lý tài sản công.

Phối hợp với các địa phương trong việc tập trung nguồn thu từ đất trong 6 tháng đầu năm 2020 số thu từ đất lũy kế đến hết ngày 31/05/2020 đạt 65.846 tỷ đồng, trong đó, tiền sử dụng đất: 53.589 tỷ đồng (đạt 55,9 % dự toán năm 2020, góp phần hoàn thành nhiệm vụ thu tài chính ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm 2020.

Tăng cường công tác quản lý, sử dụng tài sản công

Để khắc phục những hạn chế, tồn tại trong thời gian vừa qua về cơ chế, chính sách và triển khai quyết liệt trong việc rà soát, sắp xếp xử lý tài sản công; công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra việc sắp xếp lại, xử lý tài sản công chưa được quan tâm và thực hiện thường xuyên. Theo Cục Quản lý công sản, trong thời gian tới, đơn vị sẽ tiếp tục tham mưu cho Bộ Tài chính báo cáo Chính phủ tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về quản lý, sử dụng tài sản công.

Đồng thời, Bộ Tài chính phối hợp với các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khẩn trương ban hành quy định về phân cấp quản lý tài sản công theo quy định tại Nghị định số 151/2017/NĐ-CP ngày 26/12/2017 của Chính phủ; phân cấp thẩm quyền ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công chuyên dùng theo quy định; phân cấp thẩm quyền quyết định xác lập sở hữu toàn dân về tài sản và phân cấp thẩm quyền phê duyệt phương án xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân theo quy định; rà soát, đánh giá các quy định về phân cấp đã ban hành đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật và tình hình thực tế.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Hoàn Thiện Cơ Chế, Chính Sách Phát Triển Ktxh Vùng Dân Tộc Thiểu Số Và Miền Núi / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!