Đề Xuất 1/2023 # Hiện Tượng “Lẩn Tránh Pháp Luật” Trong Tư Pháp Quốc Tế # Top 3 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 1/2023 # Hiện Tượng “Lẩn Tránh Pháp Luật” Trong Tư Pháp Quốc Tế # Top 3 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Hiện Tượng “Lẩn Tránh Pháp Luật” Trong Tư Pháp Quốc Tế mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1. Khái niệm “lẩn tránh pháp luật”

Tư pháp quốc tế là một bộ phận của pháp luật quốc tế có đối tượng điều chỉnh là các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài. Đặc điểm cơ bản và đặc thù của đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế là luôn xuất hiện yếu tố nước ngoài trong quan hệ pháp luật, chính đặc điểm này của đối tượng điều chỉnh mà tư pháp quốc tế có một phương pháp điều chỉnh đặc biệt: phương pháp xung đột. Phương pháp xung đột được xây dựng trên nền tảng của một hệ thống tổng thể các quy phạm xung đột chứa đựng trong văn bản pháp luật quốc gia (quy phạm xung đột quốc nội) và trong các điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên (quy phạm xung đột quốc tế), là các quy phạm không trực tiếp giải quyết quan hệ pháp luật mà chỉ dẫn chiếu tới luật thực chất của quốc gia mà ở đó có các quy định thực tế phân định quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ. Hệ thống pháp luật được quy phạm xung đột chỉ định áp dụng có thể có lợi, cũng có thể bất lợi cho một trong các bên tham gia quan hệ tranh chấp. Nguyên nhân của hiện tượng này là vì mỗi quốc gia trên thế giới đều có hệ thống quy phạm xung đột riêng của mình. Chính vì vậy, cùng một vụ việc nhưng cách giải quyết ở các quốc gia khác nhau sẽ rất khác nhau. Đây chính là cơ sở làm phát sinh hiện tượng lẩn tránh pháp luật trong tư pháp quốc tế.

Các chủ thể khi tham gia vào quan hệ do tư pháp quốc tế điều chỉnh đều luôn chú trọng đến vấn đề quan hệ đó sẽ được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật thực chất của nước nào, vì đây là yếu tố quan trọng nhất quyết định quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ và như vậy, quyết định đến mức độ lợi ích hoặc mục đích mong muốn đạt được khi tham gia quan hệ của các bên. Tuy nhiên, việc luật thực chất của quốc gia nào sẽ được áp dụng để điều chỉnh quan hệ lại do quy phạm xung đột đã được áp dụng quyết định. Vì vậy, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được điều chỉnh bởi quy phạm xung đột của hệ thống pháp luật nào là vấn đề có ý nghĩa quan trọng.

Khi nhận thấy hệ thống pháp luật thực chất do quy phạm xung đột dẫn chiếu đến có khả năng sẽ gây bất lợi cho mình, một bên trong quan hệ sẽ tìm cách tránh để không phải chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật đó và hướng đến một hệ thống pháp luật khác có lợi hơn trên cơ sở vận dụng các quy phạm xung đột sao cho có lợi nhất. Như vậy, lẩn tránh là hiện tượng đương sự dùng những biện pháp cũng như thủ đoạn để tránh việc áp dụng hệ thống pháp luật đáng lẽ phải được áp dụng điều chỉnh các quan hệ của họ và nhắm tới hệ thống pháp luật khác có lợi hơn. Trong việc lẩn tránh này, quy phạm xung đột đóng vai trò rất quan trọng.

2. Thủ đoạn “lẩn tránh pháp luật”

Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự có yếu tố nước ngoài sẽ sử dụng một số thủ đoạn để áp dụng hệ thống pháp luật có lợi cho mình, tránh áp dụng hệ thống pháp luật lẽ ra phải được áp dụng vì nó bất lợi cho mình. Để áp dụng hệ thống pháp luật có lợi cho mình và tránh áp dụng hệ thống pháp luật bất lợi, chủ thể của quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài có thể áp dụng các thủ đoạn sau:

Loại thủ đoạn thứ nhất, lợi dụng sự khác nhau của các quy phạm xung đột trong hệ thống pháp luật các nước. Các quy phạm xung đột của các nước khác nhau sẽ dẫn đến việc lựa chọn luật thực chất khác nhau khi cùng giải quyết một vấn đề. Nói rộng hơn, đây là thủ đoạn lợi dụng sự khác nhau giữa tư pháp quốc tế các nước.

Ví dụ: Khoản 1 Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 của Việt Nam quy định: “Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam được giải quyết theo quy định của luật này”. Vậy, theo tư pháp quốc tế Việt Nam, pháp luật điều chỉnh ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam được giải quyết theo luật của Việt Nam. Căn cứ để lựa chọn luật thực chất áp dụng ở đây là nơi cư trú của các bên.

Tuy nhiên, tư pháp quốc tế một số nước lại quy định pháp luật điều chỉnh ly hôn có yếu tố nước ngoài là luật của nước mà người chồng có quốc tịch vào thời điểm ly hôn, nghĩa là áp dụng căn cứ Luật Quốc tịch của đương sự. Giả sử anh A là công dân của nước X mà ở đó tư pháp quốc tế quy định pháp luật thực chất điều chỉnh ly hôn có yếu tố nước ngoài là luật thực chất của nước mà người chồng có quốc tịch vào thời điểm ly hôn. Vợ chồng anh A và chị B, trong đó anh A là công dân nước X, chị B là công dân của nước Y, cả hai đang thường trú tại Việt Nam, có tài sản ở Việt Nam. Do mâu thuẫn, họ quyết định ly hôn. Theo quy định của tư pháp quốc tế Việt Nam, vụ việc phải do pháp luật thực chất của Việt Nam giải quyết. Nhưng khi tìm hiểu pháp luật Việt Nam, A nhận thấy mình bị bất lợi hơn trong vấn đề phân chia tài sản nếu ly hôn ở Việt Nam so với ly hôn ở nước X. Vì vậy, A rời Việt Nam trở về nước X rồi nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án nước X, vụ việc được giải quyết theo pháp luật của nước X (pháp luật của nước người chồng mang quốc tịch). Sau khi có bản án, A xin công nhận và thi hành tại Việt Nam.

Đây là thủ đoạn lẩn tránh pháp luật dựa vào sự khác nhau của quy phạm xung đột của pháp luật nước X và quy phạm xung đột của pháp luật Việt Nam trong vấn đề ly hôn, dẫn đến pháp luật thực chất của nước X được áp dụng thay vì pháp luật được áp dụng là pháp luật thực chất của Việt Nam.

Loại thủ đoạn thứ hai, lợi dụng sự khác nhau trong quy phạm xung đột của chính nước có quy phạm xung đột được áp dụng để chọn luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Hệ thống tư pháp quốc tế Việt Nam chứa đựng một số quy phạm xung đột cho phép pháp luật Việt Nam hay pháp luật nước ngoài điều chỉnh quan hệ có yếu tố nước ngoài. Chủ thể của quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài có thể sử dụng một số thủ đoạn để áp dụng pháp luật nước ngoài có lợi cho mình và tránh áp dụng pháp luật của nước bất lợi cho mình (kể cả luật của Việt Nam) mà không cần sử dụng hệ thống tư pháp quốc tế nước ngoài. Họ có thể sử dụng quy phạm xung đột của hệ thống tư pháp quốc tế Việt Nam để tránh áp dụng pháp luật mà hệ thống tư pháp quốc tế Việt Nam chỉ định để điều chỉnh vì pháp luật được chỉ định bất lợi cho họ. Ví dụ:

3. Quan điểm của tư pháp quốc tế các nước về hiện tượng “lẩn tránh pháp luật”

Hầu hết các nước trên thế giới đều xem đây là hiện tượng không bình thường và đều hạn chế hoặc ngăn cấm. Biện pháp để ngăn cấm, hạn chế ở các nước cũng khác nhau.

Thực tiễn tư pháp ở Pháp cho thấy, Tòa án không chấp nhận việc “lẩn tránh pháp luật” của Pháp và ở Pháp đã hình thành nguyên tắc pháp luật là mọi hành vi, mọi hợp đồng ký kết mà “lẩn tránh pháp luật” đều bị coi là bất hợp pháp.

Ở Anh – Mỹ, nếu các hợp đồng giữa các bên ký kết mà “lẩn tránh pháp luật” của các nước này, sẽ bị Tòa án hủy bỏ.

Ở Nga, Điều 48 BLDS Cộng hòa liên bang Nga quy định: “Các hợp đồng ký kết nhằm lẩn tránh pháp luật bị coi là vô hiệu”.

Điều 21 BLDS Bồ Đào Nha quy định: “Trong quá trình áp dụng quy phạm xung đột pháp luật, coi như không có giá trị pháp lý những hoàn cảnh pháp lý được thiết lập với mục đích tránh áp dụng pháp luật thông thường được chỉ định để điều chỉnh”.

Điểm b Điều 8 Luật Rumani ngày 22/9/1992 về quan hệ có yếu tố nước ngoài, “áp dụng pháp luật nước ngoài bị gạt bỏ khi nó được chỉ dẫn do lẩn tránh pháp luật. Khi pháp luật nước ngoài bị gạt bỏ, pháp luật Rumani được áp dụng”.

Ở nước ta, hiện tượng “lẩn tránh pháp luật” trong tư pháp quốc tế hầu như chưa có, nhưng trong các văn bản pháp luật đã ban hành từng có những quy định cấm các trường hợp lẩn tránh. Ví dụ: Theo Khoản 4 Điều 6 Pháp lệnh về Hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài năm 1993, thì “Việc kết hôn của công dân Việt Nam với người nước ngoài được tiến hành ở nước ngoài và tuân theo pháp luật nước đó về nghi thức kết hôn thì được công nhận tại Việt Nam, trừ trường hợp việc kết hôn đó có ý định rõ ràng là để lẩn tránh các quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn và cấm kết hôn”. Phân tích quy định này chúng ta thấy, Nhà nước Việt Nam thừa nhận giá trị pháp lý của việc kết hôn tiến hành ở nước ngoài, nếu như việc kết hôn đó tiến hành đúng theo các quy định của pháp luật, không lẩn tránh pháp luật Việt Nam để hướng đến một hệ thống pháp luật khác có lợi hơn. Như vậy, pháp luật Việt Nam cũng đã thể hiện rõ quan điểm không chấp nhận hiện tượng lẩn tránh pháp luật.

Tuy nhiên, quy định này chỉ giới hạn ở lĩnh vực kết hôn có yếu tố nước ngoài. Thêm vào đó, nó cũng chưa nói rõ hậu quả của việc “lẩn tránh” sẽ như thế nào và việc xử lý sẽ tiến hành theo pháp luật nước nào. Đến nay, điều khoản cũng không còn hiệu lực (Pháp lệnh này đã bị thay thế bởi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, có hiệu lực từ ngày 01/01/2001). Vì vậy, có thể kết luận đến thời điểm này, chúng ta chưa có một cơ sở pháp lý chung để xử lý hiện tượng “lẩn tránh pháp luật” trong quan hệ có yếu tố nước ngoài.

4. Hoàn thiện pháp luật để khắc phục hiện tượng “lẩn tránh pháp luật” trong tư pháp quốc tế Việt Nam

“Lẩn tránh pháp luật” là một hiện tượng không lành mạnh trong đời sống pháp lý quốc tế. Việc “lẩn tránh pháp luật” dẫn đến những quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài diễn ra một cách “bất thường”, hoạt động áp dụng pháp luật quốc tế sẽ không diễn ra theo đúng trật tự vốn có của nó, bởi đối tượng trong quan hệ cố gắng hướng đến một hệ thống pháp luật có lợi cho mình tất yếu sẽ ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của chủ thể khác mà lẽ ra, nó đã được bảo vệ nếu áp dụng hệ thống pháp luật được quy phạm xung đột dẫn chiếu tới. Lợi ích hợp pháp bị xâm phạm này đôi khi là lợi ích của quốc gia. Nếu “lẩn tránh pháp luật” không được ngăn chặn và có giải pháp xử lý đúng đắn thì mối quan hệ hợp tác kinh tế – thương mại giữa các quốc gia có thể xảy ra những bất đồng, tổn thương. Đặc biệt là đối với Việt Nam, một nền kinh tế đang từng bước hội nhập vào hoạt động kinh tế chung của toàn cầu, cơ sở pháp lý cho sự vận hành của nền kinh tế thị trường đang trong giai đoạn hoàn thiện, nền kinh tế rất dễ bị tác động bởi những hiện tượng bất thường của đời sống pháp lý quốc tế, thì vấn đề này càng phải được quan tâm ngăn chặn. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật Việt Nam chưa điều chỉnh hiện tượng “lẩn tránh pháp luật”, đặc biệt là trong những văn bản pháp luật có vị trí pháp lý cao điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài như BLDS, Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS)… Chính vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật để xử lý hiện tượng “lẩn tránh pháp luật” là rất cần thiết.

Chúng tôi cho rằng, các quy định của pháp luật Việt Nam về “lẩn tránh pháp luật” trong tư pháp quốc tế phải đảm bảo:

– BLTTDS là đạo luật quan trọng nhất của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, chứa đựng những quy định mang tính chất nguyên tắc có hiệu lực áp dụng chung cho tất cả các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực tố tụng dân sự, kể cả tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài, mà xử lý hiện tượng “lẩn tránh pháp luật” không phải là luật nội dung của tư pháp quốc tế Việt Nam. Vì vậy, việc đưa các quy định xử lý “lẩn tránh pháp luật” vào BLTTDS sẽ đảm bảo hiệu lực pháp lý cao nhất của quy phạm pháp luật cũng như trao cho các quy định này hiệu lực chung để áp dụng trong thực tiễn đối với mọi loại quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.

– Việc tập trung trong một đạo luật sẽ góp phần nâng cao tính đồng bộ và thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay. Nếu vấn đề này được quy định trong nhiều văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý khác nhau sẽ dẫn đến tình trạng tản mát, chồng chéo, mâu thuẫn của hệ thống pháp luật. Tình trạng này đã xảy ra đối với pháp luật nội dung của tư pháp quốc tế Việt Nam (quy phạm pháp luật giải quyết xung đột pháp luật, ngoài BLDS còn được điều chỉnh trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau). Chính vì vậy, các quy định của luật hình thức cần rút kinh nghiệm tránh mắc phải khuyết điểm này. Hơn nữa, quy định về luật hình thức thường đòi hỏi tính đồng bộ, thống nhất cao mới có thể áp dụng trên thực tế.

– Bên cạnh đó, việc ghi nhận các quy định về “lẩn tránh pháp luật” vào BLTTDS sẽ nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bởi cơ quan có thẩm quyền xử lý hiện tượng này (thường là Tòa án) cũng như những người có thẩm quyền áp dụng pháp luật sẽ nhanh chóng tìm thấy quy định cần thiết mà không cần phải tốn thêm thời gian đối chiếu, kiểm tra, xem xét các văn bản pháp luật khác. Điều này càng có ý nghĩa quan trọng hơn khi thực tế tại Việt Nam, trình độ chuyên môn cũng như kinh nghiệm thực tiễn của đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan thực thi pháp luật còn hạn chế, đặc biệt là trong lĩnh vực quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.

Thứ hai, khi hiện tượng “lẩn tránh pháp luật” đã xảy ra trên thực tế thì phải xử lý nhanh chóng, kịp thời và chính xác nhằm khôi phục lại trật tự pháp lý quốc tế. Chúng tôi cho rằng, các nguyên tắc xử lý hiện tượng “lẩn tránh pháp luật” trong BLTTDS cần bao gồm các nội dung sau:

– Nếu một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được áp dụng pháp luật mà việc áp dụng đó là kết quả thu được từ việc “lẩn tránh pháp luật” thì kết quả của quan hệ này (được thể hiện trong bản án, quyết định của Tòa án, quyết định của Trọng tài nước ngoài) sẽ không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam. Ngược lại, nếu việc áp dụng pháp luật Việt Nam là kết quả của lẩn tránh thì kết quả đó cũng không được công nhận và cho thi hành tại quốc gia có hệ thống pháp luật lẽ ra phải áp dụng, dù nội dung vụ việc có quan hệ chặt chẽ với Việt Nam.

– Nếu pháp luật lẽ ra phải được áp dụng là pháp luật Việt Nam nhưng đã không được áp dụng do “lẩn tránh pháp luật” thì sau khi tuyên bố không công nhận và cho thi hành tại Việt Nam kết quả của quan hệ đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cần xác định rõ luật áp dụng để giải quyết quan hệ là pháp luật Việt Nam. Điều này nhằm khôi phục lại trật tự pháp lý đã bị thay đổi do hiện tượng “lẩn tránh pháp luật” trước đó gây ra.

– Nếu một nước công nhận kết quả của một quan hệ dân sự đã “lẩn tránh pháp luật” Việt Nam và đã áp dụng pháp luật nước đó thì Việt Nam có quyền áp dụng nguyên tắc có đi có lại, công nhận một quan hệ dân sự đã “lẩn tránh pháp luật” nước đó để áp dụng pháp luật Việt Nam. Trên thực tế, pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới cũng áp dụng nguyên tắc này. Điều đó sẽ đảm bảo nguyên tắc có đi có lại và bình đẳng trong việc áp dụng pháp luật nước ngoài điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, một trong những yêu cầu cơ bản của đời sống pháp lý quốc tế.

Thứ ba, BLTTDS nên quy định cơ quan có thẩm quyền xử lý hiện tượng “lẩn tránh pháp luật” là Tòa án Việt Nam, bởi lẽ:

– Tòa án là thiết chế truyền thống trong bộ máy nhà nước được trao cho chức năng giải quyết các tranh chấp trong xã hội. Việt Nam đang phấn đấu xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà ở đó pháp luật đứng ở vị trí cao nhất điều chỉnh các quan hệ xã hội. Trong mô hình nhà nước pháp quyền, Tòa án luôn ở vị trí trung tâm để đảm bảo cho pháp luật được thực thi một cách nghiêm minh. 

– Quan hệ dân sự nói chung và quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói riêng về bản chất là những quan hệ tư. Ở đó, yếu tố bình đẳng là yêu cầu cơ bản chi phối tất cả các quan hệ, các bên chủ thể tham gia quan hệ bình đẳng với nhau và nguyên tắc tự nguyện, tự do thỏa thuận được quán triệt trong suốt quá trình hình thành, phát triển và kết thúc của quan hệ. Chính vì vậy, nếu giao cho bất cứ một cơ quan nào nằm trong hệ thống cơ quan quản lý hành chính nhà nước xử lý các mối quan hệ này đều không đảm bảo được nguyên tắc khách quan và bình đẳng. Trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì nguyên tắc bình đẳng càng cần phải được tôn trọng và đặt lên hàng đầu mới đảm bảo được uy tín của hệ thống pháp luật Việt Nam, tạo dựng niềm tin với các chủ thể nước ngoài, góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Thứ năm, chủ thể có quyền và nghĩa vụ yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận một quan hệ là kết quả của hiện tượng “lẩn tránh pháp luật”. “Lẩn tránh pháp luật” nếu đã xảy ra trên thực tế sẽ có nguy cơ gây thiệt hại cho lợi ích của hai nhóm chủ thể: thứ nhất là Nhà nước có hệ thống pháp luật lẽ ra đã phải được áp dụng. Đây là nhóm lợi ích chung thuộc về trật tự xã hội hơn là lợi ích cá nhân; thứ hai là những chủ thể trong quan hệ dân sự đó có lợi ích đã bị thiệt hại do phải chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật lẽ ra không được áp dụng. Đây là nhóm lợi ích trực tiếp bị xâm hại bởi hiện tượng “lẩn tránh pháp luật”. Xuất phát từ cơ sở này, theo  chúng tôi, BLTTDS cần quy định có hai nhóm chủ thể có quyền và nghĩa vụ yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận một quan hệ là kết quả của hiện tượng “lẩn tránh pháp luật”:

– Nhóm chủ thể có quyền: những chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật và có lợi ích trực tiếp bị xâm hại bởi việc “lẩn tránh pháp luật”. Nhóm chủ thể này có quyền nộp đơn ra trước Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam trong trường hợp họ nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình đã bị xâm hại. Và, đương nhiên, vì là quyền nên họ có quyền lựa chọn giữa khả năng nộp đơn hoặc không nộp đơn để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình.

Thứ sáu, xây dựng cơ chế đảm bảo thực hiện: bên cạnh những quy định cụ thể điều chỉnh nội dung của việc xử lý các quan hệ dân sự có hiện tượng “lẩn tránh pháp luật”, BLTTDS còn phải có những quy định về cơ chế kiểm tra, giám sát để đảm bảo được rằng, khi hiện tượng “lẩn tránh pháp luật” xảy ra, nó sẽ được ngăn chặn kịp thời hoặc kết quả của nó sẽ nhanh chóng được xử lý, tránh phát sinh hậu quả xấu trên thực tế. Vai trò này thuộc về các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền như là một nội dung hoạt động cụ thể trong chức năng quản lý nhà nước.

Xung Đột Pháp Luật Là Hiện Tượng Đặc Thù Của Tư Pháp Quốc Tế

Xung đột pháp luật là hiện tượng đặc thù của tư pháp quốc tế. Xung đột pháp luật là hiện tượng pháp lý trong đó hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia vào điều chỉnh một quan hệ tư pháp quốc tế.

1. Xung đột pháp luật là hiện tượng đặc thù của tư pháp quốc tế

Mỗi nước có các điều kiện khác nhau về chính trị, kinh tế – xã hội phong tục tập quán, truyền thống lịch sử… Ví dụ: Một nam công dân Việt Nam muốn kết hôn với một nu công dân Anh. Lúc này, những vấn đề cần giải quyết là luật pháp nước nào sẽ điều chỉnh quan hệ hôn nhân này hay nói chính xác hơn là họ sẽ tiến hành các thủ tục kết hôn theo luật nước nào. Câu trả lời là hoặc luật của Anh hoặc luật của Việt Nam. Giả sử, hai công dân này đều thỏa mãn các điều kiện về kết hôn của pháp luật Anh và Việt Nam, lúc đó, vấn đề chọn luật nước nào không còn quan trọng.

Bởi vì, luật nào thì họ cũng được phép kết hôn. Nhưng, nếu nam công dân Việt Nam mới chỉ 19 tuổi, nu công dân Anh 17 tuổi thì theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam, cả hai đều chưa đủ độ tuổi kết hôn (Điều 9, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định độ tuổi kết hôn với nam – đủ 20 tuổi trở lên, nữ – đủ 18 tuổi trở lên). Trong khi đó, luật hôn nhân của Anh thì quy định độ tuổi được phép kết hôn đối với nam và nữ là 16 tuổi. Như vậy, đều về độ tuổi được phép kết hôn nhưng pháp luật của cả hai quốc gia đều hiểu không giống nhau. Đấy chính là xung đột pháp luật.

Trong các ngành luật khác, khi quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của chúng phát sinh, không có hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng tham gia vào việc điều chỉnh cùng một quan hệ xã hội ấy, và cũng không có sự lựa chọn luật để áp dụng vì các quy phạp pháp luật của các ngành luật này mang tính tuyệt đối về mặt lãnh thổ.

Chỉ khi các quan hệ tư pháp quốc tế xảy ra thì mới có hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng tham gia điều chỉnh quan hệ đó và làm nảy sinh yêu cầu về chọn luật áp dụng nếu trong trường hợp không có quy phạm thực chất thống nhất.

Xung đột pháp luật là hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh. Xung đột pháp luật là một nhánh của tư pháp quốc tế điều chỉnh mọi vụ việc pháp lý có sự tham gia của yếu tố “nước ngoài”, trong đó các khác biệt về kết quả sẽ xảy ra, phụ thuộc vào việc hệ thống luật pháp nào được áp dụng. Là việc cùng một sự kiện pháp luật như nhau nhưng các nơi khác nhau lại có các quy định khác nhau để hướng dẫn cách xử sự của pháp luật.

Khi xung đột pháp luật thì các vấn đề bất đồng về thẩm quyền thẩm phán, phân định cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp, chọn luật áp dụng được đặt ra. Quá trình lựa chọn này phụ thuộc, chi phối bởi nhiều yếu tố chủ quan, như nhận thức của thẩm phán, bản thân cơ quan tài phán, của đương sự do đã nhìn trước được hệ quả của hệ thống luật sẽ được áp dụng.

2. Xung đột pháp luật là hiện tượng phổ biến trong kinh doanh quốc tế

Một trong những vấn đề pháp lý mà các nhà kinh doanh quốc tế hiện nay thường gặp phải, đó là hiện tượng xung đột pháp luật. Xung đột pháp luật xuất hiện do nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chính là môi trường kinh doanh, thị trường thương mại ngày càng phát triển về cả chiều rộng và chiều sâu, trong khi đó các doanh nghiệp kinh doanh lại chịu ảnh hưởng của nhiều hệ thống pháp luật khác nhau. Xung đột pháp luật có thể gây nhiều khó khăn, cản trở, thậm chí là dẫn đến tình trạng không thể hiểu biết lẫn nhau và thất bại trong kinh doanh.

Về bản chất, pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị được đề lên thành luật, ý chí đó do những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội quyết định nên khi trên thế giới còn tồn tại những quốc gia với các chế độ chính trị, xã hội khác nhau, với trình độ phát triển kinh tế khác nhau thì hệ quả tất yếu là pháp luật các quốc gia cũng khác nhau. Hơn nữa, sự ảnh hưởng của các tự tưởng đạo đức, văn hóa, phong tục tập quán, truyền thống lịch sử giữa các quốc gia cũng đã tạo nên sự khác biệt trong tư duy của các nhà lập pháp ở mỗi quốc gia.

Sự khác biệt giữa các hệ thống pháp luật cũng đồng nghĩa với việc, về cùng một vấn đề pháp lý phát sinh giữa các công dân và pháp nhân của các quốc gia khác nhau, mỗi hệ thống pháp luật có các quan niệm và cách giải quyết về mặt luật nội dung cũng như luật hình thức không giống nhau, dẫn tới các hệ quả pháp lý khác nhau, thậm chí trái ngược nhau và làm phát sinh một hiện tượng mà trong tư pháp quốc tế gọi là hiện tượng “xung đột pháp luật”.

Xung đột pháp luật là hiện tượng phổ biến trong tư pháp quốc tế nói chung và trong kinh doanh quốc tế nói riêng. Theo cách hiểu chung nhất, xung đột pháp luật là hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng có thể áp dụng để điều chỉnh một quan hệ có yếu tố nước ngoài và các hệ thống này có các quy định không giống nhau về vấn đề cần điều chỉnh. Như vậy, có thể hiểu, xung đột pháp luật trong kinh doanh quốc tế là hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng có thể áp dụng để điều chỉnh một mối quan hệ kinh doanh quốc tế cụ thể và các hệ thống này có các quy định không giống nhau về các vấn đề cần điều chỉnh.

Để tránh được những xung đột, rủi ro pháp lý trong kinh doanh quốc tế, các nhà kinh doanh quốc tế cần nắm được xung đột pháp luật thường xảy ra trong những vấn đề nào và cách giải quyết xung đột pháp luật tương ứng cho từng vấn đề đó là như thế nào.

3. Các biểu hiện của xung đột pháp luật trong kinh doanh quốc tế

3.1. Xung đột pháp luật về địa vị pháp lý của các chủ thể trong kinh doanh quốc tế

Xung đột pháp luật về địa vị pháp lý của các chủ thể là một trong những mặt biểu hiện cơ bản của xung đột pháp luật trong kinh doanh quốc tế nói riêng. Khi tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề xung đột pháp luật về địa vị pháp lý của các chủ thể trong kinh doanh quốc tế, chúng ta cần xác định rõ chủ thể trong kinh doanh quốc tế bao gồm những người cụ thể nào. Trước hết, chủ thể trong kinh doanh quốc tế được hiểu là người tham gia vào các quan hệ kinh doanh quốc tế, thực hiện các hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lời.

Theo quy định của pháp luật thương mại các quốc gia trên thế giới nói chung, các chủ thể đó được gọi là thương nhân. Thương nhân có thể là cá nhân hay tổ chức thỏa mãn đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định để tiến hành hoạt động kinh doanh, thương mại nói chung và kinh doanh quốc tế nói riêng.

Đối với thương nhân là cá nhân, các xung đột pháp luật thường biểu hiệu ở các mặt sau:

– Xung đột pháp luật về năng lực pháp lý và năng lực hành vi của cá nhân.

– Xung đột pháp luật về điều kiện nghề nghiệp để một cá nhân trở thành thương nhân.

– Xung đột pháp luật về nghĩa vụ đăng ký kinh doanh của thương nhân.

b. Đối với thương nhân là pháp nhân:

Thương nhân là pháp nhân tham gia vào hoạt động kinh doanh gồm các loại hình công ty, doanh nghiệp, tập đoàn, hãng,… Trên thực tế khi các pháp nhân tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế thì vấn đề xung đột pháp luật thường nảy sinh, cụ thể trong trường hợp xác định quốc tịch của pháp nhân và xác định địa vị pháp lý của pháp nhân.

– Xung đột pháp luật về địa vị pháp lý của pháp nhân.

3.2. Xung đột pháp luật về hợp đồng kinh doanh quốc tế

Khi thực hiện hoạt động kinh doanh quốc tế, các chủ thể tiến hành ký kết nhiều loại hợp đồng thương mại khác nhau như hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng cung ứng dịch vụ (hợp đồng chuyên chở hàng hóa quốc tế, hợp đồng bảo hiểm hàng hóa quốc tế,…), hợp đồng li xăng, hợp đồng chuyển giao công nghệ quốc tế, hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài… Các hợp đồng này đều là những hợp đồng có yếu tố nước ngoài, do đó khi chúng có thể được điều chỉnh bởi pháp luật của nhiều quốc gia khác nhau: pháp luật quốc gia của các chủ thể hợp đồng, pháp luật của nước nơi ký kết hợp đồng, nơi thực hiện hợp đồng, nơi nảy sinh tranh chấp, nơi có tài sản là đối tượng của hợp đồng…

Các Phương Pháp Giải Quyết Xung Đột Pháp Luật Trong Tư Pháp Quốc Tế

Xung đột pháp luật là hiện tượng pháp lý trong đó hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia vào điều chỉnh một quan hệ tư pháp quốc tế mà nội dung điều chỉnh trong mỗi hệ thống pháp luật sự khác nhau.

1. Lý luận chung về phương pháp giải quyết xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế

Mặc dù phương pháp xung đột có những hạn chế nhất định nhưng có thể nói phương pháp xung đột là phương pháp điều chỉnh chủ yếu của tư pháp quốc tế vì cả lý luận và thực tiễn đã chứng minh việc xây dựng quy phạm xung đột, kể cả quy phạm xung đột thống nhất trong các điều ước quốc tế là dễ dàng hơn việc xây dựng các quy phạm thực chất. Do đặc thù của tư pháp quốc tế là điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước vì thế trong tư pháp quốc tế cũng có những phương pháp đặc thù để điều chỉnh các quan hệ này. Chỉ có hai phương pháp là phương pháp thực chất và phương pháp xung đột được sử dụng để điều chỉnh trong Tư pháp quốc tế.

Phương pháp xung đột được xem là phương pháp chủ yếu và quan trọng nhất trong Tư pháp quốc tế vì xuất phát từ lý do về các điều kiện về lịch sử, dân tộc, trình độ phát triển và lợi ích… của các quốc gia còn có sự khác biệt thậm chí là khác xa nhau, vì vậy việc nhất thể hóa các quy phạm thực chất sẽ rất khó khăn nhưng thống nhất hóa các quy phạm xung đột thì lại dễ dàng hơn từ đó ta giải quyết các xung đột pháp luật một cách hữu hiệu và thực tế.

2. Phương pháp dùng quy phạm xung đột

Phương pháp dùng quy phạm xung đột bắt nguồn từ các công trình nghiên cứu của Friedrich Carl von Savigny, một nhà luật gia người Đức rất nổi tiếng và có ảnh hưởng lớn vào thế kỷ 18 trong giới luật gia với học thuyết “Luật của trái chủ”. Sau đó phương pháp này được sử dụng phổ biến để giải quyết xung đột trong tư pháp quốc tế và còn được gọi là “Luật xung đột” (Conflitct of laws) tại các nước theo hệ thống luật Anh – Mỹ. Phương pháp này được áp dụng chủ yếu và rộng rãi như một công cụ để thiết lập và bảo đảm trật tự pháp lý trong các quan hệ do tư pháp quốc tế điều chỉnh. Hiện nay phương pháp dùng quy phạm xung đột được sử dụng cả trong hệ thống Common Law hay hệ thống Civil Law.

Trước hết cần phải hiểu khái niệm về quy phạm xung đột. Quy phạm xung đột là quy phạm chỉ ra hệ thống pháp luật nào trong đó các hệ thống pháp luật đang xung đột được áp dụng để giải quyết quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài trong từng trường hợp cụ thể.

Khác với các quy phạm pháp luật thông thường nói chung được cấu thành bởi ba bộ phận là giả định, quy định và chế tài, quy phạm xung đột về cơ cấu chỉ bao gồm hai bộ phận là phạm vi và lệ thuộc. Đây là hai bộ phận không thể thiếu trong mỗi quy phạm xung đột. Phần phạm vi là phần quy định mối quan hệ cụ thể nào chịu sự điều chỉnh của quy phạm xung đột. Phần hệ thuộc là phần quy định rõ luật nước nào sẽ được áp dụng để giải quyết xung đột trong mối quan hệ đã được nêu tại phần phạm vi.

3. Phương pháp thống nhất luật thực chất

Quy phạm pháp luật thực chất hay còn gọi là quy phạm thực chất là những quy phạm trực tiếp giải quyết các quan hệ pháp luật mang tính quốc tế, trực tiếp quy định quyền và nghĩa vụ cụ thể đối với các chủ thể tham gia các quan hệ này.

Thống nhất luật thực chất là việc các nước cùng nhau thỏa thuận xây dựng các quy phạm thực chất để điều chỉnh các quan hệ kinh doanh quốc tế. Thống nhất luật thực chất được tiến hành bằng cách ký kết các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương có hiệu lực đối với các nước thành viên.

Từ những thập kỷ 20 của thế kỷ XX đã xuất hiện rất nhiều điều ước thương mại quốc tế chứa đựng các quy phạm thực chất thống nhất ký kết và thực hiện như một xu hướng phát triển kinh tế tất yếu của thể giới. Một số điều ước quốc tế trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế như Công ước La Haye năm 1964 về mua bán quốc tế các động sản hữu hình, Công ước của Liên hợp quốc tế về quốc tế (Công ước viên năm 1980).

Trước đây, Việt Nam có tham gia vào một điều ước quốc tế đa phương thống nhất luật thực chất về hợp đồng, đó là Điều kiện giao hàng chung được thông qua năm 1958 trong Khuôn khổ Hội đồng tương trợ kinh tế giữa các nước xã hội chủ nghĩa vào thời kỳ bấy giờ (khối SEV). Điều kiện giao hàng chung này được áp dụng một cách bắt buộc và tự động cho tất cả các hợp đồng mua bán giữa các doanh nghiệp thuộc các quốc gia của SEV. Nội dung của Điều kiện giao hàng chung là các quy phạm thực chất thống nhất, điều chỉnh các vấn đề về hợp đồng mua bán như thành lập hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên, vi phạm hợp đồng, các chế tài, bất khả kháng,… Khi Hội đồng tương trợ kinh tế tan rã vào năm 1991, Điều kiện giao hàng chung này cũng chấm dứt hiệu lực.

Phương pháp được xây dựng trên cơ sở hệ thống các quy phạm thực chất trực tiếp giải quyết các quan hệ dân sự quốc tế, điều này có ý nghĩa là nó trực tiếp phân định quyền và nghĩa vụ rõ ràng giữa các bên tham gia. Các quy phạm thực chất thống nhất trong các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế.

– Các quy phạm thực chất thống nhất hiện nay chủ yếu có trong điều ước quốc tế về các lĩnh vực thương mại, hằng hải quốc gia hoặc các lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp: Công ước Becnơ 1886 về bảo vệ quyền tác giả; Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hoá quốc tế.

– Các quy phạm thực chất trong luật của quốc gia ( luật quốc nội): quy phạm thực chất được quy định trong luật đầu tư, luật về chuyển giao công nghệ…

Ngoài ra trong trường hợp khi tư pháp quốc tế xảy ra không có quy phạm thực chất và quy phạm xung đột, vấn đề điều chỉnh quan hệ này được thực hiện dựa trên nguyên tắc luật điều chỉnh các quan hệ xã hội. Theo quan điểm chung hiện nay, trong trường hợp quan hệ tư pháp quốc tế xảy ra mà không có quy phạm thực chất thống nhất cũng như quy phạm xung đột nếu các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ đó phát sinh trên cơ sở pháp luật nước nào thì áp dụng pháp luật nước đó trừ khi hậu quả của việc áp dụng đó trái với những nguyên tắc kể trên.

Tuy các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia phát triển, đã rất nỗ lực trong việc xây dựng các quy phạm thực chất thống nhất, nhưng nhìn chung, việc này thường khó khăn. Mặc dù có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng các quy phạm thực chất thống nhất có hiệu lực áp dụng trên phạm vi quốc tế, nhưng phương pháp giải quyết xung đột pháp luật bằng cách sử dụng quy phạm xung đột vẫn là phương pháp được áp dụng phổ biến.

Quyền Miễn Trừ Quốc Gia Trong Tư Pháp Quốc Tế Việt Nam ? Vấn Đề Cải Cách Tư Pháp

Bài viết giới thiệu tóm tắt các chức năng của Bộ Tư pháp Liên bang Thuỵ Sỹ trong lĩnh vực nêu trên, hy vọng sẽ đóng góp phần nào cho việc nghiên cứu, tăng cường chức năng của Bộ Tư pháp Việt Nam trong công tác hợp tác pháp luật, tư pháp nói chung và công tác ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp nói riêng.

Bộ Tư pháp và Cảnh sát Liên bang Thuỵ Sỹ (Federal Department of Justice and Police- FDJP) có rất nhiều chức năng khác nhau. Bộ xử lý các vấn đề chính trị-xã hội, như cùng chung sống hoà bình giữa công dân Thuỵ Sỹ và công dân nước ngoài, cư trú chính trị, an ninh trong nước và phòng chống tội phạm. Đối với FDJP thì các vấn đề về hôn nhân và quốc tịch cũng quan trọng như các vấn đề về quản trị công ty, giám sát hoạt động cờ bạc hay soạn thảo các luật và văn kiện về tương trợ tư pháp quốc tế và hợp tác cảnh sát.

Bộ có bốn văn phòng Liên bang:Văn phòng Tư pháp Liên bang, Văn phòng Cảnh sát Liên bang, Văn phòng di cư Liên bang và Văn phòng đo lường Liên bang.

Văn phòng Tư pháp Liên bang cũng tư vấn cho các cơ quan khác của Chính quyền Liên bang về tất cả các vấn đề lập pháp.

Phòng Pháp luật châu Âu và Nhân quyền quốc tế có những nhiệm vụ chính sau đây: một mặt, Phòng soạn thảo và trình các báo cáo định kỳ của Thuỵ Sỹ cho Uỷ ban LHQ về Công ước về các quyền dân sự và chính trị và mặt khác giúp người đứng đầu các cơ quan khác trong việc soạn thảo và trình các báo cáo về việc thực hiện các công ước quốc tế khác về nhân quyền. Phòng này tham gia vào công việc của các uỷ ban chuyên môn trong các tổ chức quốc tế về nhân quyền và hợp tác pháp luật, đặc biệt là các uỷ ban của Hội đồng châu Âu và chuẩn bị cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp Thuỵ Sỹ tham dự các hội nghị Bộ trưởng Tư pháp châu Âu. Trưởng Phòng đại diện cho Chính phủ Thuỵ Sỹ (với tư cách là người đại diện của Chính phủ Thuỵ Sỹ) tại Toà án Nhân quyền châu Âu (ECHR) và tại Uỷ ban chống tra tấn của LHQ (CAT).

Cuối cùng, Phòng Pháp luật châu Âu và Nhân quyền quốc tế hỗ trợ đại diện được uỷ quyền tại Bộ Tư pháp và Cảnh sát Liên bang (FDJP) trong việc tiếp tục phát triển Công ước Schengen/Dublin.

Khuôn khổ về điều ước đang được mở rộng trên toàn thế giới. Ngoài các nước châu Âu lục địa, Thuỵ Sỹ đang đàm phán với các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh-Mỹ (như Hoa Kỳ, Canada, Úc), các nước Nam Phi (như Peru và Ecuador), châu Á (như Hồng Kông và Philippines) và châu Phi (như Ai Cập và Ma-rốc). Danh sách các nước ưu tiên đàm phán, ký kết đã được chuẩn bị nhằm giúp xác định nước nào cần phải tiến hành đàm phán trong tương lai.

Ngoài điều ước quốc tế, còn có các công cụ khác dưới luật quốc tế có thể sử dụng, như trao đổi công hàm hoặc thư từ và các bản ghi nhớ chính trị. Những công cụ này được thực hiện ở tầm chính phủ và không cần phải có sự phê chuẩn của Nghị viện Thuỵ Sỹ. Chúng ngày càng được ưu tiên lựa chọn, đặc biệt là trong quan hệ với những nước chưa sẵn sàng tiến hành đàm phán chính thức. Các công cụ kể trên thường là giai đoạn khởi đầu cho một điều ước và bởi vậy đó là sự thể hiện mong muốn mở rộng hợp tác.

Cơ sở pháp lý cho tương trợ tư pháp về hình sự là Luật Liên bang ngày 20/03/1981 về Tương trợ tư pháp hình sự quốc tế (IMAC) và Pháp lệnh ngày 24/02/1982 về Tương trợ tư pháp hình sự quốc tế (O-IMAC).

Các điều ước đa phương được xây dựng, đàm phán theo sáng kiến của nhiều tổ chức quốc tế khác nhau, thường bằng một nghị quyết của Đại hội đồng LHQ hoặc bằng một đề nghị gửi cho Hội đồng châu Âu. Dự thảo điều ước được đưa ra bởi chính tổ chức đó hoặc một hoặc nhiều quốc gia đã được hoàn chỉnh qua một số lần đàm phán. Tất cả các quốc gia đều có quyền đưa ra đề nghị và nêu rõ quan điểm của mình. Văn bản cuối cùng của điều ước thường được thông qua chính thức tại một hội nghị cấp bộ trưởng. Trong khuôn khổ Hội đồng châu Âu, đây là nhiệm vụ của các uỷ ban Bộ trưởng, họp mỗi năm hai lần. Sau khi được thông qua, điều ước phải đi qua quy trình ký, chấp thuận và phê chuẩn.

Trong bối cảnh xung đột tại Nam Tư cũ và Ru-an-đa, Thuỵ Sỹ đã ban hành các quy định về hợp tác với các toà án lâm thời tại La Hay và Arusha (Tanzania) vào năm 1995 trong Nghị quyết Liên bang về Hợp tác với các toà án hình sự quốc tế truy tố các hành vi vi phạm Luật nhân đạo quốc tế nghiêm trọng nhất (SR 351.20). Năm 2003, phạm vi điều chỉnh Nghị quyết này được mở rộng để bao hàm cả việc hợp tác với Toà án đặc biệt về Sierra Leone ở Freetown. Nghị quyết quy định các hình thức hợp tác sau đây

b) Hợp tác với Toà án hình sự quốc tế (Internatinal Criminal Court – ICC)

Cần phải phân biệt giữa các toà án lâm thời chỉ có thẩm quyền xét xử trong một lãnh thổ hay đối với một cuộc xung đột nào đó với Toà án hình sự quốc tế thường trực tại Ha Hay, bắt đầu hoạt động từ 01/7/2002.

Với truyền thống nhân đạo và vai trò của mình với tư cách là nước lưu chiểu các Công ước Geneva, Thuỵ Sỹ đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập một toàn án có uy tín và độc lập. Thuỵ Sỹ đã phê chuẩn Quy chế Rome về ICC vào năm 2001 và đồng thời tiến hành sửa đổi pháp luật cần thiết để chuyển hoá quy định của Quy chế Rome vào pháp luật trong nước (ban hành pháp luật Liên bang về Hợp tác với ICC (ZISG, SR 351.6), có hiệu lực từ ngày 01/7/2002). Bước tiếp theo là hiện nay đang tiến hành sửa đổi toàn diện Luật hình sự của Thuỵ Sỹ nhằm bảo đảm cho luật này phù hợp với Quy chế Rome. Đã thành lập một văn phòng trung ương thuộc Văn phòng Tư pháp nhằm bảo đảm việc hợp tác được thực hiện một cách suôn sẻ.

Công nghệ tiên tiến hiện nay đang khiến cho tội phạm ngày càng mang tính quốc tế sâu sắc. Thông thường, chứng cứ hoặc nghi can không có mặt tại nước hoặc vùng lãnh thổ có thẩm quyền truy tố. Điều này có nghĩa là sự thành công của bất kỳ cuộc điều tra tầm quốc gia nào đều có thể bị ảnh hưởng nếu thiếu sự hỗ trợ của các quốc gia khác. Vì vậy, sự tương trợ giữa các cơ quan truy tố ngày càng trở nên quan trọng.

Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, không thể tiến hành thủ tục tố tụng hình sự tại một nước cụ thể hoặc thi hành các bản án tại nước đã ra bản án đó. Do đó, các cơ quan xét xử và thi hành án trong các trường hợp như vậy cũng phải dựa vào sự hợp tác với các nước khác.

Theo quy định của Luật Liên bang về tương trợ tư pháp hình sự quốc tế, Thuỵ Sỹ có thể hợp tác với các nước khác thậm chí khi không có điều ước theo pháp luật quốc tế. Tuy nhiên, các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp cần phải được ký kết.

Trong số các lý do ký kết có các lý do sau đây:

* Một số quốc gia không thể yêu cầu / thực hiện tương trợ tư pháp nếu thiếu điều ước quốc tế

* Cách thức duy nhất để giải quyết vấn đề tương trợ tư pháp là thông qua kênh hợp tác song phương

* Vệc tương trợ tư pháp quy mô lớn, đặc biệt là đối với những nước có mối quan hệ chặt chẽ, đòi hỏi thủ tục tương trợ đơn giản

* Các tiêu chuẩn quốc gia sẽ được hài hoà hoặc quy định có hiệu quả hơn trong các điều ước đa phương.

Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hình sự được chia thành các lĩnh vực sau đây:

* Tương trợ về các vấn đề nhỏ hoặc phụ (đặc biệt là phỏng vấn nhân chứng hoặc bị cáo, tống đạt giấy triệu tập hoặc bản án, thu thập chứng cứ hoặc giao tài sản)

* Truy tố thay mặt cho quốc gia khác

* Thi hành quyết định của cơ quan tư pháp (kể cả trục xuất người bị kết án về nước gốc)

Đơn đề nghị tương trợ tư pháp quốc tế do Văn phòng Tư pháp nhận, kiểm tra sơ bộ và sau đó được chuyển cho các cơ quan có thẩm quyền bang hoặc liên bang thực hiện. Văn phòng Tư pháp tự mình có thể quyết định chấp nhận và thi hành các biện pháp tương trợ tư pháp nếu đó là vụ án phức tạp hoặc đặc biệt quan trọng hoặc nếu đơn đề nghị tương trợ yêu cầu tiến hành điều tra tại nhiều bang. Bản án đã có hiệu lực pháp luật có thể bị kháng cáo lên Toà án tối cao Liên bang Thuỵ Sỹ.

Theo các quy định của Thuỵ Sỹ về hợp tác tư pháp song phương, có rất ít cơ hội cho cơ quan yêu cầu tiến hành các cuộc điều tra dự định (như lấy lời khai của người làm chứng) một cách trực tiếp và độc lập trên lãnh thổ chủ quyền của Thuỵ Sỹ. Nghị quyết Liên bang năm 1995 có thoáng hơn trong vấn đề này và quy định Bộ Tư pháp và Cảnh sát Liên bang (FDJP) cho phép thực hiện những hành vi tố tụng đó trên lãnh thổ Thuỵ Sỹ. Đến nay, FDJP đã thực hiện tất cả các yêu cầu hợp tác của các toà án lâm thời. Cách tiếp cận này cho phép đáp ứng tốt hơn các yêu cầu chính thức của các toà án quốc tế trong khi vẫn bảo vệ được quyền lợi của người làm chứng.

FOJ ra lệnh bắt và lệnh chuyển giao (dẫn độ) và quyết định có chuyển giao hay không chuyển giao người bị yêu cầu dẫn độ cho Toà án hình sự quốc tế. Ở Thuỵ Sỹ, chỉ được kháng cáo bản án phạt tù trong quá trình tiến hành thủ tục chuyển giao không được quyền kháng cáo đối với quyết định chuyển giao. Người bị yêu chuyển giao chỉ có thể khiếu nại về thẩm quyền xét xử của Toà án hình sự quốc tế khi họ xuất hiện trước Toà. Nếu công dân Thuỵ Sỹ được chuyển giao cho Toà án thì FOJ sẽ đề nghị trao trả lại người đó cho Thuỵ Sỹ để chấp hành hình phạt của họ sau khi việc xét xử tại Toà án kết thúc.

Dẫn độ là việc quốc gia được yêu cầu giao nộp bằng biện pháp cưỡng chế người bị truy nã cho quốc gia yêu cầu. Dẫn độ nhằm mục đích:

Dẫn độ cần được phân biệt với trục xuất và đẩy đuổi:

– Trục xuất là biện pháp nghiêm khắc nhất được áp dụng đối với người nước ngoài theo lệnh của Cảnh sát về người nước ngoài và có nghĩa là người đó không còn được phép lưu lại lãnh thổ Thuỵ Sỹ. Trục xuất được áp dụng nhằm bảo đảm an ninh của nước nơi người bị trục xuất cư trú và được quyết định không cần có yêu cầu của một nước thứ ba.

– Nếu người nước ngoài đã bị trục xuất nhưng không chấp hành nghĩa vụ rời khỏi Thuỵ Sỹ thì có thể bị đẩy đuổi; tức là cảnh sát tổ chức và giám sát việc người đó rời khỏi Thuỵ Sỹ.

b) Thủ tục dẫn độ ở Thuỵ Sỹ * Căn cứ pháp lý

Thủ tục dẫn độ ở Thuỵ Sỹ được quy định trong Luật Liên bang về tương trợ tư pháp hình sự quốc tế (IMAC, SR 351.1). Thuỵ Sỹ đã ký kết hiệp định dẫn độ với hầu hết các nước châu Âu và nhiều nước khác. IMAC cho phép dẫn độ khi giữa Thuỵ Sỹ và nước ngoài chưa có điều ước.

Các điều ước trước đây về dẫn độ chứa đựng một danh sách các tội phạm bị dẫn độ. Ngược lại, các điều ước hiện nay, như Công ước châu Âu về dẫn độ quy định việc dẫn độ chỉ được phép nếu tội phạm nêu trong yêu cầu dẫn độ có thể bị xử phạt tước quyền tự do trong một thời hạn tối thiểu nào đó (trên một năm) và hình phạt đã tuyên phải có thời hạn tối thiểu nào đó (bốn tháng).

Bị coi là tội phạm bị dẫn độ nếu hành vi mà người phạm tội đã thực hiện có thể bị xử phạt ở cả nước yêu cầu và nước được yêu cầu dẫn độ (nguyên tắc phạm tội kép hay còn gọi là nguyên tắc cùng hình sự hoá). Tên tội (tội danh) không nhất thiết phải như nhau ở hai quốc gia; ví dụ: Tội trộm cắp tài sản được thực hiện ở nước ngoài có thể có tên gọi là tội tham ô hay biển thủ trong Bộ luật hình sự của Thuỵ Sỹ).

Theo quy tắc đặc biệt (the rule of speciality), quyết định cho phép dẫn độ chỉ có hiệu lực đối với những tội nêu trong yêu cầu cầu dẫn độ. Vì vậy, người bị dẫn độ chỉ có thể bị truy tố, giam giữ hoặc bị dẫn độ cho quốc gia thứ ba về các tội được thực hiện trước khi người đó bị giao nộp nếu có sự đồng ý của quốc gia được yêu cầu. Pháp luật của nhiều quốc gia cho phép người bị yêu cầu dẫn độ từ bỏ quy tắc đặc biệt.

Nếu nhiều quốc gia yêu cầu dẫn độ cùng một người thì người đó có thể bị dẫn độ cho tất cả các quốc gia đó với điều kiện đáp ứng đầy đủ các điều kiện. Không có quy định cụ thể trong các điều ước dẫn độ về thứ tự ưu tiên dẫn độ trong trường hợp nhiều nước yêu cầu dẫn độ cùng một người. Khi quyết định sẽ dẫn độ cho nước nào, quốc gia được yêu cầu cân nhắc tính chất nghiêm trọng của các tội phạm, nơi thực hiện tội phạm, ngày gửi yêu cầu dẫn độ và khả năng dẫn độ tiếp theo. Nước mà người đó mang quốc tịch là điểm cuối cùng cần cân nhắc nếu đó là nước không dẫn độ công dân của mình.

Theo nguyên tắc, thủ tục dẫn độ ở Thuỵ Sỹ bắt đầu sau khi nhận được yêu cầu khám xét của Văn phòng Interpol quốc gia hoặc Bộ Tư pháp nước ngoài. Văn phòng Tư pháp (Phòng dẫn độ) kiểm tra tính hợp lệ của yêu cầu dẫn độ. Nếu biết được nơi ở của người bị dẫn độ tại Thuỵ Sỹ, Văn phòng Tư pháp (FOJ) ra lệnh cho lực lượng cảnh sát có thẩm quyền bắt người bị truy nã. Nếu không biết thì FOJ ghi tên người bị yêu cầu dẫn độ vào hệ thống tìm kiếm được vi tính hoá ” RIPOL” để bắt.

Cảnh sát bắt người bị truy nã và thông báo ngay cho FOJ. Khi tiến hành bắt, cảnh sát đồng thời thu giữ chứng cứ và tài sản do phạm tội mà có.

Có thể tiến hành thủ dẫn độ tục đơn giản nếu người bị bắt tuyên bố tại cuộc họp xem xét việc dẫn độ rằng người đó đồng ý bị dẫn độ ngay. FOJ được thông báo ngay về sự đồng ý đó của người bị yêu cầu dẫn độ và FOJ có thể, căn cứ vào sự đồng ý đó, cho phép dẫn độ và ra lệnh giao nộp người đó. Trong những trường hợp nhanh nhất, thủ tục dẫn độ đơn giản có thể được thực hiện chỉ trong vài giờ.

Nếu người bị yêu cầu dẫn độ phản đối việc dẫn độ thì FOJ sẽ ra lệnh dẫn độ. Cùng lúc đó FOJ đề nghị quốc gia yêu cầu gửi yêu cầu dẫn độ chính thức. Theo quy định, quốc gia yêu cầu phải gửi yêu cầu dẫn độ chính thức cho FOJ trong thời hạn 18 ngày ngày. Thời hạn này có thể được gia hạn đến 40 ngày.

Thẩm phán điều tra hoặc cảnh sát bang xuất trình lệnh dẫn độ của FOJ cho người bị yêu cầu dẫn độ và ghi biên bản cuộc họp xem xét dẫn độ (thủ tục bằng lời – procès-verbal). Người bị yêu cầu dẫn độ có quyền liên hệ với đại diện cơ quan lãnh sự nước mình. Người đó có thể khiếu nại lệnh dẫn độ của Thuỵ Sỹ lên Toà án hình sự Liên bang; quyết định của Toà này có thể bị kháng cáo tiếp lên Toà án tối cao Liên bang. Người bị yêu cầu dẫn độ cũng có thể làm đơn xin trả tự do bất cứ lúc nào.

Nếu FOJ nhận được yêu cầu dẫn độ chính thức đúng thời hạn thì thời hạn tạm giam chờ dẫn độ được gia hạn cho đến khi kết thúc thủ tục dẫn độ. Nếu chấp nhận yêu cầu dẫn độ thì FOJ sẽ gửi yêu cầu dẫn độ cho bang có thẩm quyền để xem xét việc dẫn độ. Cơ quan có thẩm quyền của bang sẽ nghe người bị yêu cầu dẫn độ trình bày ý kiến của mình, sau đó giải thích cho người bị yêu cầu dẫn độ về thủ tục dẫn độ và ghi biên bản cuộc họp xem xét yêu cầu dẫn độ (procès-verbal).

Căn cứ vào biên bản cuộc họp và ý kiến của người bào chữa cho người bị yêu cầu dẫn độ, FOJ có thể ra quyết định dẫn độ. FOJ kiểm tra xem các điều kiện chính thức và cần thiết đã được đáp ứng hay chưa. FOJ sẽ xác định rõ là hành vi mà người bị yêu cầu dẫn độ bị cáo buộc có bị xử phạt theo pháp luật Thuỵ Sỹ hay không. Việc có tội hay vô tội và các tình tiết của vụ án sẽ không được quyết định trong thủ tục dẫn độ, có nghĩa là FOJ không kiểm tra xem người bị yêu cầu dẫn độ đã thực sự phạm tội nêu trong yêu cầu dẫn độ hay không.

Sau đó FOJ sẽ chính thức xuất trình quyết định dẫn độ của mình cho người bị yêu cầu dẫn độ. Nếu trong thời hạn 5 ngày mà người đó không tuyên bố sẽ khiếu nại thì việc dẫn độ được tiến hành. Người bị yêu cầu dẫn độ có thể kháng nghị lên Toà án hình sự Liên bang trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được tống đạt quyết định dẫn độ. Toà án hình sự Liên bang xem xét, quyết định về khiếu nại sau khi FOJ gửi ý kiến bằng văn bản của mình. Trong các trường hợp đặc biệt quan trọng, quyết định của Toà án hình sự Liên bang bị kháng cáo lên Toá án tối cao Liên bang.

Quốc gia yêu cầu phải nhận người đó trong thời hạn 10 ngày; trong các trường hợp ngoại lệ, thời hạn này có thể kéo dài thêm đến 30 ngày sau khi gửi thông báo về lệnh thi hành dẫn độ. Đồ vật và tài sản là chứng cứ hoặc do phạm tội mà có có thể được chuyển giao cùng lúc với việc giao nộp người bị dẫn độ.

Các cơ quan có thẩm quyền của Thuỵ Sỹ, như FOJ (Phòng Dẫn độ) theo đề nghị của một cơ quan truy tố của bang hoặc Công tố viên của Liên bang, có thể bắt đầu thủ tục dẫn độ bằng một yêu cầu khám xét. Yêu cầu này do Intepol gửi đi và có thể được gửi trực tiếp cho nước nơi biết hoặc khả nghi là người bị truy nã đang có mặt.

Yêu cầu dẫn độ chính thức phải được gửi cho quốc gia được yêu cầu trong thời hạn quy định nếu người bị truy nã đã bị bắt. Thời hạn này dao động từ 18 ngày (Công ước châu Âu về Dẫn độ) đến 40 ngày (Hiệp định mới về Dẫn độ với Hoa Kỳ). FOJ lập yêu cầu dẫn độ của Thuỵ Sỹ dựa trên đề nghị của cơ quan có thẩm quyền của bang hoặc của Phòng Công tố Liên bang chịu trách nhiệm về nội dung của yêu cầu dẫn độ. FOJ hướng dẫn các cơ quan có thẩm quyền đó về nội dung và hình thức yêu cầu dẫn độ và là cơ quan trung gian làm việc với các cơ quan có thẩm quyền nước ngoài.

Yêu cầu dẫn độ gồm một công hàm ngoại giao của Đ ại sứ quán Thuỵ Sỹ tại quốc gia được yêu cầu (trong trường hợp liên hệ trực tiếp: Thư của FOJ gửi cho Bộ Tư pháp nước ngoài) và các tài liệu kèm theo yêu cầu: Lệnh bắt hoặc bản án, tài liệu riêng trình bày về tính tiết vụ án, các điều luật được áp dụng của Bộ luật hình sự v.v Ngoài ra, nhiều nước theo hệ thống pháp luật án lệ còn yêu cầu phải có hồ sơ chứng cứ trong đó bao gồm mọi lời khai của nhân chứng và các chứng cứ khác về nguyên nhân phạm tội của người bị yêu cầu dẫn độ.

Thủ tục dẫn độ ở nước ngoài được quy định trong pháp luật của quốc gia được yêu cầu. Có nhiều điểm khác biệt trong thủ tục này ở các nước khác nhau: tại một số nước thủ tục dẫn độ hoàn toàn do toà án tiến hành, nhưng ở các nước khác có sự phân chia vai trò giữa toà án và các cơ quan hành chính. Thủ tục thi hành dẫn độ (giao nộp) thì giống như ở Thuỵ Sỹ.

Thuỵ Sỹ không cho phép dẫn độ đối với các tội phạm chính trị (ví dụ, thành viên trong một đảng bất hợp pháp). Diệt chủng, không tặc hoặc bắt cóc con tin không được coi là tội phạm chính trị. Dẫn độ cũng bị từ chối nếu thủ tục tố tụng ở nước ngoài trái với các nguyên tắc của Công ước châu Âu về Nhân quyền hoặc được tiến hành nhằm truy tố hoặc trừng phạt một người ví lý do chính kiến, thành phần xã hội, quốc tịch, chủng tộc hoặc tôn giáo của người đó. Mặc dù vấn đề tội phạm chính trị đã được kiểm tra trong thủ tục dẫn độ nhưng các cơ quan chức năng quyết định vấn đề cư trú chính trị sẽ ra một quyết định riêng biệt.

Tội phạm chính trị thuần tuý được loại trừ khỏi việc dẫn độ. Tội phạm quân sự cũng vậy, ví dụ không tuân lệnh hoặc đào ngũ. Tội phạm hình sự thông thường (ví dụ như hiếp dâm) được thực hiện bởi một thành viên thuộc lực lượng vũ trang không được coi là tội phạm quân sự.

Dẫn độ cũng bị từ chối đối với tội phạm về tài chính khi tội phạm đó được thực hiện nhằm mục đích giảm tiền thuế phải nộp. Gian lận để được hưởng trợ cấp (ví dụ nhận được khoản tiền thanh toán bất hợp pháp từ Nhà nước bằng thủ đoạn khai man) không được coi là tội phạm về tài chính.

Giống như hầu hết các quốc gia châu Âu khác, Thuỵ Sỹ bảo lưu quyền từ chối dẫn độ công dân của mình.

Theo nguyên tắc, thủ tục tố tụng hình sự đã bị đình chỉ đối với cùng tội phạm đó tại quốc gia được yêu cầu sẽ có hiệu lực hơn so với việc dẫn độ. Nếu tội phạm đó đã bị kết án tại quốc gia được yêu cầu (nguyên tắc không xét xử hai lần về cùng một tội phạm “non bis in idem”), thì việc dẫn độ cũng bị từ chối. Ngoài ra, dẫn độ sẽ bị từ chối nếu người bị yêu cầu dẫn độ không thể bị truy tố do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

FOJ đã nhận được đề nghị về các hình thức hợp tác khác (ghi băng, ghi hình chứng cứ, kể cả lời khai của người làm chứng, hỏi bị can, khám xét và thu giữ, tống đạt giấy tờ v.v). FOJ sẽ xác định việc hợp tác có được phép hay không, tiến hành các công việc cần thiết và uỷ quyền cho một cơ quan có thẩm quyền của bang hoặc của Liên bang thực hiện đề nghị hợp tác. Những người bị cáo buộc trước Toà án không được quyền đòi bồi thường. Chỉ những người khác bị ảnh hưởng bởi các biện pháp tương trợ tư pháp quốc tế mới có quyền khiếu nại quyết định cuối cùng của FOJ. Bản thân FOJ có thể cho phép tiến hành điều tra trên lãnh thổ chủ quyền của Thuỵ Sỹ.

5. Quốc gia là chủ thể đặc biệt của tư pháp quốc tế

Khi tham gia vào các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, quốc gia được hưởng quy chế pháp lý đặc biệt.

Khi tham gia vào các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, quốc gia được hưởng quy chế pháp lý đặc biệt – không những không ngang hàng với các cá nhân và pháp nhân mà còn được hưởng quyền miễn trừ tư pháp.

– Cơ sở pháp lý quốc tế của quy chế pháp lý đặc biệt của quốc gia thể hiện ở việc xác định quốc gia là một thực thể có chủ quyền và là chủ thể đặc biệt trong TPQT, được thể hiện ở các nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia và bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia.

Theo nguyên tắc này, Nhà nước này hoặc bất kì cơ quan nào của nhà nước này không có quyền xét xử nhà nước khác hoặc đại diện của Nhà nước khác.

Khi tham gia vào các quan hệ tư pháp quốc tế, quốc gia được hưởng quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối. được ghi nhận: Công ước Viên 1961 về quan hệ ngoại giao.

Ở Việt Nam, Điều 12 Pháp lệnh về quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của các tổ chức quốc tế tại Việt Nam năm 1993.

– Quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của quốc gia thể hiện trước hết ở quyền miễn trừ xét xử – toà án của quốc gia này không có quyền xét xử quốc gia kia, nếu quốc gia kia không cho phép.

– Quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của quốc gia còn thể hiện ở chỗ: nếu quốc gia đồng ý cho toà án nước ngoài xét xử vụ tranh chấp mà quốc gia là bên bị đơn thì toà án nước ngoài được xét xử, nhưng không được phép ap dụng các biện pháp cưỡng chế sơ bộ đối với đơn kiện hoặc bảo đảm thi hành phán quyết của toàn án. Toà án nướ ngoài chỉ được phép cưỡng chế khi được quốc gia đó cho phép.

– Quốc gia có quyền đứng tên nguyên đơn trong vụ tranh chấp dân sự với cá nhân hoặc pháp nhân nước ngoài. Trong trường hợp đó toà án nước ngoài được phép giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, bị đơn là cá nhân, pháp nhân nước ngoài chỉ được phép phản kiện khi được quốc gia nguyên đơn đồng ý.

– Quốc gia có quyền từ bỏ từng nội dung hoặc tất cả các nội dung của quyền miễn trừ này. Quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia là tuyệt đối ở mọi nơi, mọi lúc, trừ trường hợp quốc gia tự nguyện từ bỏ.

Trích dẫn từ: https://hocluat.vn/

Bạn đang đọc nội dung bài viết Hiện Tượng “Lẩn Tránh Pháp Luật” Trong Tư Pháp Quốc Tế trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!