Đề Xuất 1/2023 # Giáo Án Đọc Văn: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc # Top 7 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 1/2023 # Giáo Án Đọc Văn: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc # Top 7 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Giáo Án Đọc Văn: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tiết 21,22,23 Đọc văn: VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC -Nguyễn Đình Chiểu- A.MỤC TIÊU CẦN ĐẠT: Giúp HS: -Nắm được những kiến thức cơ bản về thân thế, sự nghiệp và giá trị nội dung, nghệ thuật của thơ văn NĐC -Cảm nhận được vẻ đẹp bi tráng của bức tượng đài có 1 không 2 trong lịch sử VHVN thời trung đại về người nông dân nghĩa sĩ -Cảm nhận được tiếng khóc bi tráng của NĐC: khóc thương những nghĩa sĩ hi sinh khi sự nghiệp còn dang dở, khóc thương cho một thời kì lịch sử khổ đau nhưng vĩ đại của dân tộc -Nhận thức được những thành tựu xuất sắc về mặt ngôn ngữ, nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật, sự kết hợp nhuần nhuyễn tính hiện thực và giọng điệu trữ tình bi tráng, tạo nên giá trị sử thi của bài văn này -Bước đầu hiểu được những nét cơ bản về văn tế B.TIẾN TRÌNH DẠY HỌC: *Ổn định: *KT bài cũ: *Bài mới: Hoạt động của GV và HS Yêu cầu cần đạt HS đọc phần tiểu dẫn GV yêu cầu HS nhớ những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp của NĐC Qua cuộc đời của NĐC em có cảm nhận gì về con người nhà thơ? Nêu những TP chính trong 2 giai đoạn sáng tác của NĐC? Từ TP Lục Vân Tiên đã học ở lớp 9 hãy cho biết lí tưởng đạo đức của NĐC được xây dựng dựa trên cơ sở tình cảm nào?Vì sao như vậy?Hãy lấy những ví dụ cụ thể từ TP để làm rõ điều này? Trình bày những nội dung trữ tình yêu nước trong thơ văn NĐC?Tác đọng tích cực của những sáng tác thơ văn ấy đến cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp đương thời? HS đọc phần tiểu dẫn Nêu ngắn gọn hoàn cảnh ra đời của bài văn tế? GV kết hợp diễn giảng thêm, nhằm gợi ko khí lịch sử thời đại, khơi gợi những cảm xúc thích hợp GV có thể lựa chọn hình thức như xem tranh ảnh đọc thơ văn,… HS đọc ý 2 của phần tiểu dẫn, GV gợi ý để HS trả lời Văn tế được sử dụng trong hoàn cảnh nào? Có ngoại lệ ko? Nội dung cơ bản của bài văn tế? Bố cục thương thấy? Giọng điệu chung của bài văn tế? GV hướng dẫn HS đọc bài văn tế, theo bố cục, nhằm diễn tả được những cảm xúc đa dạng phong phú của bài văn tế Vận dụng những hiểu biết về thể loại bài văn tế để tìm bố cục bài văn tế? Chú ý đoạn 1, bối cảnh của cuộc chiên được mở ra như thế nào? SS với vẻ phi thường của người anh hùng Từ Hải: Râu hùm hàm én mày ngài Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao Và hình ảnh rạng ngời oai phong của Lục Vân Tiên: Vân Tiên đầu đội kim khôi Tay cầm siêu bạc, mình ngồi ngựa ô HS chú ý câu 13, 14, 15, tìm và nhận xét trận đánh? GV có thể mở rộng để phát hiện ra những sáng tạo mới mẻ của NĐC: Bài Lính thú đời xưa: Ngang lưng thì thắt bao vàng Đầu đội nón dấu vai mang súng dài Một tay tì cắp hoả mai Một tay cắp giáo quan sai xuống thuyền Thùng thùng trống đánh ngũ liên Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa Người nông dân đăng lính trong tâm trạng buồn bã Đoạn này các tình cảm đan cài vào nhau, GV nên chọn phương pháp khai thác theo hình tượng Xen kẽ trong nổi đau là niềm cảm phục và tự hào Vì thế họ xứng đáng được biểu dương HS khái quát lại toàn bộ đoạn trích về nội dung và nghệ thuật GV một vài nhận định, đánh giá của những người nghiên cứu về bài văn tế này GV lưu ý HS phần ghi nhớ A.Tác giả: I.Cuộc đời: -NĐC (1822- 1888) tự Mạnh Trạch,hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, sinh tại quê mẹ, làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định. Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho -NĐC từng đỗ tú tài, từng ra Huế học.Cuộc đời ông gặp nhiều bất hạnh: con đường học vấn dở dang, mẹ mất, rồi bị mù, bị bội ước,…Nhưng với ý chí và nghị lực sống phi thường, NĐC đã về quê: Gia Định mở trường dạy học, bốc thuốc và chữa bệnh cho dân và cũng từ đấy tiếng thơ Đồ Chiểu bắt đầu vang lên khắp Lục tỉnh -Khi Pháp đánh vào Gia Định (1859), NĐC đã cùng nghĩa quân bàn mưu đánh giặc và sáng tác những vần thơ cháy lửa, khơi dậy tinh thần chiến đấu sục sôi. Ông đã từng bị TDP dụ dỗ, mua chuộc nhưng ông đã từ chối tất cả: Chủ tỉnh Bến Tre là Mi sen Pông sông đã 3 lần đến nhà thăm hỏi nhưng ông không chịu ra tiếp. Ông còn từ chối tất cả mọi ân huệ về tiền tài , đất đai, danh vọng mà TDP hứa hẹn bằng những lời khảng khái: “Đất chung đã mất thì đất riêng của tôi có xá gì?” *Nhân cách NĐC: Có ý chí và nghị lực sống, lòng yêu nước thương dân, tinh thần bất khuất trước kẻ thù; NĐC-một người thầy tận tụy, một thầy lang y đức, một nhà văn yêu nước II.Sự nghiệp thơ văn: 1.Những TP chính: Hai giai đoạn sáng tác: -Trước khi Pháp xâm lược: 2 truyện thơ dài: Lục Vân Tiên và Dương Từ- Hà Mậutruyền bá đạo lí làm người -Sau khi Pháp xâm lược: NĐC là lá cờ đầu của văn thơ yêu nước chống Pháp: Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế Trương Định, Thơ điếu Trương Định, Thơ điếu Phan Tòng, Văn tế trận vong Lục tỉnh, Ngư Tiều y thuật vấn đáp 2.Giá trị thơ văn: a.Về nội dung: -Lí tưởng đạo đức nhân nghĩa: Là nhà nho nên lí tưởng đạo đức của NĐC ko thể ko mang tinh thần nho giáo +Nhân là tình thương yêu con người, sẵn sàng cưu mang nhau trong cơn hoạn nạn +Nghĩa là những quan hệ tốt đẹp giữa con người với nhau trong XH, tình cha con, nghĩa vợ chồng, tình bè bạn xóm giềng, tinh thần hiệp nghĩa sẵn sàng cứu khốn phò nguy,… NĐC thấm nhuần sâu sắc điều đó: Hâu hết nhân vật trong truyện là những người sinh trưởng nơi thôn ấp nghèo khó (những chàng nho sinh hàn vi như Vân Tiên, Tử Trực, Hớn Minh, những ông Ngư, ông Tiều, ông Quán, chú Tiểu đồng, lão bà dệt vải,…), tâm hồn ngay thẳng ko màng lợi danh, ko tham phú quý “Xin tròn ân nghĩa còn hơn bạc vàng”, sẵn sàng ra tay cứu giúp người hoạn nạn. Trước NĐC, nhân nghĩa vẫn dược xem là một phạm trù đạo đức lí tưởng chỉ có ở người quân tử (tầng lớp trên).Khổng Tử từng nói: “Ta tùng thấy người quân tử bất nhân, nhưng chưa từng thấy kẻ tiểu nhân có nhân bao giờ”.Rồi đến Nguyễn Trãi, nhân nghĩa đã hướng tới nguời dân. Ông kêu gọi nhà cầm quyền nhân nghĩa với dân, thời chiến thì lấy nhân nghĩa để thắng giặc bạo ngược, thời bình thì đưa nhân nghĩa vào chính sự , xây dựng một nền chính trị nhân chính khoan sức cho dân. Đến NĐC, ông đặc biệt đề cao chữ nghĩa, biểu dương những truyền thống đạo đức tốt đẹp giữa con người với con người, quan tâm sâu sắc đến quyền lợi và nguyện vọng của nhân dân. Điều đó giải thích vì sao, nhân dân ta, đặc biệt là nhân dân Nam Bộ lại tiếp nhận TP của NĐC một cách nồng nhiệt đến như vậy -Lòng yêu nước thương dân: Thời kì đầu chống TDP “đầy khổ nhục nhưng vĩ đại” (Phạm Văn Đồng), đất nước mất dần vào tay giặc, các phong trào chống Pháp lần lượt thất bại, những người yêu nước lần lượt ngã xuống nơi chiến trường, giặc Pháp ra sức hoành hành. Thơ văn yêu nước NĐC đã làm sáng rõ điều đó: +Ông khóc than cho tình cảnh đất nước gặp buổi thương đau: “Khóc là khóc nước nhà cơn bấn loạn, hôm mai vắng chúa, thua buồn nhiều nổi khúc nhôi; than là than bờ cõi lúc qua phân, ngày tháng trông vua, ngơ ngẩn một phường kẻ dại” (Văn tế Trương Định) +Ông căm uất chửi thẳng vào mặt kẻ thù: “Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta; bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó” (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc) +Ông hết lòng ca ngợi những sĩ phu yêu nước như Phan Tòng, Trương Định, một lòng vì nước vì dân: “Viên đạn nghịch thần treo trước mặt-Lưỡi gươm địch khái nắm trong tay” (Thơ điếu Phan Tòng) +Ông dựng bức tượng đài bất tử về người dân ấp dân lân: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh” (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc) +Ngay cả khi bờ cõi rơi vào tay giặc, NĐC vẫn nuôi giữ niềm tin vào ngày mai: “Một trận mưa nhuần rửa núi sông” +Vẫn kiên trì thái độ bất khuất trước kẻ thù: “Sự đời thà khuất đôi tròng thịt Lòng đạo xin tròn một tấm gương” (Ngư Tiều y thuật vấn đáp) Với nội dung đó, thơ văn yêu nứơc của NĐC có thể đáp ứng xuất sắc những yêu cầu của cuộc sống và chiến đấu đương thời, có tác dụng động viên, khích lệ ko nhỏ đến tinh thần và ý chí yêu nước của nhân dân b.Về nghệ thuật: -Vẻ đẹp trong thơ văn ông ko phát lộ ở bề ngoài mà tiềm ẩn trong bề sâu của cảm xúc -Màu sắc Nam Bộ đậm đà: Những nhân vật trong sáng tác của NĐC mộc mạc, chất phác, nhưng nặng nghĩa, nặng tình, họ sống vô tư phóng khoáng, ít bị ràng buộc bởi những phép tắc, lễ nghi, nhưng lại sẵn sàng xả thân vì nghĩa Vì những lẽ trên mà những TP của NĐC cùng với con người ông xứng đáng là những đại biểu xuất sắc của VHVN cuối thời trung đại B.Tác phẩm: I.Tìm hiểu chung: 1.Hoàn cảnh ra đời: 2.Tìm hiểu thể loại văn tế: II. Đọc- hiểu văn bản: Đọc: -Đoạn 1: Trang trọng -Đoạn 2: Từ trầm lắng khi hồi tưởng, chuyển sang hào hứng, sảng khoái, khi kể lại chiến công -Đoạn 3: Trầm buồn, sâu lắng, có lúc xót xa đau đớn -Đoạn 4: Thành kính , trang nghiêm 2.Bố cục: -Lung khởi (Câu 1,2): Khái quát bối cảnh bão táp của thời đại và khẳng định ý nghĩa cái chết bất tử của người nông dân nghĩa sĩ -Thích thực (Câu 3-15): Tái hiện chân thực hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ, từ cuộc đời lao động vất vả, tủi cực đến giây phút vươn mình trở thành dũng sĩ, đánh giặc và lập chiến công -Ai vãn (Câu16-28): Bày tỏ lòng tiếc thương và sự cảm phục của TG và nhân dân đối với người nghĩa sĩ -Kết (Hai câu cuối): Ca ngợi linh hồn bất tử của các nghĩa sĩ 3.Phân tích: chúng tôi khởi: -Khái quát bối cảnh thời đại: Súng giặc: đất rền Lòng dân: trời tỏ (Ý chí cao ngút trời) Từ chỉ ko gian rộng lớn, động từ gợi sự khuyếch tán âm thanh: Diễn tả khung cảnh bão táp của thời đại, phản ánh biến cố chính trị lớn lao chi phối toàn bộ thời cuộc là sự đụng độ giữa thế lực xâm lăng tàn bạo của thực dân Pháp và ý chi kiên cường của nhân dân ta -Ý nghĩa của cái chết: danh nổi tựa phao, tiếng vang như mõ Vì nghĩa lớn, cao cả. Tất cả hợp thành một bệ đỡ hoành tráng cho bức tượng đài sẽ được dựng ở đoạn sau thành một chỉnh thể có tầm vóc to lớn, bài văn tế đậm chất sử thi b.Thích thực: Hình tượng người nông dân nghĩa sĩ: *Trước khi có giặc: Người nông dân: -Từ láy: cui cútGợi cảm -Đối từ: chưa, chỉ Nhấn mạnh -Điệp: việc, tậpNhấn mạnh, gợi tả Cuộc đời lam lũ tủi cực, hoàn toàn xa lạ với công việc binh đao, nhằm tạo thế đối lập để tôn cao tầm vóc người anh hùng ở đoạn sau *Khi giặc tới: -Tâm trạng: Phập phồngLo sợ Trông tin quanMong ngóng chờ đợi Ghét…như ghét cỏCăm thù (cảm tính) (Muốn…cắn cổ, ăn gan) Há để, nào đợi, chẳng thèmQuyết tâm đứng dậy (căm thù lí tính), nhận thức về trách nhiệm công dân Bước chuyển biến được miêu tả hợp lí, chân thực, sinh động, gần gũi với cách suy nghĩ và lời ăn tiếng nói của người nông dân -Vẻ đẹp của đội quân áo vải khi xung trận: +Tinh thần: Vốn chẳng…chẳng qua… …nào đợi…không chờ… Tự nguyện, xem thường khó khăn gian khổ +Trang bị: manh áo vảibao tấu bầu ngòi ngọn tầm vông dao tu nón gõ rơm con cúihoả mai lưỡi dao phaygươm Vẻ đẹp mộc mạc, giản dị mà không kém phần anh hùng bởi lòng mến nghĩa, tư thế hiên ngang, coi thường mọi khó khăn gian khổ +Khí thế:.Từ chỉ hành động mạnh: đánh, đốt, chém, đạp, xô, hè, ó,… .Từ chỉ sự dứt khoát: xong, đặng, kệ,… .Khẩu ngữ nông thôn Nam Bộ: hè, ó, trối kệ,… . Phép đối: Đối từ, đối ý, đối thanh trống kì-trống giục lướt tới-xông vào đạn nhỏ- đạn to Ta: manh áo vải- Địch: đạn nhỏ đạn to ngọn tầm vông tàu sắt tàu đồng Nhịp điệu nhanh mạnh, dứt khoát, sôi nổi, góp phần tạo khí thế tiến công: khẩn trương, quyết liệt, sôi động và đầy hào hứng. Khí thế của họ là khí thế đạp trên đầu thù, xốc tới không quản ngại khó khăn, gian khổ , hi sinh, tự tin và đầy ý chí quyết thắng. Hình tượng đó cũng oai phong lẫm liệt như những dũng sĩ trong những thiên anh hùng ca thuở xưa, nhưng lại gần gũi, sống động tưởng như họ vừa “Rũ bùn đứng dậy sáng loà” (Nguyễn Đình Thi) Với NĐC, ông đã phát hiện và ngợi ca phẩm chất cao quý tiềm ẩn đằng sau manh áo vải, sau cuộc đời lam lũ của người nông dân là lòng yêu nước và ý chí quyết tâm cứu nước bảo vệ Tổ Quốc * Về nghệ thuật miêu tả: – Những chi tiết chân thực, có tầm khái quát cao, không vụn vặt, tản mạnKhắc tạc nên tượng đài nghệ thuật về người nông dân nghĩa sĩ. Có thể xem như một biểu tượng nghệ thuật lồng trong hình Đất nước mà sau này nhà thơ NĐT đã từng rất đỗi tự hào: Ôm đất nước những người áo vải Đã đứng lên thành những anh hùng (Đất nước) Cây gậy tầm vông lần đầu tiên xuất hiện, để phải gần 100 năm sau, trở lại trong thơ Tố Hữu với nguyên vẹn ý nghĩa: Chín năm kháng chiến thánh thần Gậy tầm vông đánh tan quân bạo tàn (Ba mươi năm đời ta có Đảng) -Chất trữ tình sâu lắng, ẩn chứa trong từng câu, từng chữ là nỗi cảm thông, niềm kính phục và tự hào của TG -Từ ngữ: bình dị mà tinh tế, chính xác có sức gợi cảm cao -Nhiều biện pháp tu từ thành công tạo được hiệu quả nghệ thuật cao chúng tôi vãn: *Nổi xót thương đối với người nghĩa sĩ: +Cái chết: ( Câu 16,17) Xác phàm vội bỏ Da ngựa bọc thây Gươm hùm treo mộ Sự ra đi vội vàng, dang dở, chí nguyện chưa thành. Đồng thời còn là nổi tiếc hận vô cùng của những người còn sống +Nhắc đến những vất vả, hi sinh, những tủi cực của những người nghĩa binh: ( Câu 20, 21, 22, 23 ) Vì ai…(lặp) Sống làm chi… (lặp) Nổi căm hờn vô tận với những kẻ đã gây nên những nghịch cảnh éo le +Những người thân: ( Câu 25 ) Đau đớn…mẹ già…khóc trẻ…leo lét… Não nùng…vợ yếu…tìm chồng…dật dờ… Hình ảnh tiêu biểu, gợi cảm có tính khái quát caoThảm cảnh của những gia đình mất người thân, tổn thất ko gì bù đắp nổi- Nỗi xót xa vô hạn của TG +Tất cả hoà chung lại thành tiếng khóc lớn: Sông Cần Giuộc…mấy dặm sầu giăng Chợ Trường Bình…hai hàng luỵ nhỏ Sông Bến Nghé…bốn phía mây đen Tiếng khóc ngập tràn, nghẹn ngào. Tiếng khóc ấy chỉ có thể đo bằng núi, bằng sông, bằng trời, bằng đất, bởi sự ra đi của những người nghĩa binh cũng chỉ có thể kể được bằng trời, bằng đất. Cả đất trời đều nhuốm màu tang tóc bi thương *Niềm cảm phục và tự hào: +Người dân thường đã dám đứng lên để bảo vệ “tấc đất ngọn rau ơn chúa”, “bát cơm manh áo” (câu 19, 20) +Lấy cái chết để làm rạng ngời một chân lí cao đẹp của thời đại: “Thà thác mà đặng câu địch khái…” (câu 22,23) *Biểu dương công trạng của người nông dân nghĩa sĩ: cái chết ấy đời đời được nhân dân ghi nhớ, ngưỡng mộ, Tổ Quốc ghi công (câu 26, 28) Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ Thác…danh thơm….Thác…ưng đình miếu để thờ…tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ Khẳng định ý nghĩa bất tử của cái chết vì nước vì dân d.Kết: Lời nguyện cầu: Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc…muôn kiếp được trả thù kia… Lời hứa, quyết tâm, nung nấu, kêu gọi thiết tha Kết thúc bài văn tế nổi đau như nén lại thành những cái vái lạy, nghiêng mình kính cẩn, tiếc thương ko nguôi III.Tổng kết: -Về nội dung: Tiếng khóc trong bài văn tế là tiếng khóc bi tráng, nó xuất phát từ nhiều nguồn cảm xúc. Tiêng khóc ở đây ko chỉ thể hiện tình cảm riêng tư mà còn là để thay mặt nhân dân cả nước khóc thương và biểu dương công trạng của người nghia sĩ. Tiêng khóc ko chỉ hướng về cái chết mà còn hướng về cuộc sống đau thương, khổ nhục của cả dân tộc trước làn sóng xâm lăng của thực dân. Nó ko chỉ gợi nổi đau mà cao hơn nữa, còn khích lệ lòng căm thù giặc và ý chí tiếp nối sự nghiệp dang dở của những người nghĩa sĩ. Tiếng khóc ở đây dù rất bi thiết nhưng ko đượm màu tang tóc thê lương kéo dài như trong Văn tế trận vong Lục tỉnh bởi nó còn là niềm tự hào, kiêu hãnh vì sự bất tử và sự cao cả -Về nghệ thuật: +Những yếu tố làm nên sức gợi cảm mạnh mẽ của bài văn tế: Cảm xúc chân thành, sâu nặng, mãnh liệt; Giọg văn bi tráng, thống thiết; hình ảnh sống động +Ngôn ngữ giản dị, dân dã nhưng được chọn lọc tinh tế, có sức biểu cảm lớn và giá trị thẩm mĩ cao (cui cút, tấc đất ngọn rau, bát cơm manh áo, chia rượu lạt, gặm bánh mì, mẹ già ngồi khóc trẻ, vợ yếu chạy tìm chồng,…), nhiều biện pháp tu từ được sử dụng thành công +Giọng điệu thay đổi theo cảm xúc: Lúc sôi nổi, hào hứng như reo vui, lúc trầm lắng thống thiết, có lúc như nức nở, xót xa, có lúc như tiếng kêu ai oán, rồi lại trang nghiêm như một lời khấn nguyện thiêng liêng Bài ca của NĐC làm ta nhớ đến Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi: “Bài đại cáo của NT là khúc ca khải hoàn, ca ngợi những chiến công oanh liệt chưa từng thấy, biểu dương những chiến thắng làm rạng rỡ nước nhà; Bài văn tế của NĐC là khúc ca những người anh hùng thất thế nhưng vẫn hiên ngang…” (Phạm Văn Đồng)

Giáo Án Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Violet

Giáo án Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Violet, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Giáo án, Giáo án Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Văn Bản ông Giuốc-Đanh Mặc Lễ Phục Violet, Lập Dàn ý Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Dàn ý Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Chế, Rap Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Nội Dung ý Nghĩa Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Bài Viết Số 2 Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Lớp 11 Nâng Cao, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Soạn, Bài Viết Số 3 Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Văn Tế Nghĩa Dân Chết Trận Cần Giuộc, Nghệ Thuật Của Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Dàn Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Là 1 Tiếng Khóc Bi Tráng , Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Là Tiếng Khóc Bi Tráng, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Bút Pháp ước Lệ Tượng Trưng, Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Được Sáng Tác Trong Bối Cảnh Như Thế Nào, Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Được Sáng Tác Trong Bối Cảnh Nào, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Được Sáng Tác Trong Bối Cảnh Như Thế Nào, Bút Pháp Tượng Trung Được Thể Hiện Ntn Trong Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, ý Nghĩa Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Giáo án ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Bìa Giáo án Violet, Giáo án Violet, Mẫu Bìa Giáo án Đẹp Violet, Mẫu Bìa Giáo án Violet, Giáo án Điện Tử Violet, Biên Bản Bàn Giao Cơ Sở Vật Chất Lớp Học Violet, Biên Bản Bàn Giao Lớp Chủ Nhiệm Thcs Violet, Giáo án Tiếng Anh Lớp 5 Chương Trình Mới Violet, Biên Bản Dự Giờ Giáo Viên Tiểu Học Violet, Đơn Xin Nghỉ Việc Giáo Viên Violet, Bản Nhận Xét Sách Giáo Khoa Lớp 1 Violet, Đơn Xin Nghỉ ốm Của Giáo Viên Tiểu Học Violet, Đơn Xin Nghỉ Việc Riêng Của Giáo Viên Violet, Bài Thu Hoạch Giáo Viên Thcs Hạng 2 Violet, Bài Thu Hoạch Chính Trị Hè 2017 Của Giáo Viên Violet, Tiểu Luận Xử Lý Tình Huống Về Giáo Dục Violet, Đáp án An Toàn Giao Thông Cho Nụ Cười Ngày Mai Violet, Bài Thu Hoạch Giáo Viên Thpt Hạng 2 Violet, Đề Thi Trắc Nghiệm Viên Chức Ngành Giáo Dục Violet, Văn Tế Sĩ Cần Giuộc, Tiểu Luận Quản Lý Nhà Nước Ngạch Chuyên Viên Về Giáo Dục Violet, Văn Bản ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Tóm Tắt ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Bài Giảng ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Nội Dung Bài ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Xây Dựng Kế Hoạch Dạy Học Và Giáo Dục Theo Hướng Phát Triển Phẩm Chất Năng Lực Học Sinh Violet, Giáo án ý Nghĩa Các Con Số, Chủ Nghĩa Mác Về Tôn Giáo, Biên Bản Giao ước Kết Nghĩa, Định Nghĩa Giáo Dục Đạo Đức Là Gì, Giáo án Chủ Nghĩa Mác Lênin, Định Nghĩa Giáo Dục, Đơn Xin Cấp Đất Làm Nghĩa Trang Tại Giáo Họ, Giáo án ý Nghĩa Văn Chương, Giáo án ý Nghĩa Văn Chương Lớp 7, ý Nghĩa Của Giáo Trình, ý Nghĩa Của Giáo án Điện Tử, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Giáo Dục, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Tôn Giáo, ý Nghĩa Của Sách Giáo Khoa, ý Nghĩa Kỹ Năng Giao Tiếp, Kịch Bản Bàn Giao Nhà Tình Nghĩa, ý Nghĩa Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Giáo Dục, Tóm Tắt ý Nghĩa Ngày Nhà Giáo Việt Nam, Định Nghĩa Giao Tiếp, Quan Điểm Chủ Nghĩa Mac Về Giáo Dục, ý Nghĩa Của Luật Giao Thông, Giáo Trình Ngữ Nghĩa Học Tiếng Anh, Luật Giao Thông Có ý Nghĩa Gì, Định Nghĩa 7 Thành Tố Của Giáo Dục, Giáo Trình Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Giáo Trình Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học, Kich Ban Giao Nhà Tinh Nghĩa, Giáo Trình Môn Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học, Định Nghĩa 7 Thành Tố Của Quá Trình Giáo Dục, Quan Điểm Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Tôn Giáo, Giáo Trình Những Nguyên Lý Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác, Bài Phát Biểu Tại Lễ Bàn Giao Nhà Tình Nghĩa, Chương Trình Bàn Giao Nhà Tình Nghĩa , ý Nghĩa Luật Giao Thông Đường Bộ, ý Nghĩa Của Luật Giao Thông Đường Bộ, Sáng Tác 1 Truyện Ngắn Có ý Nghĩa Giáo Dục, Quan Điểm Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Giáo Dục, Chương Trình Giao Nhà Tình Nghĩa, Giáo Trình Chủ Nghĩa Hậu Hiện Đại Trong Văn Học Việt Nam, Giáo Trình Những Nguyên Lý Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác Lênin, Giáo Trình Ngữ Nghĩa Học Tiếng Anh Tô Minh Thanh, Giáo Trình Ngữ Nghĩa Học Tiếng Anh (english Semantics), Giáo Trình Ngữ Nghĩa Học Tiếng Anh Tô Minh Thanh Pdf, Kịch Bản Chương Trình Giao Nhà Tình Nghĩa Cho Hộ Nghèo, ý Nghĩa Của Việc Chấp Hành Luật Giao Thông, Danh Sách Giáo Viên Trường Trần Đại Nghĩa, ý Nghĩa Việc Chấp Hành Luật Giao Thông Đường Bộ, Nguyên Lý Mác Lenin Vấn Đề Tôn Giáo Trong Tiến Trình Xây Dựng Chủ Nghĩa Xã Hội ở Việt Nam,

Giáo án Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Violet, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Giáo án, Giáo án Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Văn Bản ông Giuốc-Đanh Mặc Lễ Phục Violet, Lập Dàn ý Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Dàn ý Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Chế, Rap Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Nội Dung ý Nghĩa Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Bài Viết Số 2 Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Lớp 11 Nâng Cao, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Soạn, Bài Viết Số 3 Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Văn Tế Nghĩa Dân Chết Trận Cần Giuộc, Nghệ Thuật Của Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Dàn Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Là 1 Tiếng Khóc Bi Tráng , Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Là Tiếng Khóc Bi Tráng, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Bút Pháp ước Lệ Tượng Trưng, Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Được Sáng Tác Trong Bối Cảnh Như Thế Nào, Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Được Sáng Tác Trong Bối Cảnh Nào, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Được Sáng Tác Trong Bối Cảnh Như Thế Nào, Bút Pháp Tượng Trung Được Thể Hiện Ntn Trong Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, ý Nghĩa Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Giáo án ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Bìa Giáo án Violet, Giáo án Violet, Mẫu Bìa Giáo án Đẹp Violet, Mẫu Bìa Giáo án Violet, Giáo án Điện Tử Violet, Biên Bản Bàn Giao Cơ Sở Vật Chất Lớp Học Violet, Biên Bản Bàn Giao Lớp Chủ Nhiệm Thcs Violet, Giáo án Tiếng Anh Lớp 5 Chương Trình Mới Violet, Biên Bản Dự Giờ Giáo Viên Tiểu Học Violet, Đơn Xin Nghỉ Việc Giáo Viên Violet, Bản Nhận Xét Sách Giáo Khoa Lớp 1 Violet, Đơn Xin Nghỉ ốm Của Giáo Viên Tiểu Học Violet, Đơn Xin Nghỉ Việc Riêng Của Giáo Viên Violet, Bài Thu Hoạch Giáo Viên Thcs Hạng 2 Violet, Bài Thu Hoạch Chính Trị Hè 2017 Của Giáo Viên Violet, Tiểu Luận Xử Lý Tình Huống Về Giáo Dục Violet, Đáp án An Toàn Giao Thông Cho Nụ Cười Ngày Mai Violet, Bài Thu Hoạch Giáo Viên Thpt Hạng 2 Violet, Đề Thi Trắc Nghiệm Viên Chức Ngành Giáo Dục Violet, Văn Tế Sĩ Cần Giuộc, Tiểu Luận Quản Lý Nhà Nước Ngạch Chuyên Viên Về Giáo Dục Violet, Văn Bản ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Tóm Tắt ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Bài Giảng ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục,

Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)

Văn bản

Hỡi ôi! Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ. Mười năm công vỡ ruộng, chưa chắc còn danh nổi như phao; một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ. Nhớ linh xưa: Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa; mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu; hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê, bán chó. Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình; chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ. Khá thương thay: Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh; chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn; chín chục trận binh thư, không chờ bày bố. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu bầu ngòi; trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ. Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia; gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ. Chi nhọc quan quản gióng trống kì, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không; nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ. Ôi ! Những lăm lòng nghĩa lâu dùng; đâu biết xác phàm vội bỏ. Một giấc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây; trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ. Đoái sông Cần Giuộc cỏ cây mấy dặm sầu giăng; nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng lụy nhỏ. Chẳng phải án cướp, án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm; vốn không giữ thành, giữ lũy bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số. Nhưng nghĩ rằng: Tấc đất ngọn rau ơn Chúa, tài bồi cho nước nhà ta; bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương; vì ai xui đồn lũy tan tành, xiêu mưa ngã gió. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương xô bàn độc, thấy lại thêm buồn; sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ. Ôi thôi thôi ! Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm; đồn Lang sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ. Đau đớn bấy, mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều; não nùng thay, vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ. Ôi ! Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen; ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia; sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân; cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ. Hỡi ôi thương thay ! Có linh xin hưởng.

Phân tích

Người nông dân Việt Nam yêu nước chống ngoại xâm đã xuất hiện từ rất lâu, ít nhất cũng trên mười thế kỷ nay. Nhưng trong văn học, hình ảnh người nông dân ấy chỉ thực sự xuất hiện vào nửa cuối thế kỷ XIX với bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu. Có thể nói, với bài văn tế này, Nguyễn Đình Chiểu đã tạo nên bức tượng đài nghệ thuật đầu tiên về người nông dân – nghĩa sĩ Việt Nam. Đó là một hình tượng rất đẹp, rất chân thực đầy tính bi tráng, bi thương mà hào hùng đúng như cuộc chiến đấu bi tráng mà nhân dân việt Nam đã tiến hành suốt nửa sau thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX, vì cuộc sống, vì độc lập, tự chủ của Tổ quốc mình. Nguyễn Đình Chiểu đã rất có lí, rất sâu sắc khi mở đầu khúc bi ca của mình: “Hỡi ôi! Súng giặc đất rền: lòng dân trời tỏ”. Quả là, qua cuộc chiến đấu này, qua cái thử thách khắc nghiệt ngày, bản chất tốt đẹp, tấm lòng yêu nước của những người nông dân bình thường này, vẻ đẹp thực sự của tâm hồn họ được bộc lộ một cách trọn vẹn. Họ vẫn có đấy, vẫn sống đấy, nhưng sống trong thầm lặng của sự quên lãng. Nguyễn Đình Chiểu, với sự cảm thông cao độ, nhận ra rằng cuộc sống của họ đã từng vất vả xiết bao: “Nhớ linh xưa: Côi cút làm ăn, toan lo nghèo khó”. Bao nhiêu lượng thông tin chứa đựng trong tám tiếng ngắn ngủi ấy đã nói với chúng ta rất đầy đủ về tình cảnh của người nông dân Cần Giuộc, người nông dân lục tỉnh, cũng là người nông dân Việt Nam ngày đó. Bóng dáng của họ, nhỏ bé và cô đơn trong cuộc sống, sự khắc nghiệt và những tài họa trong thiên nhiên, từ xã hội, như hiện lên rõ mồn một qua từng chữ. Tưởng như, chỉ chừng ấy lo toan vất vả cũng đã quá đủ đối với họ; tưởng như họ, những người nông dân vất vả ấy, chẳng còn có thể nghĩ gì thêm, lo toan gì thêm ngoài những “toan lo nghèo khó” vốn đã quá lớn lao ấy. Thế mà không, quân xâm lược đã chiếm đất nước, đã đến tận xóm làng, đã đến tận ngôi nhà của họ. Và, những con người đang cúi xuống ấy bỗng đứng phắt dậy, vươn vai, và họ chợt trở thành người khổng lồ như chú bé làng Gióng mấy nghìn năm trước khi chợt nghe nghe lời truyền của sứ giả. Nhưng có một điều cơ bản rất khác xưa là tiếng rao truyền cứu nước không phải phát đi từ cung điện nhà vua mà đã được phát đi từ chính trái tim của những người nông dân Cần Giuộc. Nó chính là lòng căm thù sục sôi vì hành động cướp nước: Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp; muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen xì muốn ra cắn cổ. Như một phản ứng hạt nhân tất yếu, long căm thù giặc cao độ đã làm nảy sinh một khát vọng cao độ; khát vọng đánh giặc. Đó là ước muốn hoàn toàn tự nhiên và cũng hoàn toàn tự nguyện: Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình; Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ. Người nông dân của Nguyễn Đình Chiểu thật đã khác hoàn toàn với người nông dân chỉ trước đó không bao lâu “Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa” khi phài sung làm lính đi biên thú phương xa bảo vệ cương thổ của nhà vua. Tự nguyện chiến đấu, ấy là nét bản chất nhất trong hành động của người nghĩa sĩ thực sự. Phải chăng đó là sự tiếp tục giữa nghĩa sĩ Cần Giuộc đánh ngoại xâm với tráng sĩ Lục Vân Tiên đánh cướp mà động cơ duy nhất: Nhớ câu kiến ngãi bất vi Làm người thế ấy cũng phi anh hùng. Trong mọi việc nghĩa, không có việc nào lớn hơn việc cứu nước. Thấy việc nghĩa thì phải làm, làm một cách vô tư, không vụ lợi, không chần chừ, không cần đợi, có đủ điều kiện mới làm. Đó là chỗ bi kịch của người nông dân Cần Giuộc, đó cũng là chỗ hùng ca của người nghĩa sĩ Cần Giuộc. Bi kịch vì: Tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng. Trông tin quan như trời hạn trông mưa. Họ bắt đầu cuộc chiến đấu vào lúc lẽ ra triều đình phong kiến cùng quan quân của họ đã phải tiến hành cuộc chiến đấu ấy tư lâu nhưng lại “án binh bất động” một cách khó hiểu. Bi kịch còn cho họ là những người: Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ. Việc cuốc việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó. Bước vào chỗ sống chết của chiến trường mà những con người ấy chỉ mang theo những trang bị chỉ đủ để làm những người cày ruộng. Trước giặc dữ là những tên lính nhà nghề có đủ “tàu sắt tàu đồng”, “đạn nhỏ, đạn to”, họ chỉ là những người nông dân không có kiến thức gì về trận mạc, chỉ có “một manh áo vải”, “một ngọn tầm vông”, chỉ có “lưỡi dao phay”. Cuộc chiến đấu mới chênh lệch làm sao! Kết cục cuộc chiến đấu ấy như thế nào thì đã rõ ràng rồi. Đó là tấn bi kịch của những người nghĩa sĩ Cần Giuộc, cũng là tấn bi kịch của cuộc sống nước ta vào thời kì nghiệt ngã ấy, tấn bi kịch đã đưa đến cái họa mất nước kéo dài cả thế kỷ. Nhưng chính trong cái bi kịch ấy, bản hùng ca của cuộc sống đã cất lên. Hùng ca trước hết là ở sự ngoan cường của những con người quyết chiến thắng, vượt lên trên nỗi lo thất bại để chiến thắng, lấy tinh thần xả thân vì nghĩa để bù đắp hết mọi sự thiếu hụt, chênh lệch của mình so với kẻ thù: Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rao lướt tới, coi giặc cũng như không; Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có …; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ. Thật là phấn chấn, thật là hào hùng, thật là hả dạ. Đúng là họ đã chiến đấu như những người lính tuyệt vời dũng cảm. Ở đây, sức mạnh tinh thần đã phát huy đến mức độ tối đa và trong một chừng mực nào đó, đã tỏ rõ hiệu quả của nó trước sức mạnh cùa chiến thuật, của vũ khí, trang bị: Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia; gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rơi đầu quan hai nọ. …kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh…. Trong văn chương Việt Nam, cho đến Nguyễn Đình Chiểu, quả chưa hề có một bức tranh hào hùng như thế về tư thế chiến đấu của người lính áo vải. Hình ảnh người nông dân ở đây là sự kết tinh và thăng hoa ở mức độ cao nhất những gì vốn là bản chất của họ. Trong những giây phút tuyệt vời ấy, người nông dân Cần Giuộc đã đi vào vĩnh cửu. Quả Nguyễn Đình Chiểu đã tạc nên một bức tượng đài của người nông dân – nghĩa sĩ Cần Giuộc. Nhưng đây không phải là tượng đài của một người, mà của nhiều người, của một tập thể anh hùng. Không có cái tập thể ấy, không làm sao có được sự hòa hợp tuyệt đẹp, cái khí thế bừng bừng áp đảo hiểm nghèo, áp đảo cái chết, với những “đạp rào lướt tới”, “xô cửa xông vào”, với những “kẻ đâm ngang người chém ngược”, “bọn hè trước, lũ ó sau” như thế được. Bức tượng đài của Nguyễn Đình Chiểu chỉ có một tên gọi chung là “nghĩa sĩ Cần Giuộc”, còn mỗi người nghĩa sĩ trên đó đều vô danh. Họ không hề tìm một điều gì cho riêng mình khi chiến đấu. Cái điều duy nhất họ gửi lại cho đời, điều mà Nguyễn Đình Chiểu nêu lên như là một tiêu chí chung bên dưới bức tượng đài của họ, ấy là cái triết lí sống: Chết vinh còn hơn sống nhục. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ. Hoàn thành bức tượng của mình, Nguyễn Đình Chiểu đã để một phần cuối cho những lời ca ngợi, thương tiếc và thắp những nén hương kính trọng: Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân; cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ. Cuộc tấn công của mấy chục nghĩa quân vào đồn Cần Giuộc của thực dân Pháp năm 1863 là cuộc tấn công đầu tiên của quân dân Việt Nam mở đầu cho cuộc kháng chiến chống Pháp. Số lượng thiệt hại mà nghĩa quân đã gây cho giặc có lẽ cũng không là bao nhiêu. Song, hiệu quả thực sự mà họ tạo nên cho cuộc kháng chiến, cho lịch sử dân tộc, bằng lòng yêu nước that thiết và vô tư của họ, bằng tinh thần sẵn sáng chiến đấu, sự cũng cảm vô điều kiện và tuyệt vời của họ, thì to lớn vô cùng. Họ xứng đáng được tạc thành tượng đài để đi vào bất tử. Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ của người nghệ sĩ nhân dân khi tạc nên bức tượng đài ấy.

Về Nguyễn Đình Chiểu

Văn chương chưa phải là toàn bộ sự nghiệp của Nguyễn Ðùnh Chiểu. Sự nghiệp của ông còn lớn hơn nhiều. Ông không chỉ là nhà văn mà còn là nhà giáo, người thầy thuốc và là một nhà tư tưởng. Nhưng văn chương của ông đồ sộ đủ đứng thành sự nghiệp riêng.

Nguyễn Ðình Chiểu bắt đầu viết văn sau khi mù, hầu hết các tác phẩm đều viết bằng chữ Nôm. Căn cứ vào nội dung có thể chia ra thành hai thời kỳ sáng tác:

-Trước khi Pháp xâm lược Nam Kỳ: Tác phẩm Lục Vân Tiên là tác phẩm đầu tay, có tính chất tự truyện.

-Pháp xâm lược Nam Kỳ:

+ Tác phẩm Dương Từ-Hà Mậu có ý kiến cho rằng tác phẩm được viết trước khi Pháp xâm lược cũng có ý kiến ngược lại, mục đích của tác giả là dạy đạo Khổng cho học trò và sau này được sửa lại cho phù hợp với tình hình.

+ Tác phẩm Ngư tiều y thuật vấn đáp chủ yếu nói về các phương thuốc và nghề làm thuốc nhưng tràn đầy tinh thần yêu nước.

+ Các bài thơ Ðường luật, các bài hịch, văn tế… tiêu biểu Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc(1861), Mười hai bài thơ và bài văn tế Trương Ðịnh(1864), Mười bài thơ điếu Phan Tòng(1868), Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh(1874), Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây, Hịch đánh chuột chưa xác định thời điểm sáng tác.

Với những tác phẩm nổi tiếng của mình, Nguyễn Ðình Chiểu trở thành người có uy tín lớn. Bọn thực dân nhiều lần tìm cách mua chuộc ông nhưng ông vẫn một mực từ chối các ân tứ. (Có nhiều giai đoạn về thái độ bất hợp tác của Nguyễn Ðình Chiểu với kẻ thù).

Cuộc đời và sự nghiệp văn học của nhà thơ mù Nam Bộ là một bài học lớn về lòng yêu nước, về việc sử dụng ngòi bút như một vũ khí đấu tranh sắc bén. Tấm gương Nguyễn Ðình Chiểu theo thời gian vẫn không mờ đi chút nào.

– Lý tưởng đạo đức, nhân nghĩa – Lòng yêu nước, thuơng dân

Giá trị thơ văn Nguyễn Đình Chiểu Dù là thơ Đường luật, văn tế hay truyện thơ, nghệ sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu đều có các đặc điểm nổi bật về nội dung là ca ngợi các phẩm chất đạo đức truyền thống theo quan điểm của nhà nho như trung nghĩa, thủy chung và thể hiện lòng yêu nước sâu sắc. Sáng tác của ông thể hiện trách nhiệm của một công dân đối với dân tộc. Do hoàn cảnh, ông không thể đứng lên trực tiếp cầm vũ khí đánh giặc, nhưng những trang văn của cụ đồ Chiểu có một sức chiến đấu mạnh mẽ. Tấm lòng tha thiết với nhân dân đất nước của ông đã đánh thức lòng yêu nước trong biết bao người dân Việt Nam khi họ soi mình vào trang văn của nhà nho Nguyễn Đình Chiểu.

Về giá trị nghệ thuật: ngôn ngữ và cách diễn đạt bình dị, mộc mạc, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân; kết hợp tính cổ điển với tính dân gian, bút pháp lý tưởng hoá với tả thực; đậm đà bản sắc dân tộc, đặc biệt là bản sắc địa phương Nam Bộ.

Community content is available under CC-BY-SA unless otherwise noted.

Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Soạn

Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Soạn, Lập Dàn ý Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Rap Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Dàn ý Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Chế, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Nội Dung ý Nghĩa Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Bài Viết Số 2 Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Bài Viết Số 3 Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Lớp 11 Nâng Cao, Giáo án Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Giáo án, Văn Tế Nghĩa Dân Chết Trận Cần Giuộc, Nghệ Thuật Của Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Giáo án Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Violet, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Bút Pháp ước Lệ Tượng Trưng, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Là Tiếng Khóc Bi Tráng, Dàn Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Là 1 Tiếng Khóc Bi Tráng , Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Được Sáng Tác Trong Bối Cảnh Nào, Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Được Sáng Tác Trong Bối Cảnh Như Thế Nào, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Được Sáng Tác Trong Bối Cảnh Như Thế Nào, Bút Pháp Tượng Trung Được Thể Hiện Ntn Trong Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, ý Nghĩa Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Văn Tế Sĩ Cần Giuộc, Văn Bản ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Tóm Tắt ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Giáo án ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Nội Dung Bài ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Văn Bản ông Giuốc-Đanh Mặc Lễ Phục Violet, Bài Giảng ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Soạn Ngữ Văn 7 Báo Cáo, Soạn Bài ôn Tập Dấu Câu Lớp 8, Soạn Anh Văn 7 Đề án, Soạn Văn Lớp 6 Bài Thi Làm Thơ 5 Chữ, Soạn Anh 8 Đề án, Soạn Bài ôn Tập Dấu Câu Lớp 6, Soạn Bài ôn Tập Dấu Câu, Mục Lục Soạn Văn 8, Mục Lục Soạn Văn 10, Soạn Bài ôn Tập Dấu Câu 8, Mục Lục Soạn Văn 6, Soạn Bài 3 Văn Bản Lớp 10, Soạn Văn Bản Bác ơi, Soạn Cụm Từ, Soạn Anh Văn 8 Đề án, Mục Lục Soạn Văn 7, Soạn Bài ôn Tập Làm Văn Lớp 7, Soạn Địa 8 Bài 7 ôn Thi Địa Lý, Soạn Văn 7 Bài Thơ Lục Bát, Soạn Lý 9 Bài 3 Mẫu Báo Cáo, Soạn Bài ôn Tập Làm Văn Lớp 9, Soạn Văn 7 Văn Bản Báo Cáo, Soạn Văn 7 Bài Thơ Đỏ, Soạn Bài Văn Bản Đề Nghị, Soạn Văn 9 Biên Bản, Biên Bản Soạn Bài, Soạn Bài ôn Tập Giữa Học Kì 1 Lớp 5, Soạn Bài ôn Tập Văn Biểu Cảm Lớp 7, Hướng Dẫn Soạn Văn Bản Lớp 6, Văn Bản Soạn Thảo, Rừng Xà Nu Soạn, Soạn Văn Bài Chữ Người Tử Tù, Soạn Giáo án Môn Đạo Đức Lớp 4, Hướng Dẫn Soạn Văn Bản ông Đồ, Soạn Biên Bản 9, Mẫu Văn Bản Soạn Thảo, Yêu Cầu Khi Soạn Thảo Văn Bản, Soạn Văn 7 Văn Bản Đề Nghị, Hướng Dẫn Soạn Bài Văn Bản, Yêu Cầu Soạn Thảo Văn Bản, Yêu Cầu Về Soạn Thảo Văn Bản, Soạn Thảo Văn Bản, Soạn Thảo Văn Bản Chỉ Đạo, Hướng Dẫn Soạn Bài Văn Bản Lớp 10, Soạn Bài Văn Bản Đề Nghị Lớp 7, Soạn Bài Ngữ Văn 7 Văn Bản Đề Nghị, Vợ Chồng A Phủ Soạn, Mẫu 01 Soạn Thảo Văn Bản, Hướng Dẫn Soạn Bài Văn Bản Văn Học, Soạn Bài ôn Tập Dấu Câu Dấu Phẩy, Soạn Đệm Organ, Văn Bản Đề Nghị Soạn Bài, Đề Tài Soạn Thảo Văn Bản, Soạn Văn Lớp 9 Bài Kiểm Tra Về Thơ, Biên Bản Soạn, Soạn Bài ôn Tập Giữa Học Kì 2 Lớp 5, Soạn Bài ôn Tập Giữa Học Kì 2 Lớp 4, Soạn Bài ôn Tập Miêu Tả, Bài Mẫu Soạn Thảo Văn Bản, Soạn Bài ôn Tập Giữa Học Kì 2, Soạn Ngữ Văn Lớp 7 Bài Văn Bản Đề Nghị, Văn Bản Đề Nghị Soạn, Soạn Bài ôn Tập Văn Bản Biểu Cảm, Soạn Văn 9 Hợp Đồng, Quy ước Khi Soạn Thảo Văn Bản, Quy ước Soạn Thảo Văn Bản, Soạn Ngữ Văn 9 Biên Bản, Văn Bản Đề Nghị Ngữ Văn 7 Soạn Bài, Soạn Bài ôn Tập Văn Biểu Cảm,

Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Soạn, Lập Dàn ý Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Rap Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Dàn ý Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Chế, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Nội Dung ý Nghĩa Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Bài Viết Số 2 Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Bài Viết Số 3 Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Lớp 11 Nâng Cao, Giáo án Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Giáo án, Văn Tế Nghĩa Dân Chết Trận Cần Giuộc, Nghệ Thuật Của Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Giáo án Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Violet, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Bút Pháp ước Lệ Tượng Trưng, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Là Tiếng Khóc Bi Tráng, Dàn Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Là 1 Tiếng Khóc Bi Tráng , Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Được Sáng Tác Trong Bối Cảnh Nào, Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Được Sáng Tác Trong Bối Cảnh Như Thế Nào, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Được Sáng Tác Trong Bối Cảnh Như Thế Nào, Bút Pháp Tượng Trung Được Thể Hiện Ntn Trong Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, ý Nghĩa Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Văn Tế Sĩ Cần Giuộc, Văn Bản ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Tóm Tắt ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Giáo án ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Nội Dung Bài ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Văn Bản ông Giuốc-Đanh Mặc Lễ Phục Violet, Bài Giảng ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Soạn Ngữ Văn 7 Báo Cáo, Soạn Bài ôn Tập Dấu Câu Lớp 8, Soạn Anh Văn 7 Đề án, Soạn Văn Lớp 6 Bài Thi Làm Thơ 5 Chữ, Soạn Anh 8 Đề án, Soạn Bài ôn Tập Dấu Câu Lớp 6, Soạn Bài ôn Tập Dấu Câu, Mục Lục Soạn Văn 8, Mục Lục Soạn Văn 10, Soạn Bài ôn Tập Dấu Câu 8, Mục Lục Soạn Văn 6, Soạn Bài 3 Văn Bản Lớp 10, Soạn Văn Bản Bác ơi, Soạn Cụm Từ, Soạn Anh Văn 8 Đề án, Mục Lục Soạn Văn 7, Soạn Bài ôn Tập Làm Văn Lớp 7, Soạn Địa 8 Bài 7 ôn Thi Địa Lý, Soạn Văn 7 Bài Thơ Lục Bát,

Bạn đang đọc nội dung bài viết Giáo Án Đọc Văn: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!