Đề Xuất 12/2022 # Đồng Nai Dừng Thực Hiện Dự Án Khu Dân Cư Bình Đa / 2023 # Top 20 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Đồng Nai Dừng Thực Hiện Dự Án Khu Dân Cư Bình Đa / 2023 # Top 20 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Đồng Nai Dừng Thực Hiện Dự Án Khu Dân Cư Bình Đa / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Theo thông từ báo Đồng Nai, UBND tỉnh đã vừa ký Quyết định dừng thực hiện dự án khu dân cư Bình Đa (phường Bình Đa, TP.Biên Hòa) do Công ty cổ phần phát triển nhà Bình Đa (Bidaco) làm chủ đầu tư.

Dự án khu dân cư Bình Đa có diện tích khoảng 2,3ha. Ảnh: Báo Đồng Nai

Lý do để UBND tỉnh ra quyết định dừng thực hiện dự án là để làm các thủ tục bảo đảm cho việc chuyển đổi mục tiêu dự án, từ nhà ở thương mại sang dự án Nhà ở xã hội theo đúng quy định của pháp luật.

Dự án khu dân cư Bình Đa được UBND tỉnh ký quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư vào năm 2016 trên diện tích đất khoảng 2,3ha, trong đó có 2.000m2 đất dành để làm công trình giáo dục phục vụ dân cư của dự án và trong khu vực. Khu đất này được xem là “đất vàng” nằm giữa trung tâm TP Biên Hòa.

Để thực hiện dự án, năm 2011, Dofico liên doanh với 2 cá nhân để thành lập Bidaco. Lúc mới thành lập Bidaco, Dofico góp vốn 22 tỉ đồng (tương ứng 24,4% vốn điều lệ). Toàn bộ số vốn này được góp bằng giá trị tài sản và vị trí địa lý khu đất.

Theo đề án ban đầu, khu dân cư Bình Đa sẽ đáp ứng nhu cầu chỗ ở cho 200 y, bác sĩ làm việc tại Bệnh viện phụ sản Quốc tế và hơn 200 cán bộ công nhân viên công tác tại Dofico. Đồng thời khu dân cư này cũng có mục tiêu cung ứng căn hộ với giá hợp lý để thu hút nhân lực cho các dự án của Dofico.

Theo quyết định, dự án có quy mô xây dựng 235 căn hộ gồm chung cư, nhà liên kế và biệt thự, với tổng diện tích xây dựng hơn 44.000m2. Thời gian thực hiện 5 năm (2016 – 2020), vốn đầu tư dự kiến trên 400 tỉ đồng, trong đó vốn doanh nghiệp 20%.

Tuy nhiên, sau đó UBND tỉnh Đồng Nai ra quyết định thu hồi gần 2,3ha đất của Dofico giao Bidaco, thời hạn 50 năm. Trong đó, hơn 14.000m2 thu tiền sử dụng đất, còn gần 9.000m2 đất dùng mục đích hạ tầng kỹ thuật không thu tiền.

Đồng Nai Có “Xé Rào” Cấp Quyết Định Chủ Trương Đầu Tư Dự Án Khu Dân Cư Lộc An Mới? / 2023

(Tieudung.vn) – Dù chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu để được phê duyệt dự án theo quy định của pháp luật, nhưng UBND tỉnh Đồng Nai lại có dấu hiệu “xé rào” để cấp Quyết định Chủ trương đầu tư cho Công ty Ý Ngọc Bình Thuận tại dự án Khu dân cư Lộc An Mới?

Như chúng tôi đã thông tin, dự án Khu dân cư Lộc An Mới tọa lạc tại xã Lộc An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, do Công ty Cổ phần Thương mại và Dịch vụ Bất động sản Ý Ngọc Bình Thuận (Công ty Ý Ngọc Bình Thuận) làm chủ đầu tư.

Dự án có diện tích khoảng 11.150,1m2. Trong đó, 10.690,1m2 thuộc chức năng quy hoạch đất ở tại nông thôn và 460m2 thuộc đất trồng cây lâu năm. Tổng vốn đầu tư dự kiến của dự án khoảng 15 tỷ đồng.

Khu dân cư Lộc An Mới chỉ xây dựng duy nhất 1 con đường trục chính đi vào dự án, nhưng Công ty Long Phát đã thu của khách hàng lên đến 95% giá trị hợp đồng.

Đến thời điểm hiện tại, dự án này đang được Công ty TNHH Kinh doanh Địa ốc Long Phát (Công ty Long Phát) trụ sở tại số 3 Cửu Long, phường 2, quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh, chào bán ra thị trường thông qua Hợp đồng hợp tác phát triển dự án số 05/HĐPTDA/YNBT-LP ngày 10/10/2018 với Công ty Ý Ngọc Bình Thuận.

Dựa vào Hợp đồng hợp tác phát triển dự án này, Công ty Long Phát đã tiến hành chào bán, thu tiền của khách hàng thông qua “Hợp đồng đặt cọc để nhận chuyển nhượng đối với quyền sử dụng lô đất thuộc Khu dân cư Lộc An Mới” và thu từ 60% – 95% giá trị hợp đồng.

Tuy nhiên, như chúng tôi đã đề cập, trao đổi với PV, bà Nguyễn Thị Phương Tâm, Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty Ý Ngọc Bình Thuận khẳng định, hiện công ty của bà chưa ghi nhận bất cứ giao dịch nào phát sinh từ dự án Khu dân cư Lộc An Mới. Điều này có nghĩa, công ty Long Phát đang qua mặt chủ đầu tư, bán “chui” dự án Khu dân cư Lộc An Mới?

Đáng chú ý, trong hợp đồng hợp tác giữa công ty Long Phát và công ty Ý Ngọc Bình Thuận, có rất nhiều điều khoản lạ lùng, trái với Luật kinh doanh bất động sản đang có hiệu lực vào thời điểm đó (Chúng tôi sẽ thông tin kỹ hơn ở bài sau). Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi sẽ chỉ đề cập đến những “khúc mắc” về pháp lý của dự án.

Theo thông tin mà PV có được, ngày 31/8/2018, UBND tỉnh Đồng Nai đã ban hành văn bản số 3116/QĐ-UBND về việc Chấp thuận chủ trương đầu tư dự án Khu dân cư Lộc An Mới cho Công ty Cổ phần Thương mại và Dịch vụ Bất động sản Ý Ngọc Bình Thuận.

Đến ngày 4/10/2018, Công ty Ý Ngọc Bình Thuận cũng đã được Sở Xây dựng tỉnh Đồng Nai cấp Giấy phép quy hoạch số 27/GPQH để lập dự án đầu tư xây dựng khu dân cư Lộc An Mới.

Theo giấy phép quy hoạch này, dự án có quy mô dân số khoảng 200 người, với tính chất là đầu tư xây dựng mới khu dân cư tại xã Lộc An, có hệ thống hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh, gắn kết đồng bộ với các khu vực lân cận. Dự án có mật độ xây dựng (nhà liên kế vườn) 70-80%, với chiều cao, tầng cao khoảng 2-4 tầng (≤ 20m).

Thế nhưng, điều bất ngờ, là dù đã có Chủ trương đầu tư và Giấy phép quy hoạch, nhưng phải đến cuối tháng 10/2018, Công ty Ý Ngọc Bình Thuận mới có đất để thực hiện dự án.

Giấy cam kết do ông Nguyễn Văn Tuấn, chủ sở hữu của thửa đất số 18, tờ bản đồ số 9 (khu đất được phê duyệt thực hiện Khu dân cư Lộc An Mới) ký ngày 23/10/2018.

Cụ thể, ngày 23/10/2018, ông Nguyễn Văn Tuấn, chủ sở hữu của thửa đất số 18, tờ bản đồ số 9 (khu đất được phê duyệt thực hiện Khu dân cư Lộc An Mới) mới làm giấy cam kết gửi UBND huyện Long Thành, Phòng Quản lý đô thị, Phòng Tài nguyên & Môi trường và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Long Thành về việc đồng ý cho công ty Ý Ngọc Bình Thuận thực hiện việc thu hồi đất, xây dựng dự án trên khu đất này.

Điều này có nghĩa, gần 2 tháng kể từ khi được cấp Quyết định chủ trương đầu tư và sau 20 ngày kể từ khi có giấy phép quy hoạch, công ty Ý Ngọc Bình Thuận mới có đất và tài liệu để xác nhận nhà đầu tư có quyền sử dụng địa điểm để thực hiện dự án đầu tư.

Trong khi đó, Quyết định chủ trương đầu tư do UBND tỉnh Đồng Nai cấp ngày 31/8/2018 có ghi rõ căn cứ để ban hành Quyết định này là dựa trên Luật Đầu tư 2014. Tuy nhiên, theo điểm đ khoản 1 Điều 33 của Luật đầu tư 2014 quy định rất rõ về hồ sơ dự án đầu tư phải có: “đề xuất nhu cầu sử dụng đất; trường hợp dự án không đề nghị Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thì nộp bản sao thỏa thuận thuê địa điểm hoặc tài liệu khác xác nhận nhà đầu tư có quyền sử dụng địa điểm để thực hiện dự án”.

Căn cứ theo quy định này và những gì chúng tôi thu thập được, thì tại thời điểm UBND tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định chủ trương đầu tư cho dự án khu dân cư Lộc An Mới, công ty Ý Ngọc Bình Thuận vẫn chưa thể có “bản sao thỏa thuận thuê địa điểm hoặc tài liệu khác xác nhận nhà đầu tư có quyền sử dụng địa điểm để thực hiện dự án”.

Do đó, vấn đề được đặt ra là có hay không việc hồ sơ dự án đầu tư chưa đảm bảo đầy đủ theo quy định của pháp luật về đầu tư, nhưng vẫn được UBND tỉnh xem xét và ban hành Quyết định đầu tư? Và điều này dẫn đến hệ quả, là công ty Long Phát rầm rộ chào bán và thu tiền của khách hàng bất chấp các quy định của pháp luật?

Tieudung.vn sẽ tiếp tục thông tin về vụ việc.

Hướng Dẫn Việc Bố Trí Nhà Ở Xã Hội Tại Các Dự Án Nhà Ở Thương Mại, Dự Án Khu Đô Thị Trên Địa Bàn Tỉnh Đồng Nai Khi Thực Hiện Điều Chỉnh Quy Hoạch / 2023

Bộ Xây dựng vừa có công văn 4248/BXD-QLN ngày 31/8/2020 gửi Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai hướng dẫn việc bố trí nhà ở xã hội tại các dự án nhà ở thương mại, dự án khu đô thị trên địa bàn tỉnh khi thực hiện điều chỉnh quy hoạch.

Đối với các dự án không thay đổi chủ đầu tư, không bị thu hồi giao cho chủ đầu tư khác:

Việc quy định bắt buộc chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thương mại, dự án đầu tư phát triển đô thị tại các khu vực đô thị từ loại 3 trở lên và khu vực quy hoạch là đô thị từ loại 3 trở lên phải dành quỹ đất để phát triển nhà ở xã hội chỉ được quy định từ Nghị định số 188/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 của Chính phủ (có hiệu lực thi hành từ 10/01/2014), Luật Nhà ở năm 2014 (có hiệu lực thi hành từ 01/7/2015), Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội (có hiệu lực thi hành từ 10/12/2015). Cụ thể là:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Luật Nhà ở 2014 và khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 5 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP thì chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thương mại, dự án đầu tư phát triển đô thị không phân biệt quy mô diện tích đất tại các đô thị từ loại 3 trở lên và khu vực quy hoạch là đô thị từ loại 3 trở lên phải dành 20% tổng diện tích đất ở trong các đồ án quy hoạch chi tiết hoặc tổng mặt bằng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, đã đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật dành để xây dựng nhà ở xã hội; trường hợp dự án phát triển nhà ở thương mại, dự án đầu tư phát triển đô thị có quy mô sử dụng đất dưới 10 ha thì chủ đầu tư dự án được lựa chọn hình thức hoặc dành quỹ đất 20% để xây dựng nhà ở xã hội, hoặc chuyển giao quỹ nhà ở tương đương với giá trị quỹ đất 20% tính theo giá đất mà chủ đầu tư thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước tại thời điểm chuyển giao để sử dụng làm nhà ở xã hội, hoặc nộp bằng tiền tương đương giá trị quỹ đất 20% theo giá đất mà chủ đầu tư thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước nhằm bổ sung vào ngân sách địa phương dành để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội trên phạm vi địa bàn; trường hợp bố trí quỹ đất 20% để xây dựng nhà ở xã hội không phù hợp với quy hoạch của địa phương hoặc có bố trí nhưng không đủ quỹ đất 20% để xây dựng nhà ở xã hội thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận.

Đồng thời, tại khoản 4 Điều 5 Thông tư số 08/2014/TT-BXD ngày 23/5/2014 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 188/2013/NĐ-CP và khoản 4 Điều 5 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội đã có quy định đối với trường hợp chuyển tiếp như sau: “Đối với dự án phát triển nhà ở thương mại, dự án đầu tư phát triển đô thị đã lựa chọn chủ đầu tư trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành, nhưng chưa bố trí quỹ đất 20% dành để xây dựng nhà ở xã hội mà sau thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành, dự án đó bị thu hồi theo quy định của pháp luật để giao cho chủ đầu tư khác thì chủ đầu tư dự án đó (chủ đầu tư mới) có trách nhiệm tổ chức lập, điều chỉnh quy hoạch để bố trí bổ sung quỹ đất 20% để xây dựng nhà ở xã hội theo quy định”.

Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 182 Luật Nhà ở 2014 quy định các dự án đầu tư xây dựng nhà ở được phê duyệt trước ngày Luật này có hiệu lực thì không phải thực hiện phê duyệt lại theo quy định của Luật này, trừ trường hợp thuộc diện phải dành diện tích đất trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại để xây dựng nhà ở xã hội.

Căn cứ các quy định nêu trên, đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai đối chiếu với thời điểm lựa chọn chủ đầu tư thực hiện dự án, hồ sơ dự án và chương trình phát triển nhà ở, kế hoạch phát triển nhà ở xã hội, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất xây dựng nhà ở xã hội, nhu cầu nhà ở xã hội…trên địa bàn khu vực có dự án để xem xét, quyết định theo thẩm quyền việc dành hay không dành quỹ đất xây dựng nhà ở xã hội trong dự án, bảo đảm đáp ứng đủ nhu cầu về nhà ở xã hội trên địa bàn.

Đối với các trường hợp dự án đã được lựa chọn chủ đầu tư từ trước thời điểm Nghị định số 188/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 của Chính phủ có hiệu lực thì pháp luật về đất đai, quy hoạch, nhà ở không có quy định bắt buộc các dự án phải dành quỹ đất cho nhà ở xã hội;

Đối với các trường hợp dự án thuộc diện quy định tại khoản 4 Điều 5 Thông tư số 08/2014/TT-BXD của Bộ Xây dựng, khoản 4 Điều 5 Nghị định số 100/2014/NĐ-CP của Chính phủ thì không phải dành 20% quỹ đất ở trong dự án để xây dựng nhà ở xã hội, trừ trường hợp bị thu hồi theo quy định của pháp luật để giao cho chủ đầu tư khác.

Đối với các dự án nhận chuyển nhượng:

Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 52 Luật Kinh doanh bất động sản 2014 thì “bên nhận chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản có các quyền và nghĩa vụ kế thừa và thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ đầu tư chuyển nhượng đã chuyển giao”.

Do đó, trường hợp nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong các dự án phát triển nhà ở thương mại, dự án đầu tư phát triển đô thị thì chủ đầu tư thứ cấp của dự án phải kế thừa và thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ đầu tư cấp 1 đã chuyển giao; đồng thời tiếp tục triển khai đầu tư xây dựng, thực hiện dự án theo đúng tiến độ, nội dung của dự án đã được phê duyệt. Việc bố trí 20% quỹ đất dành để đầu tư nhà ở xã hội thì chủ đầu tư thứ cấp phải căn cứ vào quy hoạch chi tiết hoặc quy hoạch tổng mặt bằng của dự án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và các quy định pháp luật nêu trên để thực hiện.

Nội dung chi tiết xem tệp đính kèm: BXD_4248-BXD-QLN_31082020.pdf  

Trung tâm Thông tin Nguồn: Công văn 4248/BXD-QLN.

Tốc Độ Tối Đa Của Xe Máy, Ô Tô Trong Khu Dân Cư Là Bao Nhiêu? / 2023

Trong khu dân cư, mặc dù không có biển báo hạn chế tốc độ nhưng ô tô, xe máy vẫn phải tuân thủ tốc độ tối đa theo quy định.

Tốc độ tối đa của xe máy, ô tô trong khu dân cư là bao nhiêu?

Hiện nay, Tốc độ tối đa của xe máy, ô tô trong khu dân cư tuân thủ quy định tại Thông tư 31/2019/TT-BGTVT.

Theo Thông tư này, khi đi trong khu đông dân cư, tốc độ tối đa của các phương tiện như sau:

Nếu nhìn bảng trên, nhiều người sẽ nghĩ xe máy trong khu dân cư chỉ được chạy tối đa 40km/h. Tuy nhiên, đây là cách hiểu sai, xuất phát từ việc hiểu sai khái niệm xe máy và xe gắn máy.

Theo Quy chuẩn 41:2019/BGTVT có hiệu lực từ 01/7/2020, xe cơ giới là chỉ các loại xe ô tô; máy kéo; rơ-moóc hoặc sơ-mi rơ-moóc được kéo bởi xe ôtô; xe máy 2 bánh; xe máy 3 bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự…

Ngay từ khái niệm này, Quy chuẩn 41 đã xác định xe máy và xe gắn máy là 02 loại khác nhau.

Cụ thể hơn, Quy chuẩn định nghĩa từng loại như sau:

– Xe mô tô (hay còn gọi là xe máy) là xe cơ giới hai hoặc ba bánh và các loại xe tương tự, di chuyển bằng động cơ có dung tích xy lanh từ 50 cm3 trở lên, trọng tải bản thân xe không quá 400 kg;

– Xe gắn máy là chỉ phương tiện chạy bằng động cơ, có hai bánh hoặc ba bánh và vận tốc thiết kế lớn nhất không lớn hơn 50 km/h. Nếu dẫn động là động cơ nhiệt thì dung tích làm việc hoặc dung tích tương đương dưới 50 cm3.

Như vậy, xe máy và xe gắn máy là 02 khái niệm khác nhau hoàn toàn. Việc giới hạn 40km/h chỉ áp dụng với xe gắn máy chứ không phải xe máy.

Hiện nay, tốc độ tối đa đối với ô tô, xe máy khi đi trong khu vực đông dân cư là 60km/h đối với đường đôi (đường có chiều đi và chiều về được phân biệt bằng dải phân cách giữa), đường 01 chiều có từ 02 làn xe cơ giới trở lên; tối đa 50 km/h với đường 02 chiều (đường có cả 02 chiều đi và về trên cùng 01 phần đường chạy xe, không được phân biệt bằng giải phân cách giữa), đường 01 chiều có 01 làn xe cơ giới.

Chạy xe quá tốc độ trong khu dân cư bị phạt thế nào?

Việc xử phạt đối với phương tiện giao thông chạy quá tốc độ hiện nay tuân thủ theo Nghị định 100/2019/NĐ-CP.

Cụ thể, mức phạt như sau:

Xác định khu đông dân cư bằng cách nào?

Theo Quy chuẩn 41:2019, đường qua khu đông dân cư là đoạn đường bộ nằm trong khu vực nội thành phố, nội thị xã, nội thị trấn và những đoạn đường có dân cư sinh sống sát dọc theo đường, có các hoạt động có thể ảnh hưởng đến an toàn giao thông đường bộ và được xác định bằng biển báo là đường qua khu đông dân cư (khi cần thiết có thể xác định riêng cho từng chiều đường).

Trong đó, biển số R.420 là biển báo hiệu bắt đầu khu đông dân cư. Biển số R.421 báo hiệu hết khu đông dân cư.

Biển số 420 có hiệu lực khu đông dân cư đối với tất cả các tuyến đường nằm trong khu đông dân cư đô thị cho đến vị trí đặt biển số 421.

Biến báo hiệu khu đông dân cư và hết khu đông dân cư

Bạn đang đọc nội dung bài viết Đồng Nai Dừng Thực Hiện Dự Án Khu Dân Cư Bình Đa / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!