Đề Xuất 2/2023 # Giáo Án Ngữ Văn Lớp 10 Tiết 61, 62 Đọc Văn: Đại Cáo Bình Ngô (Bình Ngô Đại Cáo) Nguyễn Trãi # Top 5 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 2/2023 # Giáo Án Ngữ Văn Lớp 10 Tiết 61, 62 Đọc Văn: Đại Cáo Bình Ngô (Bình Ngô Đại Cáo) Nguyễn Trãi # Top 5 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Giáo Án Ngữ Văn Lớp 10 Tiết 61, 62 Đọc Văn: Đại Cáo Bình Ngô (Bình Ngô Đại Cáo) Nguyễn Trãi mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ngày dạy: 13/01/2010 Tiết 61.62: Đọc văn. đại cáo bình ngô (Bình Ngô đại cáo) Nguyễn Trãi. A. Mục tiêu bài học: Giúp hs: – Nắm được những giá trị lớn về nội dung và nghệ thuật của bài Đại cáo bình Ngô. – Rèn kĩ năng phân tích tác phẩm chính luận theo thể văn cổ- thể cáo. – Bồi dưỡng ý thức độc lập, tự chủ, niềm tự hào dân tộc. B. Sự chuẩn bị của thầy và trò: – Sgk, sgv và một số tài liệu tham khảo. – Hs soạn bài theo các câu hỏi trong sgk. – Gv thiết kế dạy- học. C. Cách thức tiến hành: D. Tiến trình dạy- học: 1. ổn định tổ chức lớp: Kiểm tra sĩ số. 2. Kiểm tra bài cũ: Câu hỏi: Kể tên các tác phẩm chính của Nguyễn Trãi? Tại sao nói Nguyễn Trãi là nhà thơ trữ tình sâu sắc? Vị trí, tầm vóc của ông trong nền VH dân tộc? 3. Bài mới: * Giới thiệu bài mới: Trong lịch sử VHVN, ba áng thơ văn kiệt xuất được coi là các bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc là: Nam quốc sơn hà (Lí Thường Kiệt), Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi) và Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh). Bài học hôm nay, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu bản tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của dân tộc ta. Hoạt động của gv và hs Yêu cầu cần đạt Hs đọc Tiểu dẫn- sgk. ? Nêu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm? Hs trả lời. ? Em hiểu gì về nhân đề tác phẩm? Tại sao gọi là “đại cáo”? Giặc Ngô là giặc nào? Vì sao tác giả lại gọi chúng như vậy? Hs trả lời. Vua Minh (Chu Nguyên Chương- ông tổ lập ra triều Minh- Minh thành tổ)) quê ở đất Ngô (nam Trường Giang, thời Tam Quốc) ” chữ “Ngô” chỉ chung giặc phương Bắc xâm lược với ý căm thù, khinh bỉ. ? Nêu khái niệm, các đặc trưng cơ bản của thể loại cáo? Hs trả lời. Hs đọc văn bản. Gv nhận xét, hướng dẫn giọng đọc. ? Nêu bố cục của tác phẩm? Hs trả lời. ? Trong đoạn 1, luận đề chính nghĩa được nêu cao bao gồm mấy luận điểm chủ yếu? Đó là những luận điểm gì? – Luận điểm 1 được nêu ở các câu nào? Vị trí và nội dung cụ thể của nó? – Luận điểm 2 được nêu và luận chứng ntn? Gv dẫn dắt: Dân tộc ta chiến đấu chống quân xâm lược là nhân nghĩa, là phù hợp với nguyên lí chính nghĩa thì sự tồn tại độc lập, có chủ quyền của dân tộc Việt Nam cũng là chân lí khách quan phù hợp với nguyên lí đó… – Chân lí thực tiễn về sự tồn tại độc lập, có chủ quyền của nước Đại Việt được biểu hiện qua các mặt nào? ? Nhận xét về giọng điệu của đoạn 1? Câu hỏi nâng cao: So sánh với Nam quốc sơn hà (Lí Thường Kiệt) để thấy sự phát triển của tư tưởng chủ quyền độc lập dân tộc? Hs trả lời. ? Nguyễn Trãi đã tố cáo những tội ác nào của giặc Minh? Tác giả đứng trên lập trường nào? Hs trả lời. ? Hình ảnh nhân dân Đại Việt dưới ách thống trị của giặc Minh được hình tượng hóa bằng hình ảnh nào? – Những tên giặc Minh tàn bạo được hình tượng hóa bằng hình ảnh nào? Hs trả lời. ? Nghệ thuật viết cáo trạng của tác giả? Hs trả lời. Gv dẫn dắt: Đoạn 3 là đoạn văn dài nhất của bài cáo, chia làm 2 phần tương ứng với 2 giai đoạn của cuộc khởi nghĩa… ? Tìm 2 phần tương ứng với 2 giai đoạn của cuộc khởi nghĩa đó? ? Hình tượng Lê Lợi được khắc họa ntn (tìm các chi tiết)? So sánh với hình tượng Trần Quốc Tuấn trong Hịch tướng sĩ? Hs trả lời. ? Qua những lời bộc bạch của Lê Lợi, em thấy những ngày đầu nghĩa quân Lam Sơn gặp phải những khó khăn gì? Hs trả lời. ? Nhưng sức mạnh nào đã giúp quân ta chiến thắng? Hs trả lời. Câu hỏi nâng cao: Từ sớm, Nguyễn Trãi đã đánh giá đúng được nguyên nhân quan trọng nào làm nên thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn? Hs trả lời. Gv dẫn dắt: ở giai đoạn 2 của cuộc khởi khởi nghĩa, tác giả đã dựng lên bức tranh toàn cảnh cuộc khởi nghĩa Lam Sơn với bút pháp nghệ thuật đậm chất anh hùng ca từ hình tượng đến ngôn ngữ, từ màu sắc đến âm thanh, nhịp điệu… – Khí thế và những chiến thắng của quân ta được miêu tả ntn? – Đối lập với khí thế “chẻ tre” hào hùng, sức mạnh vô địch của quân ta, hình ảnh kẻ thù thất bại thê thảm, nhục nhã ntn? Hs trả lời. ? Phân tích tính chất hùng tráng của đoạn văn được gợi lên từ ngôn ngữ, hình ảnh, nhịp điệu câu văn? Hs trả lời. ? Chủ trương hòa bình, nhân đạo của Lê Lợi- Nguyễn Trãi được thể hiện ntn ở phần 3 này? – Hành động đó làm sáng tỏ tư tưởng cốt lõi nào đã nêu ở đầu bài cáo? Hs trả lời. ? Giọng văn ở đoạn này có gì khác với nhứng đoạn trên? Vì sao? – Bài học lịch sử mà Nguyễn Trãi nêu ra qua lời tuyên bố độc lập? ý nghĩa của bài học lịch sử đó đối với chúng ta ngày nay ntn? Hs trả lời. ? Nêu những nét khái quát về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm? Hs trả lời. I. Tiểu dẫn: 1. Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm: – Mùa đông năm 1427, sau khi diệt viện, chém Liễu Thăng, đuổi Mộc Thạnh, tổng binh Vương Thông đang cố thủ trong thành Đông Quan phải xin hàng, cuộc kháng chiến chống giặc Minh hoàn toàn thắng lợi. – Năm 1428: Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, lập ra triều đình Hậu Lê, sai Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo để bố cáo cho toàn dân được biết chiến thắng vĩ đại của quân dân trong 10 năm chiến đấu gian khổ, từ nay, nước Việt đã giành lại được nền độc lập, non sông trở lại thái bình. 2. Nhan đề: – Chữ Hán: Bình Ngô đại cáo ” dịch ra tiếng Việt: Đại cáo bình Ngô. – Giải nghĩa: + Đại cáo: bài cáo lớn ” dung lượng lớn. ” tính chất trọng đại. + Bình: dẹp yên, bình định, ổn định. + Ngô: giặc Minh. ] Nghĩa của nhan đề: Bài cáo lớn ban bố về việc dẹp yên giặc Ngô. 3. Thể loại cáo: – Khái niệm: là thể văn nghị luận có từ thời cổ ở Trung Quốc, thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày một chủ trương, một sự nghiệp, tuyên ngôn một sự kiện để mọi người cùng biết. – Đặc trưng: + Viết bằng văn xuôi hay văn vần, phần nhiều là văn biền ngẫu (loại văn có ngôn ngữ đối ngẫu, các vế đối thanh B-T, từ loại, có vần điệu, sử dụng điển cố, ngôn ngữ khoa trương). + Lời lẽ đanh thép, lí luận sắc bén. + Kết cấu chặt chẽ, mạch lạc. II. Đọc- hiểu văn bản: 1. Đọc và tìm bố cục: Bố cục: 4 phần. – P1: Nêu luận đề chính nghĩa. – P2: Vạch rõ tội ác của giặc Minh xâm lược. – P3: Kể lại 10 năm chiến đấu và chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn. – P4: Tuyên bố chiến quả, khẳng định sự nghiệp chính nghĩa, rút ra bài học lịch sử. 2. Tìm hiểu văn bản: a. Đoạn 1: Nêu cao luận đề chính nghĩa: * Tư tưởng nhân nghĩa: – Theo quan niệm của đạo Nho: nhân nghĩa là mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người trên cơ sở tình thương và đạo lí. – Nguyễn Trãi:+ chắt lọc lấy hạt nhân cơ bản của tư tưởng nhân nghĩa: nhân nghĩa chủ yếu để yên dân. + đem đến nội dung mới: nhân nghĩa là yên dân trừ bạo. ” Đó là cơ sở để bóc trần luận điệu xảo trá của giặc Minh (phù Trần diệt Hồ giúp Đại Việt). ” Khẳng định lập trường chính nghĩa của ta và tính chất phi nghĩa của kẻ thù xâm lược. * Chân lí về sự tồn tại độc lập, có chủ quyền của nước Đại Việt: – Cương vực lãnh thổ: nước Đại Việt ta- núi sông bờ cõi đã chia. – Nền văn hiến: vốn xưng nền văn hiến đã lâu. – Phong tục: phong tục Bắc Nam cũng khác – Lịch sử riêng, chế độ riêng: Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập/ Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương – Hào kiệt: đời nào cũng có ” Các từ ngữ: “từ trước”, “đã lâu”, “vốn xưng”, “đã chia”, “cũng khác” cho thấy sự tồn tại hiển nhiên, vốn có, lâu đời của một nước Đại Việt độc lập, có chủ quyền và văn hiến. ” Giọng điệu: trang trọng, hào hùng mang tính chất của một lời tuyên ngôn. * So sánh với Nam quốc sơn hà (Lí Thường Kiệt): ý thức độc lập dân tộc của Đại cáo bình Ngô phát triển toàn diện và sâu sắc hơn. – Toàn diện, vì: + Lí Thường Kiệt mới chỉ xác định dân tộc ở hai phương diện: lãnh thổ và chủ quyền. + Nguyễn Trãi đã xác định dân tộc ở nhiều phương diện: lãnh thổ, nền văn hiến, phong tục tập quán, lịch sử, chế độ, con người. – Sâu sắc, vì: + Lí Thường Kiệt căn cứ vào “thiên thư” (sách trời)- yếu tố thần linh chứ ko phải thực tiễn lịch sử. + Nguyễn Trãi đã ý thức rõ về văn hiến, truyền thống lịch sử và con người- những yếu tố thực tiễn cơ bản nhất, các hạt nhân xác định dân tộc b. Đoạn 2: Bản cáo trạng hùng hồn, đẫm máu và nước mắt: – Những âm mưu và tội ác của kẻ thù: + Âm mưu xâm lược quỷ quyệt của giặc Minh: “Vừa rồi: Nhân họ Hồ chính sự phiền hà, Để trong nước lòng dân oán hận. Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa”. Chữ “nhân”, “thừa cơ” ” vạch rõ luận điệu giả nhân giả nghĩa, “mượn gió bẻ măng” của kẻ thù. ” Nguyễn Trãi đứng trên lập trường dân tộc. + Tố cáo chủ trương, chính sách cai trị vô nhân đạo, vô cùng hà khắc của kẻ thù: 9 Tàn sát người vô tội – “Nướng dân đen… tai vạ”. 9 Bóc lột tàn tệ, dã man: “Nặng thuế…núi”. 9 Huỷ diệt môi trường sống: “Người bị ép…cây cỏ”. ” Nguyễn Trãi đứng trên lập trường nhân bản. – Hình ảnh nhân dân: tội nghiệp, đáng thương, khốn khổ, điêu linh, bị dồn đuổi đến con đường cùng. Cái chết đợi họ trên rừng, dưới biển: “Nặng nề… canh cửi”,… – Hình ảnh kẻ thù: tàn bạo, vô nhân tính như những tên ác quỷ: “Thằng há miệng… chưa chán”. – Nghệ thuật viết cáo trạng: + Dùng hình tượng để diễn tả tội ác của kẻ thù: “Nướng dân đen chúng tôi vạ”. + Đối lập: Hình ảnh người dân vô tội ợớ Kẻ thù bị bóc lột, tàn sát dã man. tàn bạo, vô nhân tính. + Phóng đại:“Độc ác thay, trúc Nam Sơn ko ghi hết tội/ Dơ bẩn thay, nước Đông Hải ko rửa sạch mùi” ” Trúc Nam Sơn- tội ác của kẻ thù. Nước Đông Hải- sự nhơ bẩn của kẻ thù. + Câu hỏi tu từ: “Lẽ nào…chịu được?” ” tội ác trời ko dung đất ko tha của quân thù. + Giọng điệu: uất hận trào sôi, cảm thương tha thiết, nghẹn ngào đến tấm tức. c. Đoạn 3: Quá trình chinh phạt gian khổ và tất thắng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (Bản hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn): * Hình tượng người chủ tướng Lê Lợi và những năm tháng gian khổ buổi đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn: – Hình tượng chủ tướng Lê Lợi- hình tượng tâm lí, được miêu tả bằng bút pháp chủ yếu: tự sự- trữ tình. + Cách xưng hô: “ta” ” khiêm nhường. + Nguồn gốc xuất thân: chốn hoang dã nương mình ” bình thường ” người anh hùng áo vải. + Có một nội tâm vận động dữ dội (diễn tả qua hàng loạt các từ miêu tả tâm lí, sự biến động nội tâm con người: ngẫm, căm, đau lòng nhức óc, nếm mật nằm gai, quên ăn vì giận, đắn đo, trằn trọc, mộng mị, băn khoăn, đăm đăm, cầu hiền, chăm chăm). ” Lòng căm thù giặc sâu sắc: “Ngẫm thù lớn… ko cùng sống”, “Quên ăn vì giận…” ” ý chí, hoài bão cao cả: ngày đêm vượt gian khó, cầu được nhiều người hiền giúp để hoàn thành sự nghiệp cứu nước: “Đau lòng… đồ hồi”, “Tấm lòng cứu nước…phía tả”. ” Hình tượng Lê Lợi và Trần Quốc Tuấn trong Hịch tướng sĩ đều có chung ý thức trách nhiệm cao với đất nước, có ý chí hoài bão cao cả và lòng căm thù giặc sâu sắc. – Những khó khăn của nghĩa quân Lam Sơn qua lời bộc bạch của Lê Lợi: + Quân thù: đang mạnh, tàn bạo, xảo trá. + Quân ta: lực lượng mỏng (Khi Khôi Huyện quân ko một đội), thiếu nhân tài (Tuấn kiệt như sao buổi sớm/ Nhân tài như lá mùa thu/ Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần/ Nơi duy ác hiếm người bàn bạc), lương thảo khan hiếm (Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần). – Sức mạnh giúp ta chiến thắng: + Tấm lòng cứu nước. + ý chí khắc phục gian nan. + Sức mạnh đoàn kết: “tướng sĩ một lòng phụ tử”, “nhân dân bốn cõi một nhà”. + Sử dụng các chiến lược, chiến thuật linh hoạt: “Thế trận xuất kì…địch nhiều”. + Tư tưởng chính nghĩa: “Đem đại nghĩa…thay cường bạo”. ” Nguyễn Trãi đề cao tính chất nhân dân, tính chất toàn dân, đặc biệt đề cao vai trò của những người dân nghèo, địa vị thấp hèn (nguyên tác: “manh lệ” ” “manh”- người dân cày lưu tán, “lệ”- người tôi tớ, đi ở) trong cuộc khởi nghĩa. Đó là tư tưởng lớn, nhân văn, tiến bộ trước ông chưa có và đến tận giữa thế kỉ XIX mới được Nguyễn Đình Chiểu tiếp tục công khai ca ngợi. * Quá trình phản công và chiến thắng: – Khí thế của quân ta: hào hùng như sóng trào bão cuốn (“sấm vang chớp giật”, “trúc chẻ tro bay”, “sạch ko kình ngạc”, “tan tác chim muông”, “quét sạch lá khô”, “đá núi phải mòn”, “nước sông phải cạn”… ” các hình ảnh so sánh- phóng đại ” tính chất hào hùng). – Khung cảnh chiến trường: ác liệt, dữ dội khiến trời đất như đảo lộn ( “sắc phong vân phải đổi”, “ánh nhật nguyệt phải mờ”). – Những chiến thắng của ta: dồn dập, liên tiếp (các câu văn điệp cấu trúc, mang tính chất liệt kê: “Ngày 18…/ Ngày 20…/ Ngày 25…/ Ngày 28…”) – Hình ảnh kẻ thù: + Tham sống, sợ chết, hèn nhát, thảm hại: Trần Trí, Sơn Thọ- mất vía. Lí An, Phương Chính- nín thở cầu thoát thân. Đô đốc Thôi Tụ- lê gối dâng tờ tạ tội. Thượng thư Hoàng Phúc- trói tay để tự xin hàng. Quân Vân Nam – khiếp vía mà vỡ mật. Quân Mộc Thạnh – xéo lên nhau chạy để thoát thân. Mã Kì, Phương Chính- hồn bay phách lạc. Vương Thông, Mã Anh – tim đập chân run… + Thất bại của kẻ thù: thê thảm nhục nhã “trí cùng lực kiệt”, “máu chảy thành sông”, “thây chất đầy đường”, “máu chảy trôi chày”, “thây chất thành núi”,… + Cách gọi, cách miêu tả kẻ thù đầy khinh bỉ, mỉa mai: thằng nhãi con Tuyên Đức; đồ nhút nhát Thạnh, Thăng; tướng giặc bị cầm tù- hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng; Mã Kì, Phương Chính…ra đến bể mà vẫn hồn bay phách lạc; Vương Thông, Mã Anh… về đến nước mà vẫn tim đập chân run;… – Tính chất hùng tráng của đoạn văn: + Ngôn ngữ: 9 Sử dụng nhiều động từ mạnh liên kết với nhâu tạo những chuyển rung dồn đập, dữ dội: hồn bay phách lạc, tim đập chân run, trút sạch, phá toang,… 9 Các tính từ chỉ mức độ cực điểm: thây chất đầy đường, máu trôi đỏ nước, đầm đìa máu đen, khiếp vía vỡ mật, sấm vang, chớp giật, trúc chẻ tro bay,… ” Khí thế chiến thắng của ta và sự thất bạo thảm hại của kẻ thù. + Hình ảnh: 9 Có tính chất phóng đại. 9 Nhiều tên người, tên đất, tên chiến thắng được liệt kê liên tiếp nối nhau xuất hiện trong thế tương phản ” thế thắng đang lên của ta đối lập với sự thất bại ngày càng nhiều, càng lớn của kẻ thù. + Nhịp điệu câu văn: 9 Khi dài, khi ngắn biến hóa linh hoạt. 9 Dồn dập, sảng khoái, bay bổng, hào hùng như sóng trào bão cuốn. – Chủ trương hòa bình, nhân đạo : + Tha tội chết cho quân giặc đầu hàng. + Cấp ngựa, cấp thuyền , lương ăn cho quân bại trận ” Đức hiếu sinh, lòng nhân đạo. ” Tình yêu hòa bình. ” Sách lược để tính kế lâu dài, bền vững cho non sông. ” Tư tưởng nhân nghĩa- yên dân – trừ bạo. d. Đoạn 4: Tuyên bố thắng trận, khẳng định sự nghiệp chính nghĩa và nêu lên bài học lịch sử: – Giọng văn: trang nghiêm, trịnh trọng. ” Tuyên bố, khẳng định với toàn dân về nền độc lập dân tộc, chủ quyền đất nước đã được lập lại. – Bài học lịch sử: + Sự thay đổi thực chất là sự phục hưng dân tộc là nguyên nhân, là điều kiện để thiết lập sự vững bền: “Xã tắc…sạch làu”. + Sự kết hợp giữa sức mạnh truyền thống và sức mạnh thời đại làm nên chiến thắng: “Âu … vậy”. ” ý nghĩa lâu dài với công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. III. Tổng kết: 1. Nội dung: Là bản tuyên ngôn độc lập lần thứ 2 của dân tộc ta ở thế kỉ XV: + Nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, chân lí độc lập dân tộc. + Tố cáo tội ác của kẻ thù. + Tái hiện quá trình kháng chiến hào hùng. + Tuyên bố độc lập, rút ra bài học lịch sử. 2. Nghệ thuật: – Kết hợp hài hòa 2 yếu tố: chính luận sắc bén và văn chương trữ tình. – Mang đậm cảm hứng anh hùng ca. ” Là áng “thiên cổ hùng văn”. 4. Củng cố – Nhận xét: – Hệ thống nội dung: Theo yêu câu bài học. – Nhận xét chung. 5. Dặn dò: Yêu cầu hs:- Xem lại kiến thức bài học, đọc thuộc tác phẩm và làm bài tập ở phần luyện tập. – Đọc trước bài làm văn: Tính chuẩn xác, hấp dẫn của VB thuyết minh.

Bài Giảng Bình Ngô Đại Cáo Ngữ Văn 10

BÀI GIẢNG NGỮ VĂN LỚP 10

ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO NGUYỄN TRÃI

Ức trai lòng dạ sáng sao khuê. Bui một tấc lòng ưu ái cũ; Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông.

3

PHẦN MỘT:

TÁC GIẢ NGUYỄN TRÃI

I/ CUỘC ĐỜI:  Nguyễn

Trãi (1380 – 1442), hiệu Ức Trai, quê gốc: Chi Ngại (Chí Linh, Hải Dương), sau dời về Nhị Khê (Thường Tín, Hà Tây).  Hai bên nội ngoại đều giàu truyền thống yêu nước và văn hóa – văn học.  Cha: Tiến sĩ Nguyễn Phi Khanh, ông ngoại Tư đồ Trần Nguyên Đán.  5 tuổi mất mẹ, 10 tuổi ông ngoại qua đời.

I/ CUỘC ĐỜI:  Đỗ

Tiến sĩ năm 1400, rồi cùng cha ra làm quan cho nhà Hồ.  1407, giặc Minh xâm lược, cha ông bị đưa qua Trung quốc, nghe lời cha ông trở về tìm cách trả “Nợ nước, thù nhà”.  Tìm vào Lam Sơn theo Lê Lợi tham gia khởi nghĩa, góp phần to lớn vào chiến thắng vẻ vang của dân tộc.  Cuối 1427 đầu 1428, khởi nghĩa thắng lợi, ông thừa lệnh Lê Lợi viết “Bình Ngô Đại Cáo”, tích cực tham gia triều chính, rồi bị nghi oan và khong được trọng dụng nữa.

I/ CUỘC ĐỜI:  1439,

Nguyễn Trãi cáo quan về ở ẩn tại Côn Sơn.  1440, Lê Thái Tông mời ông ra giúp việc nước.  1442, Lê Thái Tông mất đột ngột ở Lệ Chi viên, vợ ông (Nguyễn Thị Lộ) bị bọn loạn thần vu cho tội giết vua và gia đình ông bị xử tội “tru di tam tộc” (họ cha, họ mẹ, họ vợ).

1464, Lê Thánh Tông minh oan cho Nguyễn Trãi, sưu tầm lại thơ văn của ông và cho tìm con cháu của ông còn sống sót để bổ làm quan.

I/ CUỘC ĐỜI:  Tóm

lại:  NGUYỄN TRÃI – Người anh hùng dân tộc, nhà quân sự lỗi lạc, nhà ngoại giao tài ba, nhà văn hóa lớn.  1980 đại thi hào Nguyễn Trãi được tổ chức UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới.

II/ SỰ NGHIỆP THƠ VĂN:

1) Những tác phẩm chính:  Tác

giả xuất sắc về nhiều thể loại văn học, trong sáng tác chữ Hán và chữ Nôm, cả trong văn chính luận lẫn thơ trữ tình.  Một số tác phẩm:  Chữ Hán: Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô Đại cáo, Ức Trai thi tập…  Chữ Nôm: Quốc âm thi tập (254 bài Đường luật hoặc Đường luật xen lục ngôn).  Sách Địa lí cổ nhất VN: Dư Địa Chí.

2) Giá trị văn chương: a) Nội dung:  Tư

tưởng chủ đạo xuyên suốt các áng văn chính luận và cả thơ trữ tình đậm cảm xúc cá nhân: tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước, thương dân.  Quan niệm sức mạnh yêu nước vô địch bắt nguồn từ Nhân nghĩa – một tư tưởng lớn, độc đáo của dân tộc VN.

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo. Hoặc:  Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược, Có nhân, có chí, có anh hùng. 

2) Giá trị văn chương: a) Nội dung:

 Hai

tập thơ “Ức Trai thi tập” và ” Quốc âm thi tập” làm nổi bật hình ảnh nghệ thuật: Người anh hùng vĩ đại – Con người trần thế giản dị.

 Quân

thân chưa báo lòng canh

cánh, Tình phụ cơm trời, áo cha. Hoặc:  Hà thì kết ốc phong vân hạ, Cấp giản phanh trà chẩm thạch miên.

2) Giá trị văn chương: a) Nội dung:  Thơ

 Ngư

ca tam xướng, yên hồ khoát, Mục địch nhất thanh, thiên nguyệt cao.  Án sách cây đèn, hai bạn cũ Song mai hiên trúc, một lòng thanh.  Thân mình ở xa ngàn dặm, mồ mả ông bà ở quê không sao dẫy cỏ thắp hương. Mười năm đã qua, những người ruột thịt, quen thân cũ đã chẳng còn ai. Đành mượn chén rượu ép mình uống, không cho lòng cứ ngày ngày xót xa nỗi nhớ quê.

2) Giá trị văn chương: b) Nghệ thuật: Thể loại và ngôn ngữ là 2 bình diện cơ bản nhất làm nên sự kết tinh nghệ thuật cao trong thơ văn Nguyễn Trãi.  Vận dụng thành công từ thuần Việt, tục ngữ, ca dao, va lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân.  nhà văn chính luận kiệt xuất, nhà thơ khai sáng văn học tiếng Việt 

Mười năm phiêu giạt tấm thân bồng, Vườn cũ ngày đêm nhớ quặn lòng. Quê mẹ tìm thăm, hồn gửi mộng, Mồ ông mong sửa, lệ tuôn hồng. Búa rìu khôn cản sau binh lửa, Đất khách đành than với núi sông. Bứt rứt tấc lòng khôn lối giải, Thâu đêm trằn trọc, cửa thuyền không. Hoặc: Hé cửa, đêm chờ hương quế lọt Quét hiên, ngày lệ (e ngại) bóng hoa tan

PHẦN HAI:

TÁC PHẨM BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO

I/ TIỂU DẪN:  Cáo:

thể văn nghị luận viết bằng văn xuôi, văn vần, hoặc đa số là văn biền ngẫu với lời lẽ hùng biện đanh thép, lí luận sắc bén, kết câu chặt chẽ mạch lạc; thường được vua chúa hoặc thủ lĩnhdùng để trình bày một chủ trương, một sự nghiệp… để mọi người cùng biết.  Đại cáo bình Ngô: bản tuyên ngôn độc lập lần hai của nước ta, được công bố vào tháng chạp, Đinh mùi (đầu 1428) tuyên bố rộng khắp về sự nghiệp dẹp yên giặc Minh do Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi soạn thảo.  Bố cục gồm 4 phần (SGK/ 16).

II/ TÌM HIỂU VĂN BẢN:

1) Nêu luận đề chính nghĩa: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”  Khẳng định nguyên lí chính nghĩa: tư tưởng nhân nghĩa trong việc trị dân gắn liền với chống giặc ngoại xâm. “Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu. Núi sông bờ cõi đã chia, Phong tục Bắc Nam cũng khác. Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập, Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, Song hào kiệt đời nào cũng có.”

1) Nêu luận đề chính nghĩa:  Dùng những từ có tính chất hiển nhiên, rút ra từ thực tiễn lịch sử kết hợp với việc đưa ra 5 nhân tố: VĂN HIẾN, CƯƠNG VỰC LÃNH THỔ, PHONG TỤC, CHẾ ĐỘ, TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ ( đặc biệt hai hạt nhân cơ bản là VĂN HIẾN và TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ) để xác định tính dân tộc. (

So với NAM QUỐC SƠN HÀ của Lý Thường Kiệt thì BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO thể hiện rõ bước tiến về tư tưởng thời đại, đồng thời cũng là tầm cao của tư tưởng Ức Trai).

Phân Tích Đoạn 1 Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi

Tài liệu hướng dẫn làm văn phân tích đoạn 1 bài Bình Ngô đại cáo do Đọc Tài Liệu biên soạn gồm gợi ý cách làm bài, dàn ý chi tiết cùng tuyển tập top 4 bài văn hay phân tích nội dung đoạn đầu bài Bình Ngô đại cáo củaNguyễn Trãi.

Cùng tham khảo ngay…

Hướng dẫn phân tích đoạn 1 Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi)

Đề bài: Phân tích đoạn 1 bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi.

1. Phân tích đề

– Yêu cầu của đề bài: phân tích nội dung đoạn 1 tác phẩm Bình Ngô đại cáo.

– Phạm vi tư liệu, dẫn chứng : từ ngữ, chi tiết, hình ảnh tiêu biểu trong đoạn thơ thứ nhất bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi.

– Phương pháp lập luận chính : phân tích.

2. Hệ thống luận điểm

– Luận điểm 1: Tư tưởng nhân nghĩa.

– Luận điểm 2: Lời tuyên ngôn độc lập.

– Luận điểm 3: Lời răn đe quân xâm lược.

3. Lập dàn ý chi tiết

a) Mở bài

– Giới thiệu sơ lược về tác giả Nguyễn Trãi và tác phẩm Bình Ngô đại cáo

+ Nguyễn Trãi là nhà chính trị, quân sự lỗi lạc, tài ba, nhà văn nhà thơ với sự nghiệp sáng tác đồ sộ.

+ Bình Ngô đại cáo là áng thiên cổ hùng văn, là bản tuyên ngôn hùng hồn của dân tộc ta.

– Dẫn dắt và nêu vấn đề: nội dung đoạn 1 bài Bình Ngô đại cáo.

b) Thân bài: Phân tích nội dung đoạn 1 Bình Ngô đại cáo

* Luận điểm 1: Tư tưởng nhân nghĩa.

– “Nhân nghĩa” là phạm trù tư tưởng của Nho giáo chỉ mối quan hệ giữa người với người dựa trên cơ sở tình thương và đạo lí.

+ Nhân: người, tình người (theo Khổng Tử)

+ Nghĩa: việc làm chính đáng vì lẽ phải (theo Mạnh Tử)

– “Nhân nghĩa” trong quan niệm của Nguyễn Trãi:

+ Kế thừa tư tưởng Nho giáo: “yên dân” – làm cho cuộc sống nhân dân yên ổn, hạnh phúc

+ Cụ thể hóa với nội dung mới đó là “trừ bạo” – vì nhân dân diệt trừ bạo tàn, giặc xâm lược.

* Luận điểm 2: Lời tuyên ngôn độc lập.

– Nguyễn Trãi đã xác định tư cách độc lập của nước Đại Việt bằng một loạt các dẫn chứng thuyết phục:

+ Nền văn hiến lâu đời

+ Cương vực lãnh thổ riêng biệt

+ Phong tục Bắc Nam phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc

+ Lịch sử lâu đời trải qua các triều đại Triệu, Đinh, Lí, Trần, hào kiệt đời nào cũng có.

– Các từ ngữ “từ trước, đã lâu, vốn xưng, đã chia” đã khẳng định sự tồn tại hiển nhiên của Đại Việt.

* Luận điểm 3: Lời răn đe quân xâm lược.

“Lưu Cung tham công nên thất bại, Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong. Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô, Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã. Việc xưa xem xét, Chứng cớ còn ghi.”

– Nguyễn Trãi đã sử dụng phép liệt kê, dẫn ra những kết cục của kẻ chống lại chân lí:

+ Lưu Cung – vua Nam Hán thất bại với chủ ý thu phục Đại Việt.

+ Triệu Tiết – tướng nhà Tống thua nặng khi cầm quân đô hộ nước ta.

+ Toa Đô, Ô Mã,… là các tướng nhà Nguyên cũng phải bỏ mạng khi cầm quân xâm lược.

* Đặc sắc nghệ thuật

– Ngôn ngữ đanh thép

– Giọng điệu hào hùng, mạnh mẽ

– Sử dụng các biện pháp so sánh, liệt kê,…

– Sử dụng những câu văn song hành,…

c) Kết bài

– Khái quát lại nội dung đoạn 1 bài Bình Ngô đại cáo.

– Cảm nhận của em về đoạn thơ.

4. Sơ đồ tư duy phân tích đoạn 1 Bình Ngô đại cáo

Top 4 bài văn hay phân tích đoạn 1 Bình Ngô đại cáo

Phân tích đoạn 1 Bình Ngô đại cáo mẫu số 1:

Nhắc đến những nhà văn chính luận lỗi lạc của văn học trung đại chúng ta không thể nào không nhắc đến Nguyễn Trãi. Ông không chỉ là một nhà thơ trữ tình sâu sắc mà còn là một nhà văn chính luận kiệt xuất với các tác phẩm: “Quân trung từ mệnh tập”, các chiếu biểu viết dưới thời nhà Lê và tiêu biểu nhất là tác phẩm Bình Ngô đại cáo. Các áng văn chính luận này đã thể hiện được lòng yêu nước, thương dân của tác giả.

Ngay câu đầu bài cáo đã bộc lộ tư tưởng nhân nghĩa ấy:

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

“Nhân nghĩa” là tấm lòng thương yêu người, là những hành động vì lợi ích của nhân dân, cộng đồng. Bên cạnh đó, “nhân nghĩa” cũng là sự tôn trọng lẽ phải, bênh vực lẽ phải. Chịu sự ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo nên đối với Nguyễn Trãi, “nhân nghĩa” là “yên dân”, “trừ bạo”, cuộc sống và sự no ấm của nhân dân phải được đặt lên hàng đầu. Giữa con người phải có tình yêu thương lẫn nhau, cùng chiến đấu để bảo vệ đất nước, thoát khỏi đời sống khổ cực, lầm than. Để được như vậy thì phải diệt trừ những kẻ bạo tàn, những thế lực xâm lược hung hãn, đó chính là giặc Minh đang xâm chiếm đất nước ta lúc bấy giờ. Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi chính là lòng yêu nước, thương dân và tinh thần chống giặc ngoại xâm quyết liệt. Đây không chỉ là mối quan hệ nằm trong phạm vi giữa con người với con người mà mở rộng ra là mối quan hệ giữa dân tộc với dân tộc.

Để khẳng định chủ quyền của đất nước, tác giả đã đưa ra những dẫn chứng xác đáng và vô cùng thuyết phục:

“Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu. Núi sông bờ cõi đã chia, Phong tục Bắc Nam cũng khác. Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập, Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương. Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, Song hào kiệt đời nào cũng có”.

Nền văn hiến đã có từ lâu đời và được hình thành từ khi đất nước ta tồn tại theo hàng nghìn năm lịch sử đã tạo nên một diện mạo riêng của dân tộc. Cùng với đó là sự phân chia về lãnh thổ, núi sông và các phong tập tập quán đặc trưng của hai miền Nam, Bắc đã thể hiện đất nước ta là một đất nước có chủ quyền, có các anh hùng hào kiệt luôn cống hiến, chiến đấu hết mình để bảo vệ non sông. Không chỉ vậy, Nguyễn Trãi còn đặt các triều đại của nước ta ngang hàng với các triều đại của Trung Quốc như Hán, Đường, Tống, Nguyên. Nếu các triều đại phương Bắc phát triển hưng thịnh thì các triều đại Việt Nam cũng phát triển hùng mạnh không kém. Điều đó đã thể hiện lòng tự tôn, tự hào dân tộc sâu sắc của tác giả.

Ông đã nhắc lại nhiều chiến thắng lừng lẫy của nước Đại Việt như một lời khẳng định sự thất bại thảm hại của kẻ thù:

“Lưu Cung tham công nên thất bại, Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong. Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô, Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã. Việc xưa xem xét, Chứng cớ còn ghi”.

Những tướng của nhà Tống, nhà Nguyên đều bị các tướng giỏi của ta đánh cho thất bại. Chúng vì “tham công”, “thích lớn” nên phải chịu hậu quả nặng nề. Các sự kiện ấy còn được nhân dân ta lưu lại trong sử sách để muôn đời ghi nhớ. Các phép đối, so sánh ngang hàng các triều đại phong kiến của nước ta với các triều đại phương Bắc cùng phép liệt kê và giọng điệu hào hùng, trang nghiêm ở đoạn thứ nhất của bài cáo đã thể hiện nổi bật tư tưởng nhân nghĩa của tác giả.

Ông đã vạch trần, tố cáo những tội ác mà quân Minh xâm lược thực hiện với nhân dân ta:

“Nhân họ Hồ chính sự phiền hà, Để trong nước lòng dân oán hận. Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa, Bọn gian tà bán nước cầu vinh”.

Quân Minh đã lợi dụng “chính sự phiền hà” của nhà Hồ để chớp lấy thời cơ xâm chiếm nước ta. Bước chân xâm lược của chúng giày xéo lên đất nước ta khiến nhân dân vô cùng oán hận, căm thù. Cũng lợi dụng điều đó mà bọn gian tà chỉ biết nghĩ đến lợi ích của cá nhân đã tiếp tay cho kẻ thù xâm lược để mang lại những vinh hoa, lợi lộc cho bản thân mà không chiến đấu vì nhân dân, tổ quốc.

Giặc Minh đã gây ra những tội ác không thể dung tha:

“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ. Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế, Gây binh kết oán trải hai mươi năm. Bại nhân nghĩa nát cả đất trời, Nặng thuế khóa sạch không đầm núi”.

Nhân dân ta phải chịu cảnh khổ cực, lầm than dưới gót chân xâm lược của chúng. Chúng đem “nướng”, “vùi” nhân dân ta trên ngọn lửa và “dưới hầm tai vạ”. Chúng cai trị nhân dân ta bằng các loại thuế vô lí, các kế sách lừa lọc nham hiểm và cả sự tra tấn dã man, hung bạo. Những người dân vô tội phải chịu sự áp bức, bóc lột nặng nề của giặc Minh.

Không chỉ vậy, chúng còn hủy hoại cả môi trường sống, môi trường tự nhiên của dân tộc ta:

“Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập, thuồng luồng. Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc. Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng, Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt”.

Chịu sự đô hộ của quân Minh cũng đồng nghĩa với việc nhân dân ta phải đối mặt với sự cai trị tàn bạo và những hành động hung hãn của chúng. Chúng vô nhân tính đến mức bắt ép dân đen “xuống biển dòng lưng mò ngọc”, “vào núi đãi cát tìm vàng”, bắt nhân dân ta đến những nơi nguy hiểm luôn rình rập, đe dọa đến tính mạng để tìm kiếm những vật có giá trị cho quân cuồng Minh. Nhân dân ta bị biến thành nô lệ cho kẻ thù và cũng là miếng mồi ngon cho các loài động vật cá mập, thuồng luồng hung dữ. Chúng xâm chiếm nước ta để vơ vét hết sản vật quý hiếm như chim trả dùng để làm áo và đệm, hươu đen dùng để làm vị thuốc bổ. Có thể nói, tham vọng xâm lược nước ta của giặc Minh vô cùng lớn.

Không chỉ đẩy dân ta vào nguy hiểm, chết chóc mà chúng còn “tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ”. Do quân Minh “máu mỡ bấy no nê chưa chán”, xây nhà đắp đất liên miên nên nhân dân ta rơi vào cảnh ngộ đầy bi thương, khốn khổ:

“Nặng nề những nỗi phu phen Tan tác cả nghề canh cửi”.

Những tội ác của quân Minh không sao kể hết bởi lẽ:

“Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội, Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi. Lẽ nào trời đất dung tha, Ai bảo thần nhân chịu được”?

Ngay cả trúc Nam Sơn, nước Đông Hải cũng không thể ghi hết tội ác và rửa sạch mùi dơ bẩn của quân xâm lược. Những hành động tàn ác, dã man của chúng khiến trời đất cũng không thể dung tha huống chi là con người. Câu hỏi tu từ cuối đoạn thứ hai đã nhấn mạnh thêm một lần nữa tội ác của kẻ thù. Chúng ta không thể nào tha thứ cho những kẻ đã tàn sát đồng bào, tàn hại cả cây cỏ thiên nhiên của đất nước mình.

Hình ảnh đối lập giữa những người dân đen vô tội bị bóc lột tàn bạo và kẻ thù vô nhân tính cùng giọng điệu cảm thương, đanh thép, lí luận sắc bén đã thể hiện tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi. Hai đoạn đầu của bài cáo là bản cáo trạng hùng hồn tố cáo những hành động dã man của quân Minh. Đó là minh chứng tiêu biểu nhất cho sự khổ cực, áp bức, sự cướp bóc, bóc lột trắng trợn mà nhân dân ta phải gánh chịu trong suốt thời gian chúng “Gây binh kết oán trải hai mươi năm”.

Chứng minh Bình Ngô Đại cáo là bản tuyên ngôn độc lập Nghe bài văn phân tích đoạn 1 bài Bình Ngô Đại Cáo

Phân tích đoạn 1 Bình Ngô đại cáo mẫu số 2:

Nguyễn Trãi (1380 – 1442) là nhà chính trị, quân sự lỗi lạc, tài ba có công lớn trong công cuộc dẹp giặc Minh đem lại nền thái bình thịnh trị cho nước nhà. Ông còn là một nhà văn nhà thơ lớn với khối lượng tác phẩm đồ sộ bao gồm cả văn học chữ Hán và chữ Nôm. Trong đó phải kể đến một số tác phẩm như: Đại cáo bình Ngô, Quân trung từ mệnh tập, Quốc Âm thi tập, Ức Trai thi tập… Đại cáo bình Ngô được coi là áng “Thiên cổ hùng văn” muôn đời bất hủ, là bản tuyên ngôn đanh thép, hùng hồn về nền độc lập và vị thế dân tộc. Trong đó, cốt lõi là phần đầu tác phẩm với lý tưởng nhân nghĩa được thể hiện rõ ràng:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

Nhân nghĩa là tư tưởng chủ đạo của Đại cáo bình Ngô, là mục tiêu chiến đấu vô cùng cao cả và thiêng liêng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Mở đầu bài cáo tác giả nêu luận đề chính nghĩa. Việc nhân nghĩa của Nguyễn Trãi ở đây là “yên dân” và “trừ bạo”. “Yên dân” chính là giúp dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, như vậy dân có yên thì nước mới ổn định, mới phát triển được. Tác giả đưa vào “yên dân” như để khẳng định đạo lý “lấy dân làm gốc” là quy luật tất yếu trong mọi thời đại là tài sản, là sức mạnh, sinh khí của một quốc gia.

Có thể nói, tư tưởng nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi không còn là phạm trù đạo đức hạn hẹp mà là một lý tưởng xã hội: phải chăm lo cho nhân dân được sống cuộc hạnh phúc, yên bình. Điều quan trọng hơn là ở đây, Nguyễn Trãi nâng lý tưởng, nỗi niềm ấy lên thành một chân lí. Ông không nói đến nhân nghĩa một cách chung chung mà chỉ bằng một hai câu ngắn gọn tác giả đi vào khẳng định hạt nhân cơ bản, cốt lõi và có giá trị nhất. Không những thế, nhân nghĩa còn gắn liền với việc bảo vệ chủ quyền đất nước, khẳng định chủ quyền quốc gia, tinh thần độc lập dân tộc:

“Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Núi sông bờ cõi đã chia Phong tục Bắc Nam cũng khác” Từ Triệu , Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập Đến Hán, Đường, Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương. Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, Song hào kiệt đời nào cũng có.

Khi khẳng định chân lí này, Nguyễn Trãi đã đưa ra một quan niệm được đánh giá là đầy đủ nhất lúc bấy giờ về các yếu tố tạo thành một quốc gia độc lập.Nếu như 400 năm trước, trong Nam Quốc Sơn Hà, Lý Thường Kiệt chỉ xác định được hai yếu tố về lãnh thổ và chủ quyền trên ý thức quốc gia cùng độc lập dân tộc thì trong Bình Ngô đại cáo, NguyễnTrãi đã bổ sung thêm bốn nhân tố nữa, gồm văn hiến, lịch sử, phong tục tập quán và nhân tài. Đây chính là điểm sáng tạo cho thấy trí tuệ của Nguyễn Trãi. Ở mỗi một quốc gia, nền văn hiến ngàn năm không ai có thể nhầm lẫn được, cương thổ, núi, sông, đồng ruộng, biển cả đều được chia rõ ràng. Phong tục tập quán cũng như văn hoá mỗi miền Bắc, Nam cũng khác. Ở đây, Nguyễn Trãi nhấn mạnh cả Trung Quốc và Đại Việt đều có những nét riêng không thể nhầm lẫn, thay đổi hay xóa bỏ được. Cùng với đó là từng triều đại riêng nhằm khẳng định chủ quyền. Qua câu thơ, Nguyễn Trãi đã đặt các triều đại “Triệu, Đinh, Lí, Trần” của ta ngang hàng với ” Hán, Đường, Tống, Nguyên” của Trung Quốc , điều đó cho ta thấy, nếu không có một lòng tự hào dân tộc mãnh liệt thì không thể nào có sự so sánh cực kì hay và tinh tế như vậy. Cuối cùng chính là nhân tài, con người cũng là yếu tố quan trọng để khẳng định nền độc lập của chính mình. Tuy thời thế “mạnh, yếu từng lúc khác nhau” song hào kiệt thì đời nào cũng có, câu thơ như lời răn đe đối với những ai, những kẻ nào, nước nào muốn thơn tính Đại Việt.

Từ năm yếu tố trên, Nguyễn Trãi đã khái quát gần như toàn diện về nền độc lập của một quốc gia. So với “Nam Quốc Sơn Hà” của Lý Thường Kiệt, Bình Ngô đại cáo thật sự hay hơn , đầy đủ, toàn diện hơn về nội dung cũng như tư tưởng xuyên suốt. Ngoài ra , để nhấn mạnh tư cách độc lập của nước ta, tác giả còn sử dụng cách viết sánh đôi nước ta và Trung Quốc: về bờ cõi, phong tục – hai nước ngang bằng nhau, về triều đại-bốn triều đại cường thịnh của ta so với bốn triều đại của Trung Quốc cùng nhân tài thời nào cũng có đã chứng tỏ ta không hề thua kém chúng.

Xuyên suốt đoạn thơ, Nguyễn Trãi đã sử dụng nhiều từ ngữ chỉ tính chất hiển nhiên vốn có khi nêu rõ sự tồn tại của Đại Việt: “từ trước”, “đã lâu” ,”đã chia”, “cũng khác” đã làm tăng sức thuyết phục lên gấp bội. Nghệ thuật thành công nhất của đoạn một – cũng như là bài cáo – chính là thể văn biền ngẫu được nhà thơ khai thác triệt để. Phần còn lại của đoạn đầu là chứng cớ để khẳng định nền độc lập, về các cuộc chiến trước đây với phương Bắc trong lịch sử chúng đều thất bại là chứng cớ khẳng định rõ nhất:

Lưu Cung tham công nên thất bại Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã Việc xưa xem xét Chứng cứ còn ghi.

Nguyễn Trãi đã tổng kết những chiến công oanh liệt của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, giữ gìn nền độc lập dân tộc. Cách liệt kê, chỉ ra dẫn chứng rõ ràng, cụ thể, xác thực đã được công nhận bằng những lời lẽ chắc chắn, hào hùng, thể hiện niềm tự hào, tự tôn dân tộc. Người đọc thấy ở đây ý thức dân tộc của Nguyễn Trãi đã vươn tới một tầm cao mới khi nêu cụ thể, rõ ràng từng chiến công oanh liệt của quân và dân ta: “cửa Hàm Tử”, “sông Bạch Đằng”,..thêm vào đó là sự xem thường, căm ghét đối với sự thất bại của những kẻ xâm lược không biết tự lượng sức : “Lưu chúng tôi công”, “Triệu Tiết… thích lớn”, Toa Đô, Ô Mã, tất cả chúng đều phải chết thảm. Đoạn thơ đã một lần nữa khẳng định rằng: Đại Việt là một quốc gia có độc lập, tự chủ, có nhân tài, có tướng giỏi, chẳng thua kém gì bất cứ một quốc gia nào. Bất cứ kẻ nào có ý muốn thôn tính, xâm lược ta đều phải chịu kết quả thảm bại. Cuộc chiến chống lại quân giặc, bảo vệ dân tộc là một cuộc chiến vì chính nghĩa, lẽ phải, chứ không như nhiều cuộc chiến tranh phi nghĩa khác, cho nên, dù thế nào đi nữa, chính nghĩa nhất định thắng gian tà theo quy luật của tạo hóa.

Đại cáo bình Ngô tràn ngập nguồn cảm hứng trữ tình và mang tính chất hào hùng hiếm có. Trong đó, phần đầu tác phẩm, với nghệ thuật biền ngẫu, đã nêu được hai nội dung chính gần như hết bài cáo là nhân nghĩa và nền độc lập của dân tộc Đại Việt. Chính vì vậy, đoạn trích có giá trị rất sâu sắc đối với nước ta, khẳng định nhân dân ta có tinh thần nhân nghĩa và nền độc lập riêng của mình. Đoạn thơ giúp ta hiểu rõ chủ quyền lãnh thổ, độc lập dân tộc cũng như lịch sử đấu tranh hào hùng của cha ông ta ngày trước, qua đó bồi dưỡng lòng yêu nước, tự hào tự tôn dân tộc, quyết tâm xây dựng, bảo vệ và củng cố độc lập chủ quyền nước nhà.

Phân tích đoạn 1 Bình Ngô đại cáo mẫu số 3:

“Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi”

Năm 1418, Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa tại rừng núi Lam Sơn – Thanh Hóa. Sau 10 năm chiến đấu gian lao và anh dũng, quân ta đã quét sạch giặc Minh ra khỏi bờ cõi, giành lại độc lập, tự do cho đất nước và dân tộc.

Đầu xuân năm 1428, Nguyễn Trãi đã thay Lê Lợi viết bài “Bình Ngô đại cáo”, tổng kết những chiến công oanh liệt trong 10 năm kháng chiến và tuyên bố Đại Việt bước sang một kỉ nguyên mới “Muôn thuở nền thái bình vững chắc”.

Phần đầu ” Bình Ngô đại cáo “, Nguyễn Trãi nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, đồng thời ca ngợi nền vàn hiến rực rỡ lâu đời của Đại Việt. Nhân nghĩa là mục tiêu chiến đấu của nhân dân ta:

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”.

Yên dân, điếu phạt, trừ bạo là cốt lõi của tư tưởng nhân nghĩa, tất cả đều hướng về con người, về nhân dân đang bị áp bức lầm than. Thuơng dân, đánh kẻ có tội (điếu phạt), tiêu diệt lũ tham tàn, bạo ngược (trừ bạo), cứu nhân dân thoát khỏi chết chóc đau thương, đem lại cuộc sống yên vui hạnh phúc cho nhân dân (yên dân), đó là việc nhân nghĩa.

Nhân nghĩa mà Nguyễn Trãi nói đến là một tư tưởng vô cùng cao đẹp: đánh giặc để cứu nước, cứu dân, vì độc lập của đất nước, vì tự do, hạnh phúc, hòa bình của nhân dân. Việc nhân nghĩa nên rất chính nghĩa. Nhân nghĩa là sức mạnh vô địch để chiến thắng quân “cuồng Minh”.

“Đem đại nghĩa để tháng hung tàn Lấy chí nhân để thay cường bạo”.

Nhân dân ta giàu nhân nghĩa nên lấy nhân nghĩa để xây dựng và phát triển nền văn hiến lâu đời, rực rỡ của Việt Nam. Nếu ở “Nam quốc sơn hà”, Lí Thường Kiệt chỉ mới nói đến sông núi nước Nam là nơi “Nam đế cư”, lãnh thổ thiêng liêng ấy đã được “định phận rõ ràng ở sách Trời”, thì ở “Bình Ngô đại cáo”, Nguyễn Trãi đứng trên đỉnh cao thời đại “Bình Ngô” đã có một cái nhìn mới sâu sắc và toàn diện về đất nước, nhân dân Đại Việt:

“Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đà lâu Núi sông bờ cõi đã chia Phong tục Bắc Nam cùng khác Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau Song hào kiệt đời nào cũng có”.

Nước Đại Việt đâu phải “man đi mọi rợ” mà rất đáng tự hào.Có nền văn hiến đã lâu, Có lãnh thổ, núi sông, bờ cõi, Có thuần phong mĩ tục, Có nền độc lập trải qua nhiều triều đại “xưng để một phương”,Có nhân tài hào kiệt.

Năm yếu tố ấy hợp thành đã tạo nên tầm vóc Đại Việt, sức mạnh Đại Việt để đánh bại mọi âm mưu xâm lược bành trướng của Thiên Triều, lập nên bao chiến công chói lọi.

“Lưu Cung tham công nên thất bại Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã”.

Giọng văn đĩnh đạc hào hùng. Lí lẽ sắc bén, đanh thép và lối diễn đạt sóng đôi, cân xứng của những câu văn biền ngẫu đã khẳng định và ngợi ca tầm vóc lịch sử lớn lao của Đại Việt, biểu lộ một ý chí, tự cường dân tộc cao độ.

Phần mở đầu đã góp phần thể hiện tuyệt đẹp giá trị tư tưởng và nghệ thuật của ” Bình Ngô đại cáo “, bản tuyên ngôn độc lập, áng “thiên cổ hùng văn” của dân tộc.

Phân tích đoạn 1 Bình Ngô đại cáo mẫu số 4:

Nhân nghĩa xưa nay vốn là một nội dung rất tích cực của Nho giáo. Đó là sự hi sinh, thương yêu và đùm bọc giữa con người với nhau. Thế nhưng, Nguyễn Trãi đã định nghĩa “nhân nghĩa” rất lạ. Theo ông “nhân nghĩa” tức là phải yêu dân, phải lo đặt hạnh phúc của nhân dân lên hàng đầu và hãy chiến đấu vì hạnh phúc đó.

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

Rõ ràng đây là một mục đích cao đẹp: Chiến đấu cho nhân dân. Thế đấy, đối với Nguyễn Trãi, “nhân nghĩa” giờ đây không còn là khái niệm mà phải biến nó thành hành động, thành “việc nhân nghĩa”.

Vì cái đích rất cụ thể là giải phóng đất nước, đưa nhân dân thoát khỏi kiếp lầm than, không phải làm thân phận súc nô và có nguy cơ bị diệt chủng.

Tiếp theo bài cáo, Nguyễn Trãi đã cất giọng, khẳng khái xưng danh hiệu tên nước: “Như nước Đạ Việt ta từ trước” và khẳng định: “Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”. Đúng thế, đây là một quốc gia hoàn toàn độc lập, có một nền văn hiến đã rất lâu đời, có những “phong tục” tập quán rất riêng không trùng lặp với bất cứ quốc gia nào khác, và quan trọng hơn nữa, đã bao thế kỉ qua, nó vẫn cứ tồn tại bình đẳng và đầy kiêu hãnh bên cạnh cách triều đại của các hoàng đế Trung Hoa.

“Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”

Vâng, nước Đại Việt đã bao đời nay vẫn hùng mạnh như thế. Tuy đất nước này chỉ là một quốc gia nhỏ bé thôi nhưng cũng dám xưng “đế” như ai, quyết không chịu làm “vương” dưới chân kẻ khác và còn là một quốc gia đầy “nhân nghĩa”.

Và sau cùng, Nguyễn Trãi đã rất hả hê khi nhắc lại những chiến công oanh liệt do những anh hùng hào kiệt nước Đại Việt lập nên. Ông như muốn cười vào mũi bọn phương Bắc – cái lũ đã xem nước ta như một quận huyện nhỏ của chúng, cái lũ chỉ tham công, thích lớn, thậm chí còn trắng trợn muốn làm cỏ nước Nam – thế mà lại thua te tua và thảm hại, thua hết sức nhục nhã mỗi khi giao chiến với nước Nam nhỏ bé ấy:

Lưu Cung tham công nên thất bại Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong; Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã Việc xưa xem xét, chứng cứ còn ghi.

Phần một của bài cáo là một lời khẳng định hết sức tự hào và đầy khoa học về đất nước: Đây là một đất nước có nhân nghĩa, có một nền văn hiến hết sức lâu đời và nhờ lấy “nhân nghĩa” làm triết lí sống nên mới có được nền văn hiến lâu đời đến như vậy, mới đánh thắng được bọn xâm lược phương Bắc, những kẻ không có chút “nhân nghĩa” đó. Hơn nữa, qua phần một của bài cáo, ta còn cảm nhận được tấm lòng của Nguyễn Trãi đối với đất nước: Ông hết sức tự hào về non sông này và ông đã thể hiện niềm yêu nước thật mãnh liệt. Tấm lòng ấy chắc chắn sẽ không bao giờ phai nhạt theo năm tháng và thời gian.

-/-

Huyền Chu (Tổng hợp)

Soạn Bài Đại Cáo Bình Ngô

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

– Đoạn 2: Nêu cao lòng căm thù, tố cáo và lên án gay gắt tội ác của giặc Minh.

– Đoạn 3: Kể lại diễn biến của cuộc kháng chiến từ khi mở đầu hết sức khó khăn đến lúc thắng lợi hoàn toàn, nêu cao sức mạnh tư tưởng nhân nghĩa và sức mạnh của lòng yêu nước kết tinh thành sức mạnh của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

– Đoạn 4: Lời tuyên bố hoà bình, khẳng định ý nghĩa của cuộc kháng chiến.

Câu 2 (trang 23 SGK Ngữ văn 10 tập 2) Tìm hiểu đoạn mở đầu (Từ Từng nghe… đến… chứng cớ còn ghi): a) Có những chân lí nào được khẳng định để làm chỗ dựa, làm căn cứ xác đáng cho việc triển khai toàn bộ nội dung bài cáo? b) Vì sao đoạn mở đầu có ý nghĩa như lời tuyên ngôn độc lập? c) Tác giả đã có cách viết như thế nào để làm nổi bật niềm tự hào dân tộc? (Lưu ý cách dùng từ, sử dụng nghệ thuật so sánh, câu văn biền ngẫu sóng đôi, cân xứng, cách nêu dẫn chứng từ thực tiễn,…) Lời giải chi tiết:

a. Nguyễn Trãi nêu nguyên lí chính nghĩa làm chỗ dựa, làm căn cứ xác đáng để triển khai toàn bộ nội dung báo cáo. Nguyên lí này có hai nội dung: tư tưởng nhân nghĩa và chân lí về sự tồn tại độc lập của nước Đại Việt.

b. Đoạn mở đầu có ý nghĩa như lời tuyên ngôn độc lập, bởi vì sau khi nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, tác giả nói về sự tồn tại độc lập, chủ quyền của nước Đại Việt như một chân lí khách quan hiển nhiên, vốn có lâu đời.

c. Để làm nổi bật niềm tự hào dân tộc. Nguyễn Trãi đã đưa ra những yếu tố căn bản để xác định độc lập, chủ quyền: cương vực lãnh thổ, phong tục tập quán, nền văn hiến lâu đời và đặc biệt các triều đại phong kiến Việt Nam song song với các triều đại phong kiến Trung Quốc.

“Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương” Câu 3 (trang 23 SGK Ngữ văn 10 tập 2) a. Tác giả đã tố cáo những âm mưu, những hành động tội ác nào của giặc Minh? Âm mưu nào là thâm độc nhất? Tội ác nào là man rợ nhất? b. Nghệ thuật của đoạn cáo trạng tội ác kẻ thù có gì đặc sắc? (Lưu ý những câu văn giàu hình tượng; giọng văn thay đổi linh hoạt, phù hợp với cảm xúc.) Lời giải chi tiết:

a. Nguyễn Trãi đã đứng trên lập trường dân tộc để vạch rõ âm mưu của giặc Minh và đứng trên lập trường nhân bản để tố cáo chủ trương cai trị thâm độc và tội ác của giặc. Đó là âm mưu cướp nước, là luận điệu “phù Trần diệt Hồ” bịp bợm. Đó là tội “nướng dân đen “vùi con đỏ”, “nặng thuế khoá”, “tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ/ đó là những âm mưu hiểm độc và những tội ác man rợ.

b. Nghệ thuật:

– Tác giả dùng hình tượng có sức khái quát cao:

“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,/ Vùi con đỏ xuống hầm tai vạ”

– Dùng những câu văn giàu cảm xúc, hình tượng

– Giọng văn, nhịp điệu thay đổi linh hoạt

– Lời văn uất hận trào sôi, kết hợp với niềm thương cảm tha thiết, khi nghẹn ngào, khi tấm tức

Câu 4 (trang 23 SGK Ngữ văn 10 tập 2) Tìm hiểu đoạn 3 (Từ “ta đây” đến”cũng là chưa thấy xưa nay”) a. Giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn được tác giả tái hiện như thế nào? (Có những khó khăn gian khổ gì? Người anh hùng Lê Lợi tiêu biểu cho cuộc khởi nghĩa có ý chí, quyết tâm như thế nào? Sức mạnh nào giúp quân ta chiến thắng?) b) Khi tái hiện giai đoạn phản công thắng lợi, bài cáo miêu tả bức tranh toàn cảnh cuộc khởi nghĩa Lam Sơn: – Cho biết có những trận đánh nào, mỗi trận có đặc điểm gì nổi bật? – Phân tích những biện pháp nghệ thuật miêu tả thế chiến thắng của ta và sự thất bại của giặc. – Phân tích tính chất hùng tráng của đoạn văn được gợi lên từ ngôn ngữ, hình ảnh, nhịp điệu câu văn. Lời giải chi tiết:

a. Giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa được tác giả chủ yếu tập trung khắc hoạ hình tượng Lê Lợi. Chân dung vị tướng hiện lên qua cách xưng danh khẳng khái (Ta đây: núi Lam Sơn dấy nghĩa…), qua lòng căm thù giặc sâu sắc (ngẫm thù lớn… căm giặc nước…) qua ý thức tự giác và nhiệt huyết cứu nước trở thành thường trực (Đau lòng nhức óc…, Nếm mật nằm gai…, Quên ăn vỉ giận… Ngẫm trước đến nay…, Chỉ bân khoăn một nỗi đồ hồi….), qua đó thái độ cầu hiền (Tấm lòng cứu nước… còn dành phía tả), qua tinh thần khắc phục khó khăn (Khi Linh Sơn… khắc phục gian nan), qua khả năng thu phục lòng người tạo ra nên sức mạnh đoàn kết quân dân (Nhân dân bốn cõi… chén rượu ngọt ngào), đặc biệt là mưu chức tài giỏi (thế trận xuất kĩ… lấy ít địch nhiều).

– Tác giả đã sử dụng những từ ngữ, điển cố, hình ảnh có sức biểu đạt lớn để dựng lên chân dung đầy đủ của người anh hùng dan tộc Lê Lợi khiến cho người đọc tự hào, ngưỡng mộ, cảm phục.

– Sức mạnh giúp quân ta chiến thắng chính là sức mạnh đoàn kết toàn dân. Nguyễn Trãi trong bản Tuyên ngôn Độc lập này đã đề cao vai trò và sức mạnh của nhân dân.

b. Khi tái hiện giai đoạn phản công thắng lợi, bài cáo miêu tả bức tranh toàn cảnh cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

Với giọng văn tung hoành, cuồn cuộn khí thế như một bản anh hùng ca chiến thắng; với những hình ảnh so sánh tương phản độc đáo, tác giả đã miêu tả thành công khí thế chiến thắng của quân ta và sự thất bại thảm hại của giặc Minh. So sánh qua sơ đồ sau:

– Sấm vang chớp giật, trúc chẻ tro bay; thừa thắng ruổi dài…

– Nghe hơi mà mất vía; nín thở cầu thoát thân, máu chảy thành sông; thây chất đầy nội

– Đưa lưỡi dao tung phá; bốn mặt vây thành; người hùng hổ; kẻ vuốt nanh gươm mài đá, voi uống nước, sạch không kình ngạc, tan tác chim muông, cơn gió to, tổ kiến hổng

– Lê gối dâng tờ tạ tội: trói tay tự xin hàng: thây chất đầy đường; máu trôi đỏ nước; máu chảy trôi chày; thây chất thành núi; cỏ nội đầm đìa máu đen

Đó là những hình ảnh “thể hiện quy mô vũ trụ khổng lồ của sức mạnh chính nghĩa” (Trần Đình Sử). Bên cạnh việc sử dụng hình ảnh ẩn dụ, so sánh, tương phản, tác giả còn sử dụng nghệ thuật liệt kê, trùng điệp, câu văn, nhịp điệu dài ngắn đan xen, sự biến hoá linh hoạt, tài tình tạo nên âm hưởng vừa hào hùng vừa mạnh mẽ, vừa gợi cảm tráng ca, vừa khắc hoạ khí thế rung trời, chuyển đất của nghĩa quân, vừa khắc hoạ sự tan tác tơi bời của quân giặc.

– Từ hình tượng đến ngôn từ, từ màu sắc đến âm thanh, nhịp điệu, tất cả đều mang đậm tính chất anh hùng ca. Những hình tượng phong phú, đa dạng được đo bằng sự rộng lớn, kì vĩ của thiên nhiên. Câu văn khi ngắn, khi dài biến hoá linh hoạt mà nhạc điệu chung là dồn dập, sảng khoái, bay bổng. Đó là nhịp của triều dâng, sóng dậy, hết lớp này đến lớp khác.

Câu 5 (trang 23 SGK Ngữ văn 10 tập 2) T– Giọng văn ở đoạn này có gì khác với những đoạn trên? Do đâu có sự khác nhau đó? – Trong lời tuyên bố nền độc lập dân tộc đã được lập lại, Đại cáo bình Ngô đồng thời nêu lên bài học lịch sử đó đối với chúng ta ngày nay như thế nào? Lời giải chi tiết: ìm hiểu đoạn kết (Từ “xã tấc từ đây…” đến ai nấy đều hay”):

– Giọng văn trịnh trọng phù hợp với lời tuyên bố độc lập. Vì:

+ Là lời tuyên bố trang nghiêm trịnh trọng về nền độc lập dân tộc, chủ quyền của đất nước nay đã được lặp lại. Tương lai tốt đẹp đang chờ đón.

Câu 6* (trang 23 SGK Ngữ văn 10 tập 2) Rút ra những giá trị chung về nội dung và nghệ thuật của “Đại cáo bình Ngô”, đồng thời phân tích những giá trị đó. Lời giải chi tiết:

+ Nhắc đến sức mạnh truyền thống, công lao của tổ tiên và quy luật thịnh – suy, bĩ – thái mang đậm triết lí phương Đông.

– Bài học lịch sử: Có được chiến công, có nền độc lập là bởi “Nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng ngầm giúp đỡ”… cách nói đề cao truyền thống, khẳng định sức mạnh bền bỉ, ý thức tự tôn của cả dân tộc? Bài học lịch sử này có ý nghĩa rất lớn đối với mọi người và mọi thời, nhất là người được sống trong hoà bình, độc lập.

– Giá trị nội dung: Bình Ngô đại cáo nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, lòng yêu nước và ý thức tự tôn dân tộc. Đó là những yếu tố quyết định thắng lợi vẻ vang của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn

Luyện tập Câu 1 (trang 23 SGK Ngữ văn 10 tập 2) Lập sơ đồ kết cấu của Bình Ngô đại cáo và phân tích tác dụng của nghệ thuật kết cấu đó. Lời giải chi tiết:

– Giá trị nghệ thuật: Tác giả đã vận dụng một cách sáng tạo lối kết cấu chung của thể cáo, lấy tư tưởng nhân nghĩa và độc lập dân tộc làm cơ sở chân lí để triển khai lập luận. Mọi lí lẽ luôn gắn liền với thực tiễn bằng những dẫn chứng xác đáng. Tác giả đã kết hợp một cách tài tình sức mạnh của lí lẽ và giá trị biểu cảm của hình tượng nghệ thuật tạo nên một áng văn bất hủ.

ND chính

Bình Ngô đại cáo là một áng văn nghị luận có sự kết hợp hài hoà giữa yếu tố chính luận và yếu tố nghệ thuật. Kết cấu của bài cáo rất chặt chẽ, thể hiện tính chính luận và sự kết hợp chính luận – nghệ thuật. Có thể lập sơ đồ kết cấu như sau:

chúng tôi

Sơ đồ kết cấu trên cho thấy tính chính luận mẫu mực của một áng văn chính luận. Trước hết nêu lên tiền đề chính nghĩa có tính chân lí làm cơ sở vững chắc cho lập luận. Trên cơ sở ấy, tác giả đem tiền đề lí luận soi sáng vào thực tiễn để chứng minh tính đúng đắn của nó. Cuối cùng là kết luận được rút ra từ thực tiễn. Đó là lời kết luận phải đổi bằng xương máu nên vô cùng thấm thìa. Bài học được rút ra có giá trị nhân văn to lớn và sâu sắc.

Đạo cáo bình Ngô tố cáo tội ác kẻ thù xâm lược, ca ngợi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Bài cáo được coi là bản tuyên ngôn độc lập, một “áng thiên cổ hùng văn” của dân tộc ta.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Giáo Án Ngữ Văn Lớp 10 Tiết 61, 62 Đọc Văn: Đại Cáo Bình Ngô (Bình Ngô Đại Cáo) Nguyễn Trãi trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!