Đề Xuất 11/2022 # Định Nghĩa Về Điều Ước Quốc Tế Theo Luật Pháp Quốc Tế (Bao Gồm Án Lệ) Và Pháp Luật Việt Nam / 2023 # Top 13 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 11/2022 # Định Nghĩa Về Điều Ước Quốc Tế Theo Luật Pháp Quốc Tế (Bao Gồm Án Lệ) Và Pháp Luật Việt Nam / 2023 # Top 13 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Định Nghĩa Về Điều Ước Quốc Tế Theo Luật Pháp Quốc Tế (Bao Gồm Án Lệ) Và Pháp Luật Việt Nam / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Định nghĩa theo Công ước Viên năm 1969 và 1986 – Định nghĩa theo án lệ quốc tế – Định nghĩa theo pháp luật Việt Nam – Kết luận

Điều ước quốc tế là một trong các nguồn chính của luật pháp quốc tế và là nguồn quan trọng nhất xét về số lượng các quy phạm chứa đựng. Mặc dù chưa có thống kế chính xác nhưng có thể nói hiện đang tồn tại một số lượng khổng lồ các điều ước quốc tế trong luật pháp quốc tế. Riêng Việt Nam, chỉ trong giai đoạn 10 năm thực hiện Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2006 đã ký kết khoảng 2000 điều ước. [1] Định nghĩa về điều ước quốc tế đã được ghi nhận trong hai Công ước Viên năm 1969 và 1986. Từ góc độ nội luật pháp luật Việt Nam cũng có định nghĩa khá tương tự với định nghĩa của hai công ước trên. Tuy nhiên, trong các án lệ quốc tế các cơ quan tài phán không sử dụng định nghĩa của hai Công ước mà dùng tiêu chí khác. Bài viết này nhằm làm rõ sự khác nhau trong định nghĩa điều ước quốc tế từ ba góc độ – hai Công ước Viên, án lệ quốc tế và pháp luật Việt Nam – qua đó làm sáng tỏ hơn bản chất pháp lý chung của điều ước quốc tế.

Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969 và 1986

Cho đến hiện nay có hai Công ước điều chỉnh quan hệ điều ước quốc tế trong luật pháp quốc tế, cụ thể Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969 và Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế giữa quốc gia và tổ chức quốc tế và giữa các tổ chức quốc tế năm 1986 (gọi tắt là Công ước Viên 1969 và 1986). Công ước Viên năm 1969 đã có hiệu lực và chỉ giới hạn điều chỉnh quan hệ điều ước quốc tế giữa các quốc gia với nhau. Công ước Viên năm 1986 điều chỉnh quan hệ điều ước giữa một bên là tổ chức quốc tế và bên còn lại là quốc gia hoặc tổ chức quốc tế. Công ước Viên năm 1986 chưa có hiệu lực.

Về chủ thể ký kết. Cả hai Công ước đều công nhận quốc gia có quyền năng ký kết điều ước quốc tế. Công ước Viên năm 1986 mở rộng thêm quyền năng này cho cả các tổ chức quốc tế liên chính phủ. Tuy nhiên, khác với quyền năng mang tính chất vốn có của các quốc gia dựa trên cơ sở chủ quyền, các tổ chức quốc tế có quyền năng trong giới hạn các quy định của từng tổ chức quốc tế. [2] Theo đó quyền năng ký kết điều ước quốc tế của từng tổ chức quốc tế sẽ khác nhau, theo nghĩa, có thể có tổ chức quốc tế có quyền năng ký nhiều loại điều ước quốc tế nhưng cũng có tổ chức quốc tế không có hoặc có rất ít quyền năng.

Về luật điều chỉnh. Hai Công ước đều ghi nhận luật điều chỉnh duy nhất của điều ước quốc tế là luật quốc tế. Điều ước quốc tế là một nguồn của luật pháp quốc tế, chứa đựng quyền và nghĩa vụ của các quốc gia do đó chỉ có thể được điều chỉnh bởi luật pháp quốc Nếu thoả thuận giữa các quốc gia hay tổ chức quốc tế mà ghi nhận luật điều chỉnh là một hệ thống pháp luật khác, ví dụ như pháp luật của một quốc gia nào đó, thì thoả thuận này không phải là điều ước quốc tế. Các thoả thuận giữa các quốc gia hay tổ chức quốc tế thường được mặc nhiên xem như chịu điều chỉnh của luật pháp quốc tế, trừ khi có quy định hay thoả thuận khác.

Trong quá trình soạn thoả dự thảo của Công ước Viên năm 1969 và 1986, có quan điểm trong cơ quan soạn thảo – Uỷ ban Luật pháp Quốc tế (ILC) của Liên hợp quốc – là nên ghi nhận yếu tố “ý định tạo ra nghĩa vụ theo luật pháp quốc tế” vào định nghĩa điều ước. Cuối cùng ILC đã không ghi nhận vào câu chữ của dự thảo nhưng ghi chú rằng yếu tố ý định này được lồng trong nội hàm của cụm từ “chịu sự điều chỉnh của luật quốc tế”. [4]

Như đã đề cập ở trên, yếu tố ý định của các bên được ngầm trong cụm từ “chịu điều chỉnh của luật quốc tế” trong định nghĩa điều ước quốc tế của Công ước Viên năm 1969. Do đó thực chất các cơ quan tài phán không áp dụng tiêu chí nào bên ngoài định nghĩa của Công ước cả, mà chỉ làm nổi bật và trao cho yếu tố “ý định của các bên” vị thế của một tiêu chí quan trọng nhất. Có thể thấy việc làm nổi bật yếu tố ý định của các bên, cơ quan tài phán quốc tế đã đi thẳng vào bản chất pháp lý của điều ước quốc tế là một cam kết pháp lý thể hiện ý chí chung của các bên. Do đó cách tiếp cận này phù hợp hoàn toàn với bản chất của luật pháp quốc tế là được xây dựng dựa trên sự đồng ý của các chủ thể của luật pháp quốc tế – sự đồng ý tạo ra quyền và nghĩa vụ hay các quy định của luật pháp quốc tế, bất kể rõ ràng như thông qua điều ước quốc tế, hay ngầm định thông qua tập quán quốc tế hay các nguồn khác.

Nếu một văn kiện thoả mãn rằng có bằng chứng cho thấy các bên có ý định rõ ràng tạo ra quyền và nghĩa vụ pháp lý thông qua văn kiện đó, thì các yếu tố khác sẽ không có sức nặng quan trọng. Ví dụ như trong vụ Phân định biển và tranh chấp lãnh thổ giữa Qatar và Bharain hay vụ Biên giới đất liền và trên biển giữa Cameroon và Nigeria, Toà án Công lý Quốc tế (ICJ) đã bác bỏ có lập luận rằng các văn kiện không có giá trị pháp lý bởi vì chúng chỉ được ký mà chưa được phê chuẩn theo quy định của luật pháp quốc gia.

Cho đến hiện nay định nghĩa điều ước quốc tế được ghi nhận trong 04 văn bản quy phạm pháp lý, cụ thể là Pháp lệnh về Ký kết và thực hiện điều ước quốc tế năm 1989, Pháp lệnh về Ký kết và thực hiện điều ước quốc tế năm 1998, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2006 và sau đó được thay thế bằng Luật điều ước quốc tế năm 2016. Định nghĩa đã có sự phát triển qua thời gian với bằng chứng là sự thay đổi qua bốn lần sửa đổi luật, đặc biệt là giữa luật năm 2006 và luật năm 2016, thể hiện nhận thức chính xác hơn về điều ước quốc tế nói riêng và luật pháp quốc tế nói chung.

Pháp lệnh năm 1989 quy định ở Điều 1(1) rằng “Điều ước quốc tế của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm hiệp ước, công ước, định ước, hiệp định, nghị định thư, thoả thuận, công hàm trao đổi và các văn kiện pháp lý quốc tế khác ký kết giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với một hay nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của pháp luật quốc tế”. Đến Pháp lệnh năm 1998 quy định chi tiết hơn ở Điều 2(1) rằng “… điều ước quốc tế, là thoả thuận bằng văn bản được ký kết giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi như hiệp ước, công ước, định ước, hiệp định, nghị định thư, công hàm trao đổi và danh nghĩa ký kết quy định tại khoản 2 Điều 1 của Pháp lệnh này.”

Điều 2(1) của Luật năm 2006 quy định “Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết hoặc gia nhập nhân danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác.” Về cơ bản, cả ba văn bản quy phạm pháp luật trên đểu chỉ dựa vào yếu tố chủ thể ký kết làm căn cứ xác định điều ước quốc tế. Định nghĩa điều ước quốc tế đều có nội dung giống nhau chỉ thay đổi câu chữ.

Luật năm 2016 quy định “Điều ước quốc tế là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với bên ký kết nước ngoài, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác” (Điều 2(1)).

Về cơ bản định nghĩa trong luật năm 2016 giữa nguyên nhiều câu chữ trong các luật cũ. Về chủ thể ký kết, cả hai luật đều ghi nhận rộng hơn hai Công ước Viên, bao gồm cả quốc gia, tổ chức quốc tế liên chính phủ và các chủ thể khác của pháp luật quốc tế.[7] Không có quy định giải thích rõ nội hàm của “các chủ thể khác của pháp luật quốc tế” theo luật năm 2006 hay “các chủ thể khác được công nhận là chủ thể của luật pháp quốc tế” theo luật năm 2016. Trong một bản dự thảo của luật năm 2016, Ban soạn thảo đã ghi nhận “các phong trào giải phóng dân tộc” là một trong các chủ thể ký kết nhưng sau đó đã loại bỏ.

Về luật điều chỉnh, luật năm 2006 không nhắc đến và đây là điểm khác quan trọng so với định nghĩa trong hai Công ước Viên. Luật năm 2016 đã bổ sung thiếu soát này, nhưng thay vì sử dụng cụm từ khá trừu tượng “chịu sự điều chỉnh của luật quốc tế”, luật sử dụng cụm từ “làm phát sinh, thay dổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ … theo pháp luật quốc tế.” Với sự bổ sung này, luật năm 2016 đã hoàn thiện định nghĩa điều ước trong pháp luật Việt Nam, ghi nhận đầy đủ các yếu tố quan trọng như trong hai Công ước Viên.

Về hình thức, cả hai luật đều quy định hình thức của điều ước quốc tế là bằng văn bản, không nhắc đến điều ước quốc tế bằng hình thức phi-văn bản. Do đó, có thể suy luận rằng các cam kết giữa Việt Nam và các nước bằng hình thức phi-văn bản sẽ không là điều ước quốc tế và không chịu điều chỉnh bởi luật này. Ví dụ như các cam kết có thể có giữa Việt Nam và các nước bằng lời nói trong các cuộc gặp giữa lãnh đạo nhà nước. Trên thực tế vấn đề này sẽ không gây khó khăn trên thực tế bởi lẻ các cam kết bằng lời nói sau đó thường được xác nhận lại bằng các ghi nhận bằng văn bản sau đó.

Có thể thấy với luật năm 2016 Việt Nam đã có một định nghĩa điều ước quốc tế cơ bản hoàn chỉnh. Mặc dù vậy, do không đi thẳng vào bản chất của điều ước quốc tế như cách tiếp cận của các cơ quan tài phán quốc tế do đó vẫn còn cần nghiên cứu để có bổ sung phù hợp trong tương lai, khi nhận thức về luật pháp quốc tế được nâng cao hơn.

Điều ước quốc tế là một trong các nguồn chính của luật pháp quốc tế và là nguồn phổ biến, quan trọng nhất. Mặc dù vậy cho đến nay chưa có bất kỳ định nghĩa thống nhất chung nào trong luật pháp quốc tế về điều ước quốc tế. Điều ước quốc tế được định nghĩa trong hai Công ước Viên năm 1969 và 1986, và lại được định nghĩa theo cách thức khác trong các án lệ quốc tế. Có thể đây chỉ là các cách tiếp cận, cách diễn đạt khác nhau của cùng một thứ, nhưng việc thiếu một định nghĩa được chấp nhận chung là một điều đáng tiếc. Pháp luật Việt Nam cũng đã có sự phát triển và ghi nhận định nghĩa điều ước quốc tế đầy đủ hơn, bám sát vào định nghĩa trong hai Công ước Viên. Tuy nhiên định nghĩa này lại không bao hàm được cách tiếp cận trong các án lệ quốc tế.

Giới thiệu chung về Công ước Viên năm 1969

Quyền năng và thẩm quyền ký kết điều ước quốc tế

Các bước ký kết điều ước quốc tế

Hiệu lực của điều ước quốc tế

Áp dụng các điều ước quốc tế cùng điều chỉnh một vấn đề (xung đột điều ước)

Hiệu lực pháp lí và việc áp dụng điều ước ở Việt Nam

Thực tiễn áp dụng trực tiếp điều ước quốc tế tại Việt Nam

Sửa đổi và bổ sung điều ước

Vô hiệu điều ước

Huỷ bỏ, đình chỉ thi hành điều ước

Các bài về Giải thích điều ước quốc tế: Công ước Viên 1969: Giải thích điều ước quốc tế; Các cách tiếp cận về giải thích điều ước quốc tế ngoài Công ước Viên 1969; và Thẩm quyền giải thích điều ước quốc tế.

Definition of treaties in international law and Vietnamese law. The definitions in VCLT 1969 and 1986 will be discussed on subjects having capacity to conclude treaties, governing law and formality. Then they will compare with the test actually applied by international courts and tribunals – the test of intention of states to create rights and obligations. The definition in Vietnam Law on treaties, one in 2006 and another in 2016, will be looked at.

[2] Công ước Viên năm 1986, Điều 6.

[5] Vụ Thềm lục địa Biển Aegean (Hi Lạp v. Thổ NHĩ Kỳ) [1978] (Phán quyết) ICJ [96]; Vụ Phân định biển và tranh chấp lãnh thổ giữa Qatar và Bharain (Qatar v. Bharain) [1994] (Phán quyết về thẩm quyền và điều kiện thụ lý) ICJ [23]-[29]; Vụ Biên giới đất liền và trên biển (Cameroon v. Nigeria) [2002] (Phán quyết) ICJ [258], [262]-[263]; Vụ kiện Biển Đông (Philippines v. Trung Quốc) [2015] (Phán quyết về thẩm quyền và điều kiện thụ lý) Toà trọng tài [212] – [219].

[6] Vụ kiện Biển Đông (Philippines v. Trung Quốc), như trên, [213].

[7] Hai Công ước Viên cũng đã ngầm thừa nhận sự tồn tại của điều ước quốc tế giữa “các chủ thể khác của luật quốc tế”, xem Điều 3 chung của hai Công ước.

Hiệu Lực Pháp Lí Và Việc Áp Dụng Điều Ước Quốc Tế Ở Việt Nam / 2023

Các học thuyết về mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia – Quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam – Một số đề xuất sửa đổi, bổ sung pháp luật Việt Nam về vấn đề này

Các quy định mới trong Hiến pháp năm 2013 và nhu cầu thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế đã đặt ra yêu cầu phải sửa đổi Luật ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT năm 2005. Một trong những vấn đề quan trọng của lần sửa đổi này là cần xác định mối quan hệ giữa điều ước quốc tế (ĐƯQT) và pháp luật Việt Nam. Hiệu lực pháp lý và vị trí của ĐƯQT trong quan hệ với hệ thống pháp luật Việt Nam cần được xác định rõ ràng hơn để việc thực hiện ĐƯQT của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có hiệu quả trên thực tế. Pháp luật hiện hành đã có quy định về vấn đề này, nhưng vẫn còn một số điểm cần làm rõ, bổ sung và sửa đổi.

Các học thuyết về mối quan hệ giữa ĐƯQT và pháp luật quốc gia

ĐƯQT là một trong các nguồn chính của luật pháp quốc tế bên cạnh tập quán quốc tế và các nguyên tắc pháp luật chung. [1] ĐƯQT là thỏa thuận bằng văn bản giữa các chủ thể của luật pháp quốc tế (mà chủ yếu là các quốc gia) được luật pháp quốc tế điều chỉnh bất kể tên gọi, hình thức của văn bản đó. [2] Mối quan hệ giữa ĐƯQT và pháp luật quốc gia thường được xem xét theo hai học thuyết về mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế nói chung và pháp luật quốc gia: thuyết nhất nguyên luận và thuyết nhị nguyên luận.

1.1. Thuyết nhất nguyên luận

Một số quốc gia áp dụng thuyết nhất nguyên luận có thể kể đến như Nga, Thuỵ Sỹ, Mỹ và Mexico. Hiến pháp Mỹ quy định các điều ước quốc tế mà Mỹ là thành viên là luật liên bang tối cao, bên cạnh các đạo luật khác của nước này. [4] Mexico đối xử với các điều ước quốc tế được Thượng viện thông qua như luật liên bang. [5] Thụy Sỹ cho phép các điều ước quốc tế có hiệu lực pháp lý trong nước ngay khi điều ước quốc tế có hiệu lực. [6] Tương tự, Nga quy định rằng tất cả các điều ước quốc tế mà Nga là thành viên là một bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật nước này. [7]

1.2. Thuyết nhị nguyên luận

Ở các nước áp dụng thuyết nhị nguyên luận, các cơ quan, tổ chức, cá nhân chỉ phải tuân thủ quy định của pháp luật quốc gia được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hay công nhận, kể cả khi quy định đó trái với các ĐƯQT mà nước này là thành viên. Hệ quả là một quốc gia có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý do vi phạm ĐƯQT trong khi các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi lại không chịu bất kỳ trách nhiệm pháp lý nào do hành vi đó vẫn phù hợp với quy định của pháp luật quốc gia. Một thủ tục rất quan trọng để có thể bảo đảm các ĐƯQT được thực thi là thủ tục nội luật hóa, được đa số các quốc gia áp dụng thuyết nhị nguyên luận thực hiện. Thủ tục nội luật hóa sẽ chuyển hóa các quy định của ĐƯQT vào pháp luật quốc gia, với cách thức phổ biến nhất là bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hay ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) để thực hiện ĐƯQT. [13] Hay nói cách khác là việc đưa chính xác nội dung các quy phạm điều ước quốc tế vào nội dung của quy phạm pháp luật trong nước thông qua việc xây dựng, ban hành (sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành mới) VBQPPL trong nước. [14]

Anh, Canada, Ấn Độ và Israel là một số nước áp dụng thuyết nhị nguyên luận. Đối với những nước này, ĐƯQT không tự động có hiệu lực pháp lý trong hệ thống pháp luật quốc gia mà cần được nội luật hoá thông qua việc bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hay ban hành các văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đặc biệt là cơ quan lập pháp. [15]

Điều 6 của Luật ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT năm 2005 là quy định chính yếu xác định mối quan hệ giữa ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên và pháp luật Việt Nam. Điều này quy định như sau:

“1. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế.

2. Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định về cùng một vấn đề.

3. Căn cứ vào yêu cầu, nội dung, tính chất của điều ước quốc tế, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đồng thời quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế đó đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, chi tiết để thực hiện; quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế đó.”

Như vậy, về hiệu lực pháp lý, Điều 6 trên không có quy định công nhận trực tiếp và rõ ràng hiệu lực pháp lý của ĐƯQT trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Có thể có hai quan điểm giải thích Điều 6 này.

Tuy nhiên, Điều 6 này có một ngoại lệ được quy định tại Khoản 2, Điều 3 quy định việc ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT phải phù hợp với các quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Như vậy, về hiệu lực pháp lý và vị trí, ĐƯQT có hiệu lực thấp hơn Hiến pháp nhưng cao hơn các VBQPPL khác. Điều 156 của Luật ban hành VBQPPL năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2016) đã hợp nhất quy định ở Điều 6 và Điều 3 nêu trên. [23]

Quan điểm thứ hai có thể cho rằng quy định ưu tiên áp dụng và cho phép áp dụng trực tiếp không đồng nghĩa với hiệu lực pháp lý của ĐƯQT cao hơn quy định của pháp luật Việt Nam. Về mặt câu chữ, Điều 6 không có bất kỳ nội dung nào ghi nhận hiệu lực pháp lý cao hơn. Do đó chỉ có thể kết luật rằng ĐƯQT được “ưu tiên áp dụng”, không thể suy diễn xa hơn đến mức cho rằng ĐƯQT có hiệu lực pháp lý cao hơn pháp luật trong nước như quan điểm nêu trên. Hơn nữa, việc ưu tiên áp dụng này chỉ giới hạn trong một số trường hợp hẹp – khi có sự khác nhau giữa quy định của ĐƯQT và pháp luật Việt Nam.

Về việc áp dụng ĐƯQT, Điều 6 quy định ĐƯQT có thể được áp dụng theo hai cách thức, gián tiếp và trực tiếp. Theo đó, cách thức áp dụng phổ biến nhất là nội luật hoá quy định của ĐƯQT vào hệ thống pháp luật Việt Nam, thông qua việc bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hay ban hành mới VBQPPL thực hiện ĐƯQT. Việc áp dụng trực tiếp ĐƯQT chỉ giới hạn trong hai trường hợp. Trường hợp đầu tiên là khi có sự khác nhau của quy định ĐƯQT và VBQPPL về cùng một vấn đề thì sẽ áp dụng ĐƯQT (Khoản 1, Điều 6). Nói cách khác trong trường hợp không có sự khác nhau thì ĐƯQT không được áp dụng trực tiếp. Trường hợp thứ hai, được quy định ở Khoản 3, là khi có quyết định cho phép áp dụng trực tiếp ĐƯQT của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Để ĐƯQT có thể được áp dụng trực tiếp trong trường hợp này, ba điều kiện sau phải được thoả mãn: (1) thời điểm ra quyết định áp dụng trực tiếp là khi thể hiện sự đồng ý chịu ràng buộc, (2) quy định của ĐƯQT phải đủ rõ và chi tiết để thực hiện, (3) có quyết định cho áp dụng trực tiếp của Quốc hội, Chủ tịch nước hay Chính phủ.

Điểm khác biệt lớn nhất của hai trường hợp kể trên là yêu cầu phải có quyết định cho phép áp dụng trực tiếp ở Khoản 3, trong khi ở Khoản 1 không cần thiết phải có quyết định như thế, ĐƯQT được tự động áp dụng trực tiếp khi có xung đột với pháp luật quốc gia. Nói cách khác, trường hợp thứ hai còn cần một thủ tục là quyết định cho phép áp dụng trực tiếp. Quy định này tương tự như trong nội luật của Pháp, Nhật Bản, Chilê, Thái Lan và Nam Phi. [24] Pháp quy định điều ước quốc tế chỉ có thể áp dụng trực tiếp như luật quốc gia nếu được công bố bằng một Sắc lệnh Tổng thống (vừa là nguyên thủ quốc gia vừa là người đứng đầu nhánh hành pháp). [25] Thái Lan và Nam Phi quy định một thủ tục phụ tương tự như thế nhưng do cơ quan lập pháp tiến hành. [26]

ĐƯQT có phải là một nguồn của pháp luật Việt Nam?

Cũng có thể có ý kiến khác cho rằng ĐƯQT không phải là một nguồn của pháp luật Việt Nam bởi lẽ hiệu lực pháp lý cũng như việc áp dụng trực tiếp ĐƯQT được xác lập trên cơ sở Điều 6 Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT 2005 và các quy định tương tự trong các luật chuyên ngành. Theo đó, ĐƯQT sẽ không thể nào có vị trí như thế nếu các luật này không trao cho nó. Như vậy hiệu lực pháp lý và vị trí của ĐƯQT cũng tương tự như tập quán. Hiện nay các quy định tập quán chỉ có thể có hiệu lực và được áp dụng khi có quy định cho phép trong các VBQPPL [28] hay nói cách khác việc công nhận và áp dụng tập quán pháp ở Việt Nam chỉ thông qua con đường ban hành VBQPPL. [29] Nói tóm lại, xét ở một góc độ nhất định, hiệu lực và vị trí của ĐƯQT và tập quán pháp trong hệ thống pháp luật Việt Nam có điểm tương tự nhau và do đó nên được đối xử giống nhau. Hy vọng lần sửa đổi này các nhà làm luật và ban soạn thảo có thể có câu trả lời rõ ràng hơn, giống như đã làm với án lệ. [30]

Với phân tích ở trên, có thể thấy Việt Nam đang kết hợp áp dụng cả thuyết nhất nguyên luận và nhị nguyên luận. Việt Nam xác định hiệu lực pháp lý của ĐƯQT và mở ra khả năng áp dụng trực tiếp (theo thuyết nhất nguyên luận) trong khi trên thực tế tuyệt đại đa số ĐƯQT chỉ được áp dụng gián tiếp thông qua quá trình nội luật hoá bằng việc bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hay ban hành VBQPPL (theo thuyết nhị nguyên luận). Xét về góc độ lý thuyết và thực tiễn, cách kết hợp như vậy thuận tiện và hợp lý hơn vì một số lý do sau.

Nhìn chung, các quy định hiện nay về mối quan hệ giữa ĐƯQT và pháp luật Việt Nam của Luật ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT năm 2005 về cơ bản đã hợp lý và đầy đủ. Nhưng vẫn còn có một số điểm cần thiết phải xem xét sửa đổi, bổ sung để tăng cường tính hiệu lực, hiệu quả của việc áp dụng ĐƯQT ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.

Về hiệu lực pháp lý của ĐƯQT, Luật mới cần phải xác định rõ hơn nguyên tắc ĐƯQT có hiệu lực pháp lý cao hơn các quy định của pháp luật Việt Nam, trừ Hiến pháp. Kiến nghị này phù hợp với chủ trương hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước, không có cách nào thể hiện rõ ràng và mạnh mẽ hơn chủ trương này hơn việc công nhận hiệu lực pháp lý cao hơn của ĐƯQT. Đây cũng là một biện pháp đề nâng cao nhận thức của tất cả mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân về các cam kết quốc tế của Việt Nam, hình thành một quan điểm hội nhập trong tư duy.

Bên cạnh việc xác định rõ ưu thế pháp lý của ĐƯQT thì cần giới hạn việc áp dụng ĐƯQT vào hai trường hợp cụ thể nhằm tránh việc lạm dụng ĐƯQT hay viện dẫn, áp dụng, giải thích sai như phân tích ở trên. Hơn nữa ngôn từ sử dụng cần nhấn mạnh tính bắt buộc các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải áp dụng ĐƯQT trong các trường hợp được trù định. Quy định như thế phù hợp với Công ước Viên về Luật ĐƯQT năm 1969, cũng như thể hiện cam kết của Việt Nam và tạo ra sự tin cậy của các đối tác nước ngoài khi ký kết ĐƯQT với nước ta.

Kiến nghị này có thể không khả thi và khó chấp nhận do quan điểm pháp lý truyền thống của Việt Nam. Tuy nhiên, nếu các nhà làm luật và ban soạn thảo có thể chấp nhận thì sẽ có biết tiến mới mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam trong tiến trình tích cực và chủ động hội nhập quốc tế.

Về việc áp dụng trực tiếp ĐƯQT, tác giả đồng ý với quy định về chủ thể quyết định và loại ĐƯQT được áp dụng trực tiếp. Dự thảo cũng đã bổ sung một cách hợp lý. Tuy nhiên, để hoàn thiện hơn luật mới cần quy định thêm hai điểm:

” Căn cứ vào yêu cầu thực tế, theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, chi tiết để thực hiện; quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế.”./.

Trần Hữu Duy Minh

Tạp chí Luật học, số 3(189) (03/2016), tr. 38 – 46.

The relationship between treaties to which Vietnam is a party and Vietnamese laws has been provided in the Law on Concluding, Accessing and Implementing Treaties (2005). However, the issues of the legal effect of treaties within Vietnamese legal system and the application of treaties (both directly and indirectly) in Vietnam remain controversial, therefore requiring to be amended. This article will examine relevant legal theories in international law, state practice and current rules of related Vietnamese laws. It will then propose some amendments in order to clarify such relationship as well as to enhance the effectiveness of the application of treaties in Vietnam.

Giới thiệu chung về Công ước Viên năm 1969

Định nghĩa “điều ước quốc tế”

Quyền năng và thẩm quyền ký kết điều ước quốc tế

Các bước ký kết điều ước quốc tế

Hiệu lực của điều ước quốc tế

Áp dụng các điều ước điều chỉnh về cùng một vấn đề (xung đột điều ước)

Thực tiễn áp dụng trực tiếp điều ước quốc tế tại Việt Nam

Sửa đổi, bổ sung điều ước

Vô hiệu điều ước quốc tế

Huỷ bỏ, đình chỉ thi hành điều ước

Giải thích điều ước quốc tế

[1] Điều 38(1) Quy chế Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ).

[2] Điều 2(1)(a) Công ước Viên về Luật ĐƯQT năm 1969 (Việt Nam phê chuẩn năm 2001), Điều 2(1)(a) Công ước Viên về Luật ĐƯQT giữa quốc gia và tổ chức quốc tế và giữa các tổ chức quốc tế với nhau năm 1986.

[3] Malcolm N. Shaw, International Law, 6th ed., Cambridge University Press, Cambridge, 2008, tr. 131-132.

[4] Hiến pháp Mỹ năm 1787, Điều VI.

[5] Hiến pháp Mexico năm 1917, Điều 133.

[6] Duncan B. Hollis, Merrit R. Balkeslee & L. Benjamin Ederington, National Treaty Law and Practice, Martinus Nijhoff Publishers, Leiden/Boston, 2005, tr. 658.

[7] Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993, Điều 15.

[10] Ngô Đức Mạnh, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển hoá điều ước quốc tế vào pháp luật quốc gia, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4(180)/2003, tr. 62.

[11] Malcolm N. Shaw, sđd, tr. 131.

[12] Malcolm Evans, International Law, 1st ed., Cambridge University Press, Cambridge, 2003, tr. 419.

[13] Ngô Đức Mạnh, chú thích số 10.

[14] Báo cáo phúc trình đề tài “Nội luật hoá các điều ước quốc tế Việt Nam ký kết và tham gia phục vụ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”, trích trong Nguyễn Thị Thuận, Nguyên tắc nội luật hoá các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4 (2014), tr. 78.

[15] Duncan B. Hollis, Merrit R. Balkeslee & L. Benjamin Ederington, sđd, tr. 100 (Canada), tr. 355 – 360 (Ấn Độ), tr. 396 – 398 (Israel) và tr. 742 – 743 (Anh).

[16] Điều 82 Luật ban hành VBQPPL năm 2008 [gọi tắt là Luật BHVBQPPL 2008] cũng quy định các VBQPPL của cơ quan nhà nước trung ương có hiệu lực trên phạm vi cả nước và đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trừ trường hợp ĐƯQT có quy định khác. Quy định tương tự ở Điều 155, Luật ban hành VBQPPL năm 2015 (gọi tắt là Luật BHVBQPPL 2015).

[17] Ví dụ như Điều 2 Bộ luật hàng hải 2005, Điều 5 Luật thương mại 2005, Điều 4 Luật đầu tư 2014, Điều 2 Bộ luật dân sự 2005 (áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài). [18] Quy định tương tự ở Khoản 5, Điều 3 Luật BHVBQPPL năm 2008; Khoản 5, Điều 5, khoản 5, Điều 155 Lutậ BHVBQPPL 2015. [19] Khoản 3, Điều 33; điểm b, khoản 3, Điều 61; điểm b, khoản 1, Điều 34 Luật BHVBQPPL 2015. [20] Khoản 3, Điều 35; khoản 2, Điều 36 Luật BHVBQPPL 2015. [21] Điểm c, Khoản 3, Điều 36.

[22] Công ước Viên về Luật ĐƯQT năm 1969, Điều 26.

[23] Khoản 5, Điều 156 quy định “trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thi áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp.”

[24] Duncan B. Hollis, Merrit R. Balkeslee & L. Benjamin Ederington, sđd, tr. 42-46. [25] Như trên. [26] Như trên.

[27] Hoàng Ngọc Giao, Bàn về việc thực hiện điều ước quốc tế, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3/2005, tr. 70 – 71.

[28] Ví dụ như các Điều 3, 28, 126, 215, 220, 242, 265, 409, 479, 485, 489, 625 Bộ luật dân sự 2005.

[29] Nguyễn Như Quỳnh, Nguyễn Quốc Việt và Nguyễn Hoàng Phương, Báo cao nghiên cứu ‘Tập quán pháp – Thực trạng ở Việt Nam và một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng tập quán pháp ở Việt Nam, Dự án Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại Việt Nam (Chính phủ Việt Nam – UNDP), 2013, tr. 16, truy cập ngày 12/8/2015 tại moj.gov.vn.

[30] Các tòa án Việt Nam được cho phép áp dụng án lệ nhưng án lệ được xác định rõ ràng không phải là nguồn của pháp luật Việt Nam , xem Điều 1, Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP về Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ (ngày 28/10/2015) và Ủy ban thường vụ Quốc hội, Báo cáo Giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi), ngày 16/10/2014, tr. 4, truy cập tại duthaoonline.quochoi.vn.

[31] Đoàn Năng, Vấn đề quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia trong pháp luật và thực tiễn của Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2 (1998), tr. 34.

[32] Khoản 3, Điều 7, Dự thảo Luật ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT (sửa đổi), truy cập tại duthaoonline.quochoi.vn.

[33] Duncan B. Hollis, Merrit R. Balkeslee & L. Benjamin Ederington, sđd, tr. 44.

[34] Chính phủ, Bản thuyết minh về Dự thảo Luật ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT (sửa đổi), ngày 26/10/2015, tr. 2, truy cập tại duthaoonline.quochoi.vn.

[35] Thuật ngữ “ký kết” ở đây được hiểu là thể hiện sự đồng ý chịu ràng buộc của ĐƯQT như ký, phê chuẩn, phê duyệt, trao đổi văn bản cấu thành ĐƯQT.

Viện Kinh Tế Và Pháp Luật Quốc Tế / 2023

Cập nhật tình hình phát triển đô thị thông minh và chia sẻ kinh nghiệm ứng phó COVID-19

Hội nghị thường niên Mạng lưới đô thị thông minh (ASCN) ASEAN lần thứ 4 sẽ cập nhật tình hình phát triển đô thị thông minh và chia sẻ kinh nghiệm ứng phó với đại dịch COVID-19 tại các đô thị thành viên; trao đổi với các đối tác ngoài Mạng lưới về khả năng đóng góp các sáng kiến trong cơ hội hợp tác chung để thúc đẩy hiện thực hóa đô thị thông minh.

‘Góp triệu ngôi sao’ tiếp sức các hộ kinh doanh nhỏ ở TPHCM chịu ảnh hưởng dịch bệnh

Mỗi hộ kinh doanh nhỏ trên địa bàn TPHCM đang chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch COVID-19 sẽ nhận được khoảng 5 triệu đồng tiền mặt khi hình ảnh ngôi sao quen thuộc trên lá cờ Việt Nam được lan toả trên mạng xã hội.

Khẩn trương xác minh thông tin mì Hảo Hảo, miến Good chứa chất cấm

Kết quả thi hành án dân sự đạt hơn 38,6 nghìn tỷ đồng

Công tác thu hồi tài sản trong các vụ án về tham nhũng, kinh tế được thống nhất, đồng bộ, hiệu quả; chú trọng việc thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng và phối hợp chặt chẽ với các tổ chức tín dụng rà soát, đánh giá các khó khăn, vướng mắc để có giải pháp giải quyết hiệu quả trong thi hành án dân sự (THADS).

Ngành tài chính: Khai thông, sử dụng hiệu quả các nguồn lực phục vụ phát triển KT-XH đất nước*

Nhân dịp kỷ niệm 76 năm ngày truyền thống ngành tài chính (28/8/1945 – 28/8/2021), Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc đã có bài viết về chặng đường phát triển cũng như những định hướng phát triển để ngành vượt qua khó khăn, thách thức, đóng góp cho sự phát triển của đất nước trong bối cảnh mới.

Khởi tố 12 bị can trong vụ án khai thác, mua bán than trái phép

Tiếp Nhận Pháp Luật Quốc Tế Vào Pháp Luật Hàng Không Dân Dụng Việt Nam / 2023

Tiếp nhận pháp luật quốc tế vào pháp luật hàng không dân dụng Việt Nam

ThS. ĐỖ HOÀNG ANH

Học viện Hàng không Việt Nam

1. Thực tiễn tiếp nhận pháp luật nước ngoài vào lĩnh vực pháp luật hàng không dân dụng Việt Nam

Quá trình tiếp nhận pháp luật nước ngoài được thể hiện qua các giai đoạn phát triển của Luật HKDD Việt Nam cụ thể như sau:

Luật HKDD Việt Nam năm 1991: Trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã chọn lọc và chuyển tải một phần nội dung Công ước Chicago năm 1944 về HKDD quốc tế, Công ước Geneva năm 1948 về công nhận quốc tế các quyền đối với tàu bay vào Luật HKDD Việt Nam năm 1991. Đồng thời, Việt Nam tiếp nhận quan điểm về sở hữu tư nhân đối với tàu bay trong Luật Hàng không Pháp và tiếp nhận tư duy xây dựng thị trường hàng không cạnh tranh bình đẳng thông qua việc thừa nhận sự tham gia thành phần kinh tế tư nhân trong lĩnh vực hàng không

Trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã chọn lọc và chuyển tải một phần nội dung Công ước Chicago năm 1944 về HKDD quốc tế, Công ước Geneva năm 1948 về công nhận quốc tế các quyền đối với tàu bay vào Luật HKDD Việt Nam năm 1991. Đồng thời, Việt Nam tiếp nhận quan điểm về sở hữu tư nhân đối với tàu bay trong Luật Hàng không Pháp và tiếp nhận tư duy xây dựng thị trường hàng không cạnh tranh bình đẳng thông qua việc thừa nhận sự tham gia thành phần kinh tế tư nhân trong lĩnh vực hàng không [4]

– Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật HKDD Việt Nam năm 1991 được ban hành năm 1995. Trên cơ sở yêu cầu và khuyến cáo của Tổ chức HKDD quốc tế (ICAO), Việt Nam đã nghiên cứu Công ước Chicago năm 1944, Công ước Geneva năm 1948 và Công ước Warsaw năm 1929. Qua đó, Việt Nam tiếp nhận và bổ sung các nội dung về quản lý nhà nước, quản lý kinh doanh HKDD, cơ quan quản lý, đăng ký và điều kiện đăng ký kinh doanh vận chuyển hàng không, điều tra tai nạn, đồng tiền quy đổi chuẩn để xác định giới hạn trách nhiệm nhà vận chuyển vào Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật HKDD Việt Nam năm 1991 được ban hành năm 1995.

– Luật HKDD Việt Nam năm 2006. Trước yêu cầu về đảm bảo tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt về an ninh, an toàn hàng không; thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế về hàng không của Việt Nam; đảm bảo sự tham gia bình đẳng của các thành phần kinh tế, sự cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực HKDD; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, nâng cao chất lượng dịch vụ, Việt Nam đã tiếp nhận toàn bộ tinh thần về đảm bảo an ninh hàng không tại Annex 17 – Chicago Convention năm 1944 vào trong Luật HKDD Việt Nam năm 2006; loại bỏ những quy định bất cập không còn phù hợp với thông lệ quốc tế như phân biệt người nước ngoài trong thu lệ phí sân bay; tiếp nhận tinh thần tự do kinh doanh thông qua việc quy định về hình thức, mô hình, điều kiện, trình tự thủ tục đăng ký thành lập hãng hàng không; rà soát và tiếp nhận về vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của quản lý nhà nước chuyên ngành về các hoạt động hàng không.  

– Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật HKDD Việt Nam năm 2006 được ban hành năm 2014. Năm 2014, việc sửa đổi bổ sung Luật HKDD Việt Nam được thực hiện trên cơ sở yêu cầu và khuyến cáo của ICAO về tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực hàng không như: nhà chức trách hàng không; thanh tra hàng không; quản lý giá dịch vụ; quản lý máy bay siêu nhẹ; đóng mở sân bay; cảng vụ hàng không; quản lý đảm bảo hoạt động bay; quản lý nhà nước về thương quyền; quản lý vận chuyển vật phẩm nguy hiểm.

Qua quá trình phát triển của Luật HKDD Việt Nam từ 1991 đến nay, chúng ta thấy được việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài vào lĩnh vực HKDD được thể hiện như sau:

 Một là, cách thức tiếp cận pháp luật nước ngoài theo hướng tiếp cận từ trên xuống mang tính cưỡng bức

hướng tiếp cận từ trên xuống là phổ biến. Sức ép của việc mở rộng tuyến đường bay đi các nước đã buộc Việt Nam phải tiếp nhận nội dung và tinh thần của công ước Chicago năm 1944 và công ước Warsaw năm 1929 vào trong nội dung của Luật HKDD Việt Nam năm 1991; tiếp nhận quan điểm sở hữu tư nhân về tàu bay và tinh thần đa dạng hóa về các thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động HKDD tại Việt Nam để tạo nên thị trường cạnh tranh về hoạt động hàng không cho phù hợp với yêu cầu quốc tế

Từ khi xây dựng Luật HKDD Việt Nam năm 1991 đến nay, cách thức tiếp nhận pháp luật nước ngoài diễn ra theo. Sức ép của việc mở rộng tuyến đường bay đi các nước đã buộc Việt Nam phải tiếp nhận nội dung và tinh thần của công ước Chicago năm 1944 và công ước Warsaw năm 1929 vào trong nội dung của Luật HKDD Việt Nam năm 1991; tiếp nhận quan điểm sở hữu tư nhân về tàu bay và tinh thần đa dạng hóa về các thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động HKDD tại Việt Nam để tạo nên thị trường cạnh tranh về hoạt động hàng không cho phù hợp với yêu cầu quốc tế [5] . Đến Luật HKDD Việt Nam năm 2006, trước sức ép của WTO về môi trường cạnh tranh bình đẳng và nhu cầu tự do đi lại bằng tàu bay của người dân thì mới có các quy định cụ thể hướng dẫn thành lập hãng hàng không tư nhân, đăng ký sở hữu tàu bay tư nhân. Ngoài ra, tiếp nhận pháp luật nước ngoài cũng được thực hiện thông qua con đường truyền bá, cụ thể như bằng con đường hợp tác, hỗ trợ. Tổ chức JICA [6] truyền bá tư tưởng, lý luận, phương thức về nhượng quyền khai thác các cảng hàng không (CHK) và Việt Nam đang tiến hành xây dựng và thử nghiệm phương án nhượng quyền khai thác CHK quốc tế Phú Quốc để tiến tới việc nhượng quyền khai thác các CHK của Việt Nam.

Cách thức tiếp cận đa phần là do bị cưỡng bức bởi yêu cầu cần phải tuân thủ các công ước quốc tế về hàng không mà Việt Nam đã tham gia, trong đó ICAO sẽ giữ vai trò là người kiểm tra, giám sát và đưa ra các khuyến cáo về việc phải tuân thủ thực hiện. Bên cạnh đó, các quốc gia phát triển, đặc biệt là Mỹ, Pháp, Đức, Úc, Nhật,… cũng tận dụng lợi thế của mình trong đàm phán, trong hợp tác, trong giao lưu để buộc Việt Nam phải thay đổi hệ thống các quy định về hàng không trong nước theo đúng luật chơi do họ thiết lập. Chẳng hạn như ICAO yêu cầu Việt Nam phải tuân thủ nguyên tắc không phân biệt đối xử trong chính sách phí, thuế, lệ phí đối với các hãng hàng không bằng cách quy định cụ thể trong Luật HKDD; hay như qua việc đàm phán thiết lập đường bay thẳng đến Mỹ, Mỹ buộc Việt Nam phải thay đổi hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật về tàu bay và tiêu chuẩn an ninh cho phù hợp với cấp độ của Mỹ.

Hai là, sự tiếp nhận pháp luật nước ngoài vào Luật HKDD Việt Nam có sự chọn lọc nhưng vẫn còn thiếu sự tương thích với hệ thống pháp luật trong nước.

Bên cạnh đó, các nội dung tiếp nhận pháp luật nước ngoài trong luật hàng không vẫn còn tồn tại sự thiếu thống nhất về phạm vi điều chỉnh so với các luật chuyên ngành khác, dẫn đến hiệu quả là sự tiếp nhận có mức độ không cao và dễ gây ngộ nhận là Việt Nam đang thực hiện biện pháp hành chính cứng rắn để can thiệp thô bạo vào thị trường, nhằm bảo hộ Hãng Hàng không quốc gia. Điển hình như vụ tranh cãi về nhượng quyền kinh doanh thương hiệu theo quy định của pháp luật thương mại Việt Nam và nhượng quyền kinh doanh vận chuyển hàng không nội địa trong pháp luật HKDD Việt Nam giữa Cục Hàng không và Jetstar Pancific Airline (JPA). Cuối cùng, Cục Hàng không – với lập luận là việc sử dụng biểu tượng của Jetstar, đã được Jetstar chuyển nhượng hợp pháp cho JPA, trên tàu bay của JPA là gây lầm tưởng về hãng hàng không Jetstar có thương quyền vận chuyển nội địa tại Việt Nam. Do đó, Cục Hàng không yêu cầu JPA sơn lại toàn bộ tàu bay nếu muốn tiếp tục hoạt động. Rõ ràng, vì thiếu thống nhất nên đã dẫn đến mâu thuẫn về phạm vi điều chỉnh, khiến cho hiệu quả tiếp nhận pháp luật nước ngoài trong lĩnh vực hàng không là không cao. 

Ba là, sự tiếp nhận mang tính cải cách và tiếp nhận liên tục nhưng vẫn còn thụ động.

Air Taxi hay nhu cầu đi lại bằng tàu bay cá nhân rất phổ biến ở châu Âu. Xu hướng này đang lan rộng qua khu vực châu Á và khu vực Đông Nam Á.

Hoạt động tiếp nhận pháp luật nước ngoài trong lĩnh vực hàng không từ năm 1991 đến nay được thực hiện mang tính chất cải cách và liên tục. Ra đời vào năm 1991, đến năm 1995, Luật HKDD đã được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở loại bỏ các yếu tố không còn phù hợp với quy định quốc tế [7] và bổ sung những yêu cầu mới về quản lý nhà nước trong hoạt động hàng không. Đến năm 2005, Luật HKDD đã được cập nhập, sửa đổi, bổ sung thành Luật HKDD Việt Nam năm 2005 theo hướng phục vụ cho tiến trình gia nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, Luật HKDD hiện nay vẫn còn thụ động trong việc dự báo các quan hệ hình thành trong tương lai gần, khi mà xu hướng tự do đi lại bằng đường hàng không, cụ thể là hoạt độnghay nhu cầu đi lại bằng tàu bay cá nhân rất phổ biến ở châu Âu. Xu hướng này đang lan rộng qua khu vực châu Á và khu vực Đông Nam Á.

Nhìn chung, việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài vào Luật HKDD Việt Nam vẫn còn những hạn chế nhất định như tính thụ động, sự thiếu đồng bộ và áp đặt trong tiếp nhận, dẫn đến hiệu quả của việc tiếp nhận là không cao. Như vậy, tất yếu phải có   các nguyên nhân gây phát sinh, hình thành những hạn chế nói trên, làm ảnh hưởng đến việc tiếp nhận thành công pháp luật nước ngoài về HKDD vào Việt Nam.

2. Nguyên nhân phát sinh các hạn chế ảnh hưởng đến việc tiếp nhận thành công pháp luật nước ngoài vào pháp luật hàng không dân dụng Việt Nam

Tình trạng trên xảy ra là do các nguyên nhân cụ thể như sau:   

 - Một là, xung đột giữa yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và yêu cầu giữ vững mục tiêu phát triển đất nước khiến hiệu quả của việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài không cao.

quyền sở hữu tư nhân về tàu bay, cho dù đã được tiếp nhận vào Luật HKDD Việt Nam năm 1991 và tiếp tục duy trì trong Luật HKDD Việt Nam năm 2006, nhưng cho đến nay, do chưa phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội Việt Nam nên quyền sở hữu tư nhân về tàu bay chỉ được thừa nhận về quyền chiếm hữu, quyền định đoạt, riêng quyền sử dụng vẫn còn bị hạn chế. Điển hình là trường hợp ông Đoàn Nguyên Đức (Tập đoàn Hoàng Anh – Gia Lai), là chủ sở hữu tàu bay King Air 350 số hiệu VNB444 từ năm 2008 – 2014, nhưng phải ký gửi tàu bay cho Công ty Bay dịch vụ hàng không (VASCO) và sử dụng dịch vụ thuê chuyến bay của VASCO để được bay trên chính tàu bay của mình.

Mục tiêu chính trị trong hội nhập kinh tế được xác định là “mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng XHCN, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” [8] . Trước sức ép của tiến trình hội nhập quốc tế, Việt Nam phải đổi mới hệ thống pháp luật nói chung và Luật HKDD theo hướng nội luật hóa các cam kết quốc tế đã tham gia, dẫn đến nhiều tư tưởng pháp lý, khái niệm, chế định được cập nhật, bổ sung vào hệ thống pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, việc sửa đổi, bổ sung trong một số trường hợp chỉ mang tính hình thức với mục đích thể hiện sự tuân thủ, hoàn chỉnh của hệ thống pháp luật để phục vụ cho yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Ví dụ như đối với, cho dù đã được tiếp nhận vào Luật HKDD Việt Nam năm 1991 và tiếp tục duy trì trong Luật HKDD Việt Nam năm 2006, nhưng cho đến nay, do chưa phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội Việt Nam nên quyền sở hữu tư nhân về tàu bay chỉ được thừa nhận về quyền chiếm hữu, quyền định đoạt, riêng quyền sử dụng vẫn còn bị hạn chế. Điển hình là trường hợp ông Đoàn Nguyên Đức (Tập đoàn Hoàng Anh – Gia Lai), là chủ sở hữu tàu bay King Air 350 số hiệu VNB444 từ năm 2008 – 2014, nhưng phải ký gửi tàu bay cho Công ty Bay dịch vụ hàng không (VASCO) và sử dụng dịch vụ thuê chuyến bay của VASCO để được bay trên chính tàu bay của mình.

– Hai là, sự tiếp nhận còn mang tính miễn cưỡng, áp đặt theo hướng từ trên xuống chứ không đảm bảo hài hòa về chiều hướng tiếp nhận, dẫn đến hiệu quả của việc tiếp nhận là không cao và thụ động.

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu và rộng như hiện nay, Việt Nam phải đối mặt với nhiều sức ép về tiếp nhận hệ thống tư tưởng, quan điểm và quy định pháp lý của nước ngoài trong quan hệ quốc tế. Sức ép này đến từ nhiều nguồn khác nhau như cam kết gia nhập tổ chức quốc tế; tham gia các Điều ước quốc tế; chương trình giao lưu hợp tác; tài trợ kinh tế… Việt Nam theo trường phái luật hành văn, do đó, trước sức ép quốc tế  thì nội dung pháp luật nước ngoài sẽ được miễn cưỡng hoặc áp đặt tiếp nhận vào hệ thống pháp luật Việt Nam để phục vụ mục tiêu chính trị, ngoại giao và kinh tế. Sau đó, thực hiện mục tiêu chính trị, với vai trò là cơ quan hành pháp, Chính phủ sẽ chọn các nội dung trong Luật để xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm hiện thực hóa hoặc vô hiệu hóa các nội dung pháp luật nước ngoài đã được tiếp nhận. Điển hình như việc áp đặt theo hướng từ trên xuống đối với mô hình doanh nghiệp nhà nước (DNNN) theo kiểu của Liên Xô cũ; hoặc như khái niệm nhà đầu tư nước ngoài, trong Luật Đầu tư năm 2005 và trong các văn bản dưới luật, điển hình là Nghị định số 69/2007/NĐ-CP, Quyết định số 55/2009/QĐ-TTg, Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg, Quyết định số 9/2008/QĐ-BTC, đã có cách hiểu và áp dụng điều chỉnh khác nhau, khiến cho nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư bị xâm phạm. Hoặc, quan điểm công nhận sở hữu tư nhân về tàu bay trong pháp luật hàng không của Mỹ đã được tiếp nhận từ Luật HKDD Việt Nam năm 1991 và tiếp tục duy trì trong Luật HKDD Việt Nam năm 2006 để tạo tiền đề cho chủ thể mới là hãng hàng không tư nhân và lĩnh vực hàng không chung, như Air Taxi phát triển. Tuy nhiên, vì là sao chép miễn cưỡng và không phù hợp với bối cảnh xã hội trong nước nên quan điểm sở hữu tư nhân về tàu bay chỉ tồn tại hình thức trong văn bản Luật chứ không có cơ chế thực hiện. Cho đến năm 2008, khi xu hướng và nhu cầu sử dụng máy bay tư nhân tăng trong khu vực Đông Nam Á, khiến các cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam rơi vào tình trạng bị động, nên phải giải quyết cho nhập khẩu và đăng ký quyền sở hữu tàu bay tư nhân cho chiếc máy bay King Air 350 của ông Đoàn Nguyên Đức, khi Luật cho phép mà không có bất kỳ cơ chế nào để thực hiện.

– Ba là, sự thiếu đồng bộ và thống nhất trong quy trình xây dựng và ban hành Luật.

Các quy phạm pháp luật được tiếp nhận phải có sự liên kết chặt chẽ và đặt trong thể thống nhất của hệ thống pháp luật thì mới phát huy được tính hiệu quả, tính thực thi trong điều chỉnh các mối quan hệ pháp luật của đời sống xã hội. Chẳng hạn như để Luật HKDD vận hành hiệu quả ở Việt Nam sau khi đã được tiếp nhận, cần tiếp tục thúc đẩy cải cách môi trường xung quanh Luật này như Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Chứng khoán, Luật Đất đai, Luật Lao động, Luật Cạnh tranh, Luật Đầu tư, Luật Phá sản… Đặc biệt, các hình thức sở hữu, quyền tài sản, thái độ đối với khu vực tư cần phải được xác định và thể hiện rõ ràng hơn trong Hiến pháp. Tuy nhiên, hiện nay việc xây dựng dự án luật thường được giao cho các bộ chủ quản tiến hành xây dựng dự thảo. Với quan điểm quản lý chuyên ngành, các bộ chủ quản thường mong muốn tập trung xây dựng luật chuyên ngành theo hướng thuận tiện cho sự quản lý của mình chứ không đặt nó vào tổng thể của mối quan hệ pháp luật cần điều chỉnh. Chính điều này dẫn đến việc giữa các luật chuyên ngành và giữa luật chuyên ngành với luật chung thiếu liên kết, thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ, chồng chéo trong cùng một lĩnh vực điều chỉnh. Tất yếu là quan điểm, tư tưởng pháp lý nước ngoài được luật chuyên ngành này tiếp nhận hoàn toàn có khả năng bị vô hiệu hóa bởi luật chuyên ngành khác. Điển hình như tranh cãi về quyền kinh doanh thương hiệu theo quy định của pháp luật thương mại Việt Nam và nhượng quyền kinh doanh vận chuyển hàng không nội địa trong pháp luật HKDD giữa JPA và Cục Hàng không Việt Nam.

– Bốn là, sự phản kháng về lợi ích của một số chủ thể trong việc tiếp nhận tư tưởng, quan điểm pháp lý mới trong lĩnh vực hàng không từ pháp luật nước ngoài.      Việc tiếp nhận các quan điểm, tư tưởng pháp lý mới cho phù hợp với nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN sẽ tác động đến lợi ích của một số chủ thể trong hệ thống quản lý nhà nước. Các chủ thể này sẽ tận dụng vị thế và quyền lực của mình để duy trì vị thế và cứu vãn tình thế. Cụ thể là các chủ thể sau:

Chủ thể thứ nhất, là các bộ chủ quản của các DNNN. Các nguồn lực công khổng lồ như tài chính, đất đai và các ưu thế độc quyền cũng như sự bảo hộ của Nhà nước đã được phân phối cho các DNNN, dẫn đến trong nền kinh tế thị trường, các DNNN hoạt động theo sự quản lý của các cơ quan chủ quản chứ không theo quy luật thị trường cũng như không chịu áp lực của hiệu quả kinh doanh. Khi phải đối mặt với các tư tưởng mới như: cạnh tranh bình đẳng, quyền tự do kinh doanh, bán cổ phần hãng hàng không, cổ phần hóa DNNN trong lĩnh vực hàng không, nhượng quyền kinh doanh thương hiệu, quyền tự do làm việc và bình đẳng trong thị trường lao động ngành hàng không… thì DNNN sẽ thông qua chính các Bộ chủ quản để được bảo hộ bằng chính sách, quy định hành chính để đảm bảo vị thế cạnh tranh tuyệt đối. Điển hình như, khi AirAsia tuyên bố mua 30% cổ phần của VietJet vàotháng 2/2010, thì tháng 3/2010, Việt Nam Airlines (VNA) đã gửi văn bản đề nghị Chính phủ không thông qua việc đầu tư của Air AirAsia vào Vietjet Air dưới mọi hình thức

là các bộ chủ quản của các DNNN. Các nguồn lực công khổng lồ như tài chính, đất đai và các ưu thế độc quyền cũng như sự bảo hộ của Nhà nước đã được phân phối cho các DNNN, dẫn đến trong nền kinh tế thị trường, các DNNN hoạt động theo sự quản lý của các cơ quan chủ quản chứ không theo quy luật thị trường cũng như không chịu áp lực của hiệu quả kinh doanh. Khi phải đối mặt với các tư tưởng mới như: cạnh tranh bình đẳng, quyền tự do kinh doanh, bán cổ phần hãng hàng không, cổ phần hóa DNNN trong lĩnh vực hàng không, nhượng quyền kinh doanh thương hiệu, quyền tự do làm việc và bình đẳng trong thị trường lao động ngành hàng không… thì DNNN sẽ thông qua chính các Bộ chủ quản để được bảo hộ bằng chính sách, quy định hành chính để đảm bảo vị thế cạnh tranh tuyệt đối. Điển hình như, khi AirAsia tuyên bố mua 30% cổ phần của VietJet vàotháng 2/2010, thì tháng 3/2010, Việt Nam Airlines (VNA) đã gửi văn bản đề nghị Chính phủ không thông qua việc đầu tư của Air AirAsia vào Vietjet Air dưới mọi hình thức [9] ; hay việc Bộ Giao thông vận tải (GTVT) dùng mệnh lệnh hành chính để tạm thời hạn chế quyền tự do làm việc và lựa chọn việc làm của người lao động theo quy định của Hiến pháp và pháp luật lao động, nhằm đảm bảo “an toàn cho hoạt động của VNA” theo Nghị quyết số 09 do VNA ban hành vào ngày 6/1/2015 [10]

Chính điều này đã tạo nên dòng chảy lợi ích trong liên minh giữa DNNN và cơ quan chủ quản. Đồng thời, khiến cho việc tiếp nhận các quan điểm mới như: cạnh tranh bình đẳng, quyền tự do kinh doanh, xóa bỏ độc quyền… trong pháp luật hàng không trở nên khó khăn hơn và kém hiệu quả.

Chủ thể thứ hai, các cơ quan hành chính. Theo truyền thống, pháp luật vẫn được coi là công cụ để nhà nước quản lý hiểu theo nghĩa kiểm soát chặt chẽ, chứ không phải tạo điều kiện phát triển. Do đó, trong quá trình soạn thảo các văn bản luật, các cơ quan hành chính nói chung và cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về hàng không nói riêng có thể tìm cách lồng quan điểm tư tưởng theo hướng có lợi nhất, thuận tiện cho mình nhất trong hoạt động quản lý chứ không tiếp nhận quan điểm mới. Bên cạnh đó, trong quá trình thực thi, các cơ quan hành chính này có thể lựa chọn, tính toán để trì hoãn ban hành các quy định về thủ tục hành chính, hoạt động nghiệp vụ để khuyến khích phát triển hoặc tiếp tục ban hành các quy định thủ tục hành chính, hoạt động nghiệp vụ nặng về kiểm soát, phòng ngừa nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động quản lý của mình.

Đại lý điều tiết (RA: Regulated Agents)Đại lý điều tiết tại Việt Nam. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân khó trong quản lý hoạt động của RA, Cục Hàng không lựa chọn giải pháp chỉ đưa ra quy trình phê chuẩn Quy chế an ninh hàng không của Đại lý điều tiết mà không có bất kỳ hướng dẫn nào về đăng ký, thành lập, hoạt động của RA. Sau đó, năm 2012, với vai trò là cơ quan tham mưu trong việc soạn thảo chương trình an ninh HKDD năm 2012 (ban hành kèm theo Thông tư số 30/2012/TT-BGTVT), Cục Hàng không đã loại bỏ thuật ngữ RA khỏi chương trình an ninh HKDD năm 2012. Đồng thời, quan điểm này lại được Cục hàng không tiếp tục bảo vệ tại “Hội thảo về doanh nghiệp ưu tiên và Đại lý điều tiết” do Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) và ICAO tổ chức tại Việt Nam từ ngày 03-09/09/2015

Điển hình như về(RA: Regulated Agents) [11] , là giải pháp kỹ thuật được ICAO đưa ra trong trong Phụ lục 17 Công ước Chicago năm 1944 (bản số 9 sửa đổi lần thứ 12, hiệu lực ngày 1/07/2011) và hướng dẫn thực hiện tại Cẩm nang An ninh hàng không (Doc.8973/ICAO: Security Manual), được Việt Nam tiếp nhận và quy định tại khoản 5 Điều 3 Chương trình An ninh HKDD năm 2007 ban hành kèo theo Quyết định số 06/2007/QĐ-BGTVT của Bộ GTVT. Đồng thời cũng tại điểm d, khoản 1, Điều 5 của Quyết định này, Cục Hàng không là cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm thẩm định và chấp thuậntại Việt Nam. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân khó trong quản lý hoạt động của RA, Cục Hàng không lựa chọn giải pháp chỉ đưa ra quy trình phê chuẩn Quy chế an ninh hàng không của [12] mà không có bất kỳ hướng dẫn nào về đăng ký, thành lập, hoạt động của RA. Sau đó, năm 2012, với vai trò là cơ quan tham mưu trong việc soạn thảo chương trình an ninh HKDD năm 2012 (ban hành kèm theo Thông tư số 30/2012/TT-BGTVT), Cục Hàng không đã loại bỏ thuật ngữ RA khỏi chương trình an ninh HKDD năm 2012. Đồng thời, quan điểm này lại được Cục hàng không tiếp tục bảo vệ tại “Hội thảo về doanh nghiệp ưu tiên và Đại lý điều tiết” do Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) và ICAO tổ chức tại Việt Nam từ ngày 03-09/09/2015 [13]

Như vậy, các yếu tố trên là những nguyên nhân đang tồn tại gây ảnh hưởng và cản trở đến hiệu quả của việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài vào lĩnh vực hàng không, đòi hỏi cần phải có giải pháp hữu hiệu để loại bỏ và hạn chế được các nguyên nhân tiêu cực nói trên.

3. Một số đề xuất để nâng cao hiệu quả tiếp nhận pháp luật nước ngoài vào lĩnh vực pháp luật hàng không dân dụng Việt Nam

Qua việc nhận diện các nguyên nhân gây ảnh hưởng đến hiệu quả của việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài vào Việt Nam, chúng ta rút ra được các yêu cầu, điều kiện và yếu tố cần thiết để đảm bảo tiếp nhận thành công pháp luật nước ngoài vào lĩnh vực HKDD Việt Nam như sau:

– Một là, tiếp nhận pháp luật nước ngoài phải có sự chọn lọc, tránh sao chép rập khuôn, máy móc; nội dung tiếp nhận phải phù hợp với bối cảnh phát triển ngành hàng không của đất nước và điều kiện, kinh tế, chính trị – xã hội cụ thể của Việt Nam. Việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài nên hướng đến tinh thần pháp lý, sự tương đồng mang tính nguyên tắc trong điều chỉnh các mối quan hệ pháp luật. Đồng thời, nội dung tiếp nhận phải thích ứng được với bối cảnh mới của tiến trình hội nhập. Đặc biệt, lĩnh vực hàng không lại là lĩnh vực có sự hội nhập quốc tế nhanh và chịu ảnh hưởng của pháp luật quốc tế rất lớn.

– Hai là, việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài phải được thực hiện hài hòa theo chiều từ trên xuống và từ dưới lên. Nghĩa là việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài phải xuất phát từ đổi mới cơ chế vận hành của nền kinh tế và sự giao thương, hợp tác quốc tế trong hoạt động hàng không. Chính vì thế, yêu cầu xây dựng hệ thống pháp luật chuyên ngành về HKDD của Việt Nam không nên chỉ theo lăng kính của người thực hiện công việc quản lý nhà nước, mà còn thông qua lăng kính của người hưởng thụ hệ thống pháp luật. Sự tiếp nhận phải được cam kết mạnh mẽ, nhất quán từ trên xuống của các cơ quan nhà nước, đồng thời phải có sự ủng hộ rộng rãi, mạnh mẽ của các thành phần xã hội.

– Ba là, các nội dung tiếp nhận từ pháp luật nước ngoài vào pháp luật Việt Nam nói chung và lĩnh vực pháp luật HKDD nói riêng phải đảm bảo tính tương thích, thống nhất và đồng bộ trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Quan điểm pháp lý, tinh thần pháp lý được tiếp nhận phải tương thích, thống nhất và đồng bộ giữa pháp luật chung với pháp luật chuyên ngành, giữa pháp luật chuyên ngành với pháp luật chuyên ngành. Đồng thời, việc tiếp nhận phải được diễn ra trong môi trường rộng lớn để tạo nên sự liên kết giữa các văn bản pháp luật nhằm tạo nên một hệ thống pháp luật thống nhất điều chỉnh hiệu quả các quan hệ pháp luật mới phát sinh trong đời sống kinh tế – xã hội.

– Bốn là, tiếp nhận pháp luật nước ngoài với tâm thế chủ động, tiếp nhận liên tục, cương quyết thực hiện vì lợi ích của đất nước. Chủ động để đối phó với áp lực của hội nhập quốc tế, chủ động để lựa chọn kinh nghiệm cải cách khoa học, tinh thần pháp lý tiến bộ phù hợp với thực tiễn nền kinh tế và lợi ích dân tộc. Tiếp nhận liên tục cũng là thể hiện tâm thế chủ động trước những thay đổi. Tiếp nhận liên tục được thực hiện thông qua tiếp tục cải cách – tiếp tục tiếp nhận. Trong tiếp nhận pháp luật nước ngoài, việc tiếp nhận phải được thực biện bằng sự quyết tâm để đạt mục tiêu phát triển đất nước. Sự cương quyết cũng được thể hiện thông qua việc kiểm soát và hạn chế sự phản kháng về lợi ích của các chủ thể trong nền kinh tế để dung nạp quan điểm, tinh thần pháp lý nước ngoài phù hợp với lợi ích dân tộc và cơ chế vận hành của nền kinh tế.

Như vậy, quá trình tiếp nhận pháp luật nước ngoài vào pháp luật HKDD Việt Nam đã được tiến hành từ năm 1991 nhằm thúc đẩy ngành HKDD Việt Nam phát triển, phục vụ cho mục tiêu hội nhập quốc tế. Việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài diễn ra theo chiều hướng từ trên xuống, có sự chọn lọc và cập nhật liên tục với sự đa dạng về nguồn pháp luật tiếp nhận. Tuy nhiên, việc tiếp nhận vẫn còn có những hạn chế nhất định như tính thụ động, sự thiếu đồng bộ và còn có các yếu tố chính trị trong tiếp nhận. Chính vì thế, để pháp luật nước ngoài có thể được tiếp nhận thành công vào pháp luật HKDD Việt Nam, chúng ta cần phải nắm bắt xu thế của quốc tế về HKDD, học hỏi kinh nghiệm từ pháp luật các nước có công nghệ hàng không phát triển để tiếp nhận có tính dự báo trong hoạt động HKDD Việt Nam. Đồng thời, các nhà hoạch định chính sách, các nhà làm luật phải cân đối hài hòa giữa lợi ích chính trị và lợi ích kinh tế hàng không nhằm thúc đẩy lĩnh vực hàng không phát triển trong môi trường cạnh tranh bình đẳng, đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật trong nước về nội dung tiếp nhận, nhưng vẫn giữ vững được định hướng, giữ vững được mục tiêu phát triển đất nước./.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Định Nghĩa Về Điều Ước Quốc Tế Theo Luật Pháp Quốc Tế (Bao Gồm Án Lệ) Và Pháp Luật Việt Nam / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!