Đề Xuất 12/2022 # Đòn Bẩy Của Sản Xuất Nông Nghiệp / 2023 # Top 17 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Đòn Bẩy Của Sản Xuất Nông Nghiệp / 2023 # Top 17 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Đòn Bẩy Của Sản Xuất Nông Nghiệp / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Có nhiều tiềm năng, lợi thế về điều kiện đất đai, khí hậu, Ninh Bình xác định mục tiêu phát triển nông nghiệp theo hướng hữu cơ, thông minh, với các sản phẩm đặc hữu để phục vụ tiêu dùng nội tỉnh và phát triển du lịch. 

Thực tế thời gian qua, Tỉnh ủy, HĐND tỉnh Ninh Bình đã ban hành nhiều nghị quyết, chính sách quan trọng, là đòn bẩy thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng này, trong đó có Nghị quyết số 39/2018/NQ-HĐND ngày 12/12/2018 của HĐND tỉnh quy định chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao, hình thức sản xuất tiên tiến, bền vững đến năm 2020. 

Sau 2 năm triển khai, thực hiện Nghị quyết, hơn 200 mô hình, dự án, nhiệm vụ đã được đầu tư thực hiện, trọng tâm là xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, phát triển liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, phát triển chăn nuôi an toàn sinh học, sản xuất theo hướng hữu cơ, an toàn vệ sinh thực phẩm, cơ giới hóa… đã tác động, làm thay đổi căn bản, mạnh mẽ ngành nông nghiệp tỉnh nhà.

Trên lĩnh vực trồng trọt, từ năm 2019, do áp dụng các chính sách của Nghị quyết 39, các vùng lúa đặc sản nếp Cau quy mô lớn liên tục được mở rộng, tổng diện tích đến nay đạt trên 2.000 ha. Đặc biệt, tỉnh ta đã xây dựng thành công các mô hình 300 ha sản xuất lúa theo hướng hữu cơ. 

Từ hạt nhân là 21 mô hình, dự án được hỗ trợ, Ninh Bình cũng đã hình thành, phát triển được các vùng sản xuất rau, củ, quả hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao, đảm bảo an toàn thực phẩm tại huyện Yên Khánh, Yên Mô, Gia Viễn, thành phố Tam Điệp, thành phố Ninh Bình với nhiều gia trại, trang trại, hợp tác xã, tổ hợp tác đang sản xuất rau an toàn hoặc theo tiêu chuẩn GAP, có truy xuất nguồn gốc. 

Diện tích sản xuất rau năm sau cao hơn năm trước; đặc biệt giá trị kinh tế và thị trường tiêu thụ của các vùng sản xuất rau này khá cao và ổn định.

Là một đơn vị có truyền thống thâm canh rau màu, đặc biệt là rau vụ đông, HTX Liên Dương, xã Khánh Dương, huyện Yên Mô được thụ hưởng dự án đầu tư hệ thống tưới tự động theo Nghị quyết 39. 

Ông Đinh Xuân Phương, Phó Giám đốc HTX phấn khởi cho biết: Trước kia, bà con phải gánh nước tưới rau rất vất vả. Từ khi được Nhà nước đầu tư 2 trạm bơm và hệ thống tưới tự động công nghệ cao thì chỉ cần một thao tác nhỏ, trong 1 tiếng đồng hồ, cả 10 ha rau màu đã được tưới xong. 

Do đó, ngoài việc tiết kiệm công lao động, năng suất, chất lượng nông sản cũng tăng lên. Ngoài ra, chúng tôi còn được cán bộ kỹ thuật của Sở Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn sản xuất theo hướng an toàn, sử dụng phân bón hữu cơ, thuốc BVTV sinh học nên rau của HTX đảm bảo được các yêu cầu nghiêm ngặt từ phía đơn vị xuất khẩu. 

Nếu như năm 2018, giá trị vụ đông của HTX là 145 triệu đồng/ha thì năm 2019 đạt tới 200 triệu đồng/ha, riêng năm nay do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19 nên sản phẩm chỉ tiêu thụ nội vùng, giá trị giảm đi đôi chút nhưng nhìn chung hiệu quả vẫn khá cao.

Trong chăn nuôi, Nghị quyết 39 cũng tạo động lực, giúp hình thành nhiều vùng, cơ sở chăn nuôi tập trung, quy mô lớn theo chuỗi giá trị như: Gà đẻ trứng ứng dụng công nghệ cao ở xã Yên Sơn, thành phố Tam Điệp; chuỗi giá trị gà lai Đông Tảo 20 nghìn con/năm ở xã Đồng Phong, huyện Nho Quan, sản xuất gà, lợn hữu cơ tiêu chuẩn châu Âu tại xã Gia Hòa, huyện Gia Viễn; các chuỗi giá trị con nuôi đặc sản ở thành phố Tam Điệp, Nho Quan… 

Đặc biệt, việc hỗ trợ dự án chăn nuôi lợn an toàn sinh học đã góp phần khống chế dịch bệnh tả lợn châu Phi trên địa bàn tỉnh. Đến nay, dịch chỉ xảy ra tại các hộ chăn nuôi lợn nhỏ, lẻ, còn các trang trại, gia trại chăn nuôi lớn vẫn giữ an toàn, góp phần phát triển đàn lợn so với năm 2019, ổn định giá lợn hơi trên địa bàn.

Thủy sản có sự phát triển vượt bậc. Nếu như năm 2017, diện tích nuôi tôm thâm canh chỉ có 7 ha thì đến năm 2020 là 280 ha; ngoài ra hiện nay Ninh Bình còn có gần 40 ha nuôi tôm siêu thâm canh. Các trại sản xuất giống nước lợ: ngao, hàu, cua xanh cũng đẩy mạnh hoạt động sản xuất để đáp ứng nhu cầu con giống thủy sản tại địa phương và xuất đi các tỉnh khác như Nam Định, Thanh Hóa, Thái Bình, Quảng Ninh. 

Qua việc khuyến khích chuyển đổi diện tích đất lúa kém hiệu quả, đất ruộng trũng sang nuôi thủy sản, diện tích nuôi cá nước ngọt phát triển mạnh cả về diện tích, giá trị. Ngoài ra, chính sách hỗ trợ của Nghị quyết 39 còn góp phần phát triển vùng cây Bùi (trám) Kỳ Lão trên địa bàn Nho Quan – một sản phẩm đặc hữu của tỉnh. 

Đồng thời nâng cao giá trị kinh tế đất rừng qua việc trồng cây dược liệu dưới tán rừng, vừa đảm bảo độ che phủ rừng, vừa tăng thu nhập cho người trồng rừng.

Minh chứng là con số tăng trưởng ấn tượng 2,7% năm 2019 và dự kiến 3,15% năm 2020 của ngành. Giá trị bình quân trên 1 ha đất canh tác liên tục tăng, năm 2019 đạt 130 triệu đồng, năm 2020 ước đạt 135 triệu đồng; vượt 5 triệu đồng/ha so với mục tiêu giai đoạn 2016-2020. 

Tuy nhiên, qua nắm bắt tình hình thực tiễn, việc triển khai thực hiện Nghị quyết 39 vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc. Mặc dù đã hình thành các mô hình sản xuất nông nghiệp hàng hóa, tập trung nhưng quy mô còn nhỏ. Số lượng doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị sản phẩm, đầu tư các dự án lớn còn rất ít. 

Để nông nghiệp Ninh Bình tiếp tục phát triển ổn định, bền vững, tại kỳ họp thứ 21 HĐND tỉnh khóa XIV, HĐND tỉnh đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về việc tiếp tục thực hiện một số chính sách quy định tại Nghị quyết số 39/2018/NQ-HĐND ngày 12/12/2018 của HĐND tỉnh Ninh Bình quy định chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao, hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến, bền vững trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, giai đoạn 2019-2020 đến hết năm 2021. 

Trong đó, hai chính sách tiếp tục được thực hiện là: Hỗ trợ phát triển nông nghiệp hữu cơ, theo hướng hữu cơ và hỗ trợ phát triển kinh tế gia trại, trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã theo hướng sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao.

Nhiều cử tri quan tâm, theo dõi đánh giá, việc kéo dài thời gian thực hiện Nghị quyết 39 sẽ giúp nông nghiệp Ninh Bình tiếp tục chuyển từ số lượng sang chất lượng và giá trị, giải quyết điểm “nghẽn” trong tiêu thụ nông sản, thay đổi nhận thức của toàn xã hội về tầm quan trọng của ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, giúp nâng cao nhận thức của người sản xuất và người tiêu dùng về sản phẩm nông nghiệp an toàn, hữu cơ. 

Đồng thời, thu hút thêm các doanh nghiệp, các nhà đầu tư tiềm năng liên kết và phát triển sản xuất nông nghiệp an toàn, nông nghiệp hữu cơ theo chuỗi giá trị… qua đó, góp phần nâng cao thu nhập và đời sống của người dân khu vực nông thôn.

Theo Baoninhbinh.org.vn

Căn Cứ Xác Định Người Trực Tiếp Sản Xuất Nông Nghiệp / 2023

TIN ĐỌC NHIỀU

TIN MỚI NHẬN

(Chinhphu.vn) – Ông Nguyễn Thái Nhân (Sóc Trăng) đề nghị cơ quan chức năng giải đáp quy định về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với trường hợp trong gia đình có người trực tiếp và người không trực tiếp sản xuất nông nghiệp.

Ông Nhân hỏi, hai vợ chồng, một người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, người còn lại không trực tiếp sản xuất thì hai vợ chồng có được cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp nhận tặng cho, chuyển nhượng đất trồng lúa và công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp không hay là chỉ cấp được cho một người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, còn người còn lại thì không được?

Theo Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT, việc lấy ý kiến xác nhận trực tiếp sản xuất nông nghiệp là trách nhiệm của cơ quan giải quyết thủ tục. Nhưng nếu người sử dụng đất tự cung cấp giấy tờ xác nhận có được không?

Nếu người dân tự cung cấp giấy xác nhận, như vậy có sai trình tự thủ tục theo quy định Khoản 4, Điều 3 Thông tư 33/2017/TT-BTNMT?

Trường hợp ông Nguyễn Văn A nhận chuyển nhượng đất trồng lúa, nhưng ông A này có nghề nghiệp là buôn bán ở thành phố không thuộc các đối tượng tại Điểm b, Khoản 2, Điều 3 Thông tư 33/2017/TT-BTNMT (từ trước đến nay ông A chưa có đất nông nghiệp, nay mới nhận chuyển nhượng đất trồng lúa). Như vậy ông A có được xác nhận là trực tiếp sản xuất nông nghiệp và được cấp giấy chứng nhận hay không?

Về vấn đề này, Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời như sau:

Tại Điều 3 của Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 6/1/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đất đai đã quy định:

“Điều 3. Việc xác nhận hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp

1. Việc xác nhận hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

a) Giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân theo quy định tại Điều 54 của Luật Đất đai;

b) Đăng ký nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa của hộ gia đình, cá nhân;

c) Công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân;

d) Thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân mà cần xác định đối tượng được bồi thường, hỗ trợ.

2. Các căn cứ để xác định cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp:

a) Đang sử dụng đất nông nghiệp do được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất; do nhận chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; đang sử dụng đất nông nghiệp mà chưa được Nhà nước công nhận;

b) Không thuộc đối tượng được hưởng lương thường xuyên; đối tượng đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp xã hội;

c) Có nguồn thu nhập thường xuyên từ sản xuất nông nghiệp trên diện tích đất đang sử dụng quy định tại Điểm a Khoản này, kể cả trường hợp không có thu nhập thường xuyên vì lý do thiên tai, thảm họa môi trường, hỏa hoạn, dịch bệnh;

d) Trường hợp giao đất nông nghiệp cho cá nhân theo quy định tại Điều 54 của Luật Đất đai, đăng ký nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa của cá nhân thì chỉ căn cứ quy định tại Điểm b Khoản này.

3. Căn cứ xác định hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp:

a) Đang sử dụng đất nông nghiệp do được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất; do nhận chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; đang sử dụng đất nông nghiệp mà chưa được Nhà nước công nhận;

b) Có ít nhất một thành viên của hộ gia đình không thuộc đối tượng được hưởng lương thường xuyên; đối tượng đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp xã hội;

c) Có nguồn thu nhập thường xuyên từ sản xuất nông nghiệp trên diện tích đất đang sử dụng quy định tại Điểm a Khoản này, kể cả trường hợp không có thu nhập thường xuyên vì lý do thiên tai, thảm họa môi trường, hỏa hoạn, dịch bệnh;

d) Trường hợp giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình theo quy định tại Điều 54 của Luật Đất đai, đăng ký nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa của hộ gia đình thì chỉ căn cứ quy định tại Điểm b Khoản này.

4. Việc UBND xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là UBND cấp xã) xác nhận hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp là một nội dung trong trình tự thực hiện các thủ tục quy định tại Khoản 1 Điều này và được thực hiện như sau:

a) Đối với trường hợp thực hiện thủ tục quy định tại Điểm a, Khoản 1 Điều này, Phòng Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm gửi văn bản đề nghị xác nhận đến UBND cấp xã nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của hộ gia đình, cá nhân;

b) Đối với trường hợp thực hiện thủ tục quy định tại Điểm b và Điểm c, Khoản 1 Điều này, Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm gửi văn bản đề nghị xác nhận đến UBND cấp xã nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của hộ gia đình, cá nhân;

c) Đối với trường hợp quy định tại Điểm d, Khoản 1 Điều này, khi có Biên bản điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm gửi văn bản đề nghị xác nhận đến UBND cấp xã nơi đăng ký hộ khẩu thường trú;

d) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không cùng nơi đăng ký hộ khẩu thường trú thì cơ quan có trách nhiệm quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này có văn bản gửi UBND cấp xã nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và UBND cấp xã nơi có đất đề nghị xác nhận theo quy định tại Khoản 2, Điều 2 của Nghị định số 01/2017/NĐ-CP.

UBND cấp xã nơi có đất có trách nhiệm gửi văn bản xác nhận cho UBND cấp xã nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của hộ gia đình, cá nhân đó”.

Căn cứ quy định nêu trên đề nghị ông liên hệ với UBND cấp xã có thẩm quyền để được hướng dẫn, giải quyết thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật.

Từ khóa: Đất nông nghiệp , sản xuất nông nghiệp , quyền sử dụng đất

Hđnd Tỉnh Ban Hành Chính Sách Khuyến Khích Phát Triển Sản Xuất Nông Nghiệp Hàng Hóa Trên Địa Tỉnh. / 2023

BHG – Ngày 7.12.2018 Chủ tịch HĐND tỉnh Thào Hồng Sơn đã ký ban hành Nghị quyết số 29/2018/NQ-HĐND về việc ban hành chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa trên địa tỉnh. Nghị quyết này nêu bật Quy định chính sách hỗ trợ lãi suất vay vốn và hỗ trợ trực tiếp cho các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn. Cụ thể như sản xuất hàng hóa những loại cây, con theo đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp; chăn nuôi trâu, bò, lợn, dê, gia cầm; lâm nghiệp, dồn điền đổi thửa; dự án ứng dụng công nghệ cao.

Theo Nghị quyết, tỉnh ta sẽ hỗ trợ 100% lãi suất vay vốn cho các tổ chức, cá nhân để thâm canh vườn chè (vườn chè đủ điều kiện để xây dựng tiêu chuẩn VietGAP hoặc hữu cơ). Mức vay vốn được hỗ trợ lãi suất tối đa là 30 triệu đồng/ha, thời gian hỗ trợ 24 tháng. Hỗ trợ 100% lãi suất vay vốn cho các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng nhà máy chế biến với dây chuyền công nghệ hiện đại, tiên tiến. Mức vay vốn được hỗ trợ lãi suất tối đa không quá 5.000 triệu đồng/dự án, thời gian hỗ trợ 36 tháng. Đối với cây cam, tỉnh sẽ hỗ trợ 100% lãi suất vay vốn cho các tổ chức, cá nhân để thâm canh vườn cam theo tiêu chuẩn VietGAP. Mức vay vốn được hỗ trợ lãi suất tối đa là 50 triệu đồng/ha (đối với vườn cam có xây dựng đường giao thông, hệ thống tưới, mức vay vốn được hỗ trợ lãi suất tối đa là 80 triệu đồng/ha), thời gian hỗ trợ 24 tháng. Hỗ trợ 100% lãi suất vay vốn cho các tổ chức, cá nhân đầu tư cơ sở bảo quản cam. Mức vay vốn được hỗ trợ lãi suất tối đa là 500 triệu đồng/dự án, thời gian hỗ trợ 36 tháng.

Nhằm phát triển chăn nuôi trâu, bò hàng hóa tỉnh sẽ hỗ trợ 100% lãi suất vốn vay cho các tổ chức, cá nhân mua giống trâu, bò, quy mô từ 20 con trở lên. Mức vay vốn được hỗ trợ lãi suất tối đa là 20 triệu đồng/con, thời gian hỗ trợ 36 tháng. Hỗ trợ 100% lãi suất vốn vay cho các tổ chức, cá nhân đầu tư nhà máy chế biến thực phẩm từ sản phẩm gia súc, gia cầm. Mức vay vốn được hỗ trợ lãi suất tối đa là 10.000 triệu đồng/dự án, thời gian hỗ trợ 60 tháng. Để phát triển đàn ong, tỉnh sẽ hỗ trợ 100% lãi suất vốn vay cho các tổ chức, cá nhân mua giống ong nội, quy mô tối thiểu từ 20 tổ ong trở lên. Mức vay vốn được hỗ trợ lãi suất tối đa là 01 triệu đồng/tổ ong, thời gian hỗ trợ 24 tháng. Nhằm phát triển chăn nuôi đàn lợn hàng hóa tỉnh ta hỗ trợ 100% lãi suất vay vốn cho các tổ chức, cá nhân để mua giống lợn chăn nuôi theo hướng an toàn thực phẩm. Quy mô chăn nuôi đối với cá nhân từ 20 con trở lên; đối với tổ chức từ 100 con trở lên. Mức vay vốn được hỗ trợ lãi suất tối đa là 1,5 triệu đồng/con, thời gian hỗ trợ lãi suất tối đa là 24 tháng. Đối với chăn nuôi gia cầm bằng giống địa phương, tỉnh ta sẽ hỗ trợ 100% lãi suất vay vốn cho các tổ chức, cá nhân mua giống gia cầm chăn nuôi theo hướng an toàn thực phẩm. Quy mô chăn nuôi đối với cá nhân từ 500 con trở lên; đối với tổ chức từ 2.000 con trở lên. Mức vay vốn được hỗ trợ lãi suất tối đa là 30.000 đồng/con giống, thời gian hỗ trợ tối đa là 12 tháng. Để phát triển đàn dê tỉnh sẽ hỗ trợ 100% lãi suất vay vốn cho các tổ chức, cá nhân để mua giống dê. Quy mô chăn nuôi đối với cá nhân từ 30 con trở lên; đối với tổ chức từ 100 con trở lên. Mức vay vốn được hỗ trợ lãi suất tối đa là 2 triệu đồng/con, thời gian hỗ trợ lãi suất tối đa là 24 tháng…

Chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa trên địa tỉnh cũng xây dựng nhiều giải pháp hỗ trợ làm chuồng trại và xử lý chất thải chăn nuôi; hỗ trợ đăng ký thương hiệu sản phẩm, chế biến thức ăn chăn nuôi, phát triển giống đại gia súc và hỗ trợ khuyến khích phát triển lâm nghiệp… Để xem cụ thể Nghị quyết 29/2018/NQ-HĐND bạn đọc kích xem đường link dưới.

                                                                                           BTV (soạn)

Phân Tích Quyết Định Quản Trị Tuyến Sản Phẩm Của Doanh Nghiệp Sản Xuất Bánh Kẹo Kinh Đô / 2023

* Website: www.kinhdo.vn1. TẦM NHÌN – SỨ MỆNH CỦA CÔNG TYa. Tầm nhìn: Kinh Đô đem hương vị cuộc sống đến cho mọi nhà bằng những thực phẩm an toàn, dinh dưỡng, tiện lợi và độc đáo. Slogan: Hương vị cho cuộc sốngb. Sứ mệnh:Sứ mệnh của Kinh Đô đối với người tiêu dùng là tạo ra những sản phẩm phù hợp, tiện dụng bao gồm các loại thực phẩm thông dụng, thiết yếu, các sản phẩm bổ sung và 2đồ uống. Kinh Đô cung cấp các thực phẩm an toàn, thơm ngon, dinh dưỡng, tiện lợi và độc đáo cho tất cả mọi người để luôn giữ vị trí tiên phong trên thị trường thực phẩm.* Với cổ đông, sứ mệnh của Kinh Đô không chỉ dừng ở việc mang lại mức lợi nhuận tối đa trong dài hạn mà còn thực hiện tốt việc quản lý rủi ro từ đó làm cho cổ đông an tâm với những khoản đầu tư.* Với đối tác, sứ mệnh của Kinh Đô là tạo ra những giá trị bền vững cho tất cả các thành viên trong chuỗi cung ứng bằng cách đảm bảo một mức lợi nhuận hợp lý thông qua các sản phẩm, dịch vụ đầy tính sáng tạo. Kinh Đô không chỉ đáp ứng đúng xu hướng tiêu dùng mà còn thỏa mãn được mong ước của khách hàng.* Kinh Đô luôn ươm mầm và tạo mọi điều kiện để thỏa mãn các nhu cầu và kỳ vọng trong công việc nhằm phát huy tính sáng tạo, sự toàn tâm và lòng nhiệt huyết của nhân viên. Vì vậy Kinh Đô luôn có một đội ngũ nhân viên năng động, sáng tạo, trung thành, có khả năng thích nghi cao và đáng tin cậy.* Để góp phần phát triển và hỗ trợ cộng đồng, Kinh Đô chủ động tạo ra, đồng thời mong muốn được tham gia và đóng góp cho những chương trình hướng đến cộng đồng và xã hội. 2. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂNa. Những bước khởi đầu:* Năm 1993: Thành lập công ty Kinh Đô.* Năm 1996: Di dời nhà máy về Quận Thủ Đức và mở rộng diện tích nhà xưởng lên 60.000 m2b. Phát triển vững chắc: * Năm 1999: Khai trương cửa hàng Kinh Đô Bakery hiện đại đầu tiên* Năm 2001: Thành lập Công ty Cổ Phần Chế Biến Thực phẩm Kinh Đô Miền Bắc và Nhà máy tại Hưng Yên có diện tích 28.000m².* Năm 2002: Bắt đầu gia nhập thị trường bánh Trung Thu. Phát triển hệ thống phân phối với 150 nhà phân phối và trên 30.000 điểm bán lẻ rộng khắp cả nước. Tốc độ phát triển hàng năm tăng từ 20% đến 30%.* Năm 2003: Chính thức mua lại nhà máy kem Wall’s của tập đoàn Unilever tại Việt Nam, thay thế bằng nhãn hiệu kem Kido’s* Năm 2004: Thành lập Công ty Cổ phần Kinh Đô Bình Dương Thành lập Công ty Cổ phần Thực phẩm Kinh Đô Sài Gòn* Năm 2005: Đầu tư vào Công ty Cổ Phần Nước Giải Khát Sài Gòn – Tribeco* Năm 2007: Trở thành đối tác chiến lược với Ngân hàng Eximbank Xây dựng nhà máy Tribeco Miền Bắc tại tỉnh Hưng Yên3 Trở thành đối tác chiến lược với Công ty Cổ Phần Thực Phẩm Dinh Dưỡng Đồng Tâm (Nutifood). Đầu tư và tham gia điều hành Vinabico* Năm 2008: Chính thức khánh thành và đưa vào hoạt động nhà máy Kinh Đô Bình Dương với dây chuyền hiện đại khép kín, công nghệ Châu Âu, theo tiêu chuẩn GMP, HACCP. Với mô hình nhà máy hiện đại, mọi sản phẩm của công ty được sản xuất hoàn toàn tự động, đáp ứng những tiêu chuẩn khắt khe nhất của thị trường trong và ngoài nước.* Năm 2010: Chính thức dời trụ sở về 141 Nguyễn Du, P. Bến Thành, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh đánh dấu bước khởi đầu mới, hướng đến tương lai phát triển vững bền. Hệ thống Kinh Đô Bakery phát triển và khẳng định vị thế hàng đầu với chuỗi 30 cửa hàng Kinh Đô Bakery và K-Do Bakery & Café.c Công ty Cổ Phần Chế Biến Thực phẩm Kinh Đô Miền Bắc (NKD) và Công ty Ki Do sáp nhập vào Công ty Cổ Phần Kinh Đô (KDC).II. Sản phẩm và mô tả tuyến sản phẩm và đánh giá các quyết định quản trị tuyến sản phẩm Kinh Đô1. Sản phẩm của Kinh Đô4Định hướng phả triển cho các sản phẩm của Kinh Đô năm 2011 (Theo báo cáo tài chính 2010)* Kem và các sản phẩm từ sữa: tăng thị phần và đáp ứng nhu cầu tố đa của thị trường.* Bánh trung thu: Vững vàng vị trí dẫn đầu* Bánh cracker: Gia tăng khoảng cách, dẫn đầu thị phần* Bánh Cookies: Nâng cao chất lượng sản phẩm* Bánh bông lan: đầu tư phân khúc bánh cao cấp* Bánh mì: tập trung phát triển ngành hàng bánh cao cấp và phát triển theo chiều sâu.* Snack: đầu tư tăng doanh số* Kẹo và chocolate: Tái cấu trúc sản phẩm2. Mô tả tuyến sản phẩmKem và các sản phẩm từ sữaBánh trung thuBánh crackerBánh CookiesBánh bông lanBánh mìSnack Kẹo và chocolateKem CelanoBánh truyền thốngBánh mặt AFCBánh cao cấp Good ChoiceSolite Scotti Slide MilkcandySữa chua WelYoBánh chay cao Bánh CosyBánh cao cấp Sophie Aloha Sachi Curundy5

Bạn đang đọc nội dung bài viết Đòn Bẩy Của Sản Xuất Nông Nghiệp / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!