Đề Xuất 12/2022 # Đề Nghị Kỷ Luật Nguyên Giám Đốc Sở Lao Động / 2023 # Top 19 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Đề Nghị Kỷ Luật Nguyên Giám Đốc Sở Lao Động / 2023 # Top 19 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Đề Nghị Kỷ Luật Nguyên Giám Đốc Sở Lao Động / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trụ sở Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Gia Lai.

Theo đó, Đảng ủy Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, để xảy ra những khuyết điểm, vi phạm trong việc tổ chức thực hiện Quy chế làm việc của Đảng ủy, Quy chế hoạt động của Đảng bộ và trong hoạt động của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy. Đảng ủy Sở Lao động – Thương binh và Xã hội chưa thực hiện nghiêm nhiệm vụ lãnh đạo công tác cán bộ của đảng bộ cơ sở theo quy định của Ban Bí thư và Quy chế làm việc của Đảng ủy, Quy chế hoạt động của Đảng bộ.

Những vi phạm của Đảng ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy Sở Lao động – Thương binh và Xã hội làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy, cơ quan Sở Lao động – Thương binh và Xã hội; ảnh hưởng đến sự đoàn kết nội bộ, gây dư luận không tốt trong cán bộ, đảng viên, đến mức phải xem xét, thi hành kỷ luật. Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy đề nghị tổ chức đảng có thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với Đảng ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy Sở Lao động – Thương binh và Xã hội.

Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy đã đề nghị, thống nhất các hình thức kỷ luật như sau:

Bà Trần Thị Hoài Thanh, với vai trò là Bí thư Đảng ủy khóa XIX, nhiệm kỳ 2015 – 2020, đã buông lỏng quản lý đối với Đảng ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy, để xảy ra những khuyết điểm, vi phạm trong việc thực hiện Quy chế làm việc của Đảng ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy. Nhiều trường hợp cán bộ được điều động, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại nhưng Bí thư Đảng ủy không xin chủ trương của Đảng ủy theo quy chế, quy định.

Ngoài ra, với trách nhiệm là Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, bà Thanh đã buông lỏng quản lý, để xảy ra những vi phạm trong việc quản lý, sử dụng quỹ Đền ơn đáp nghĩa; thu lệ phí cấp phép mới và cấp lại cho lao động nước ngoài; đặc biệt là vi phạm trong xây dựng và tổ chức thực hiện 2 dự án phần mềm chuyên ngành, làm thất thoát ngân sách nhà nước hơn 600 triệu đồng; quyết định đầu tư dự án sử dụng 2,5 tỷ đồng vốn ngân sách nhà nước không đúng thẩm quyền, không có nguồn vốn để thực hiện, thanh toán không đúng quy định, vi phạm Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015, để nợ đọng đầu tư dây dưa, kéo dài cho đơn vị khác.

Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy đề nghị tổ chức đảng có thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với bà Trần Thị Hoài Thanh.

Ông Lê Văn Thành, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc sở, đã thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, để xảy ra khuyết điểm, vi phạm trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện Quy chế làm việc của Đảng ủy, Quy chế hoạt động của Đảng bộ, Quy chế làm việc của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy. Ông Thành thiếu trách nhiệm trong công tác cán bộ; tổ chức thực hiện dự án phần mềm chuyên ngành không đúng quy định, làm thất thoát ngân sách nhà nước. Những vi phạm của ông Thành làm giảm uy tín của bản thân, tổ chức đảng, cơ quan. Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy đã quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với ông Lê Văn Thành.

Ông Võ Như Minh Quang, Trưởng phòng Kế hoạch – Tài chính, đã thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, tham mưu quản lý, sử dụng quỹ Đền ơn đáp nghĩa; thu, nộp, quản lý nguồn lệ phí cấp phép, cấp phép lại cho lao động người nước ngoài không đúng quy định. Ông Quang tham mưu xây dựng, tổ chức thực hiện dự án phần mềm chuyên ngành không đúng quy định, làm thất thoát ngân sách nhà nước; tham mưu quản lý, sử dụng nguồn kinh phí trung ương ủy quyền chi cho công tác mộ và nghĩa trang liệt sỹ năm 2019 vi phạm Luật Ngân sách nhà nước. Những vi phạm của ông Quang làm giảm uy tín của bản thân, tổ chức đảng, cơ quan. Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy đã quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với ông Võ Như Minh Quang.

Ông Lê Minh Lộc, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Chánh Văn phòng sở, đã thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, thẩm định, tham mưu, đề xuất về công tác quy hoạch, điều động, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại một số trường hợp không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, thủ tục, quy trình. Những vi phạm của ông Lộc làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của bản thân, tổ chức đảng, cơ quan. Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy đã quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với ông Lê Minh Lộc.

Các Luật Sư Đồng Loạt Đề Nghị Tòa Tuyên Vô Tội Cho Nguyên Tổng Giám Đốc Và Phó Tổng Giám Đốc Vifon / 2023

(TN&MT) – Hôm qua (14/5), ngay sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao giữ quyền công tố tại phiên tòa xét xử vụ Công ty Vifon nêu quan điểm, các luật sư tiến hành bào chữa cho các bị cáo. Đáng lưu ý khi “chốt” lại các bài bào chữa là các luật sư đều khẳng định thân chủ mình không phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên trả lại tự do cho các bị cáo.

Buổi chiều ngày xét xử thứ 3 (14/5), Đại diện VKS nêu quan điểm về vụ án: Theo VKS, tại bản án sơ thẩm ngày 27/11/2013 tuyên tội “tham ô” đối với Nguyễn Thanh Huyền và tội “cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” đối với Nguyễn Bi là có cơ sở. Đối với bị cáo Đàm Tú Liên; Ka Thị Thu Hồng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và Dương Thị Mẫn xin miễn trách nhiệm hình sự, VKS cho rằng không có căn cứ để xem xét.

Ngay sau khi VKS nêu quan điểm vụ án, Tòa tiến hành cho các luật sư bào chữa cho các bị cáo.

Tuy vậy, tại Bản án sơ thẩm, HĐXX lại xác định Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) là Bộ quản lý ngành và là đại diện chủ sở hữu vốn đối với Công ty Vifon. Tòa sơ thẩm đã tuyên buộc bị cáo Nguyễn Thanh Huyền phải bồi thường số tiền 9.8 tỉ đồng cho Bộ Công Thương. Vì lẽ đó, luật sư Phan Trung Hoài cho rằng xác định tư cách nguyên đơn dân sự của Bộ Công Thương và quyết định buộc bà Huyền phải bồi thường số tiền nói trên là không có căn cứ về mặt pháp lý, do Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng trong việc xác định tư cách nguyên đơn dân sự của Bộ Công Thương, xác định khoản tiền có nguồn gốc là tài sản của Nhà nước không đúng đắn.

Ông Nguyễn Văn Bên (Nguyên Tổng giám đốc Vifon) người làm đơn tố cáo ngày 01/03/2008 nộp cho Cơ quan điều tra (ngày 04/12/2009) toàn bộ số tiền 43 tỉ đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm, bản án tuyên kiến nghị xem xét trách nhiệm hình sự đối với ông Nguyễn Văn Bên, điều đó chứng minh bản chất vụ án xuất phát từ lá đơn tố cáo sai sự thật của ông Nguyễn Văn Bên nguyên Tổng Giám đốc Công ty Vifon đối với bà Huyền, trong khi ông Bên giữ chức vụ Tổng giám đốc từ tháng 05/2005 là chủ tài khoản, là người đại diện pháp luật, cho đến tháng 12/2012 ông Bên chính thức nghỉ làm việc tại Công ty Vifon.

Cũng trong ngày xét xử thứ 3, bị cáo Nguyễn Bi cũng được luật sư bào chữa công khai tại tòa. Luật sư bào chữa cho bị cáo này là Lê Hồng Nguyên đã đề nghị HĐXX tuyên Nguyễn Bi không phạm tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Bảo vệ quan điểm cho đề nghị tuyên Nguyễn Bi không phạm tội, Luật sư Lê Hồng Nguyên nêu ba nguyên nhân, đó là chưa đủ tính thuyết phục khi VKS cho rằng khoản tiền 9,8 tỉ đồng là tiền nhà nước; việc Nguyễn Bi ký quyết định khen thưởng sau đó nghỉ hưu là vi phạm gián tiếp vì bị cáo này không trực tiếp ký xuất tiền thưởng; mặc khác trong số các bút lục (khoảng 71 trang mà luật sư trình tại phiên tòa phúc thẩm này) cho thấy tòa chưa làm rõ đâu là khoản tiền mà Nguyễn Bi được nhận từ Công ty Vifon. Về nội dung này, luật sư đã dẫn chứng Nguyễn Bi còn lại các khoản tiền tại Công ty Vifon nhiều hơn số tiền mà Nguyễn Bi đã nhận…

Sau phần bào chữa của luật sư Lê Hồng Nguyên, Chủ tọa phiên tòa cho ngày xét xử thứ 3 kết thúc. Tòa cũng thông báo hôm nay (15/5), tòa sẽ cho các luật sư của 3 bị cáo còn lại của vụ án là Đàm Tú Liên; Ka Thị Thu Hồng và Dương Thị Mẫn bào chữa. Sau đó sẽ là phần tranh luận công khai tại tòa giữa đại diện VKS và các luật sư…

Công Bố Quyết Định Bổ Nhiệm Phó Giám Đốc Sở Tài Chính Thái Nguyên / 2023

Chiều ngày 26/6/2019, tại Sở Tài chính tỉnh Thái Nguyên, UBND tỉnh Thái Nguyên tổ chức Hội nghị công bố quyết định bổ nhiệm chức danh Phó Giám đốc Sở Tài chính. Tham dự hội nghị có đồng chí Vũ Hồng Bắc, Phó bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; đồng chí Ma Đình Đối, Phó Giám đốc Sở Nội vụ; đồng chí Nguyễn Minh Quang, tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tài chính; các đồng chí trong BCH đảng bộ, Ban Giám đốc, Trưởng, phó các đoàn thể, cán bộ công chức, người lao động trực thuộc Sở Tài chính.

Đ/c Ma Đình Đối Phó Giám đốc Sở Nội vụ công bố quyết định bổ nhiệm Phó Giám đốc Sở Tài chính

Tại hội nghị đồng chí Ma Đình Đối Phó Giám đốc Sở Nội vụ thay mặt UBND tỉnh công bố Quyết định 1697/QĐ-UBND ngày 20/6/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên, Bổ nhiệm bà Vũ Thị Anh Dung giữ chức vụ Phó Giám đốc Sở Tài chính Thái Nguyên, thời hạn bổ nhiệm 5 năm kể từ ngày 01/7/2019.

Đ/c Vũ Hồng Bắc – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh trao quyết định bổ nhiệm cho đồng chí Vũ Thị Anh Dung

Đón nhận cương vị mới, đồng chí Vũ Thị Anh Dung – Tân Phó Giám đốc Sở Tài chính đã bày tỏ lòng biết ơn đến các cấp lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Sở Tài chính và toàn thể cán bộ, công chức, người lao động ngành Tài chính đã tin tưởng, tín nhiệm để đồng chí đảm nhiệm chức vụ mới, đồng thời tiếp thu ý kiến chỉ đạo, giao nhiệm vụ của đồng chí Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh và hứa sẽ tiếp tục phần đấu hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, gắn bó, đoàn kết nội bộ để đưa ngành Tài chính ngày một phát triển.

Đ/c Vũ Thị Anh Dung Phó Giám đốc Sở Tài chính phát biểu nhận nhiệm vụ mới

Phát biểu bế mạc hội nghị đồng chí Nguyễn Minh Quang – Tỉnh ủy viên, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tài chính đã cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh, các ban ngành, đoàn thể trong hoạt động của ngành Tài chính, đặc biệt là việc xây dựng, kiện toàn bộ máy lãnh đạo quản lý trong thời gian qua. Với việc kiện toàn Ban Giám đốc Sở, đồng chí tin tưởng đội ngũ cán bộ, công chức của toàn ngành sẽ tiếp tục đoàn kết, cống hiến cho sự nghiêp để ngành Tài chính ngày càng phát triển. Đồng thời mong muốn các đồng chí cán bộ, công chức sẽ phối hợp, giúp đỡ đồng chí Vũ Thị Anh Dung hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trên cương vị mới.

Đ/c Nguyễn Minh Quang – Tỉnh ủy viên, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tài chính phát biểu bế mạc hội nghị

Kỷ Luật An Toàn Lao Động Và Vệ Sinh Lao Động / 2023

1. Luật lao động của Nhật Bản đối với lao động nước ngoài

Trong hợp đồng Lao Động, nhà tuyển dụng phải ghi rõ mức lương, thời gian làm việc, các điều kiện làm việc, cùng những vấn đề cụ thể khác. Nhà tuyển dụng cần phải ghi rõ ra bằng văn bản rõ ràng những điều kiện này cho người được tuyển dụng biết (tại chú thích tuyển dụng), (theo điều luật 15 của Luật Lao Động tiêu chuẩn).

Nghiêm cấm có sự phân biệt chủng tộc

Điều luật này nghiêm cấm các nhà tuyển dụng có sự phân biệt đối xử với những công nhân về vấn đề lương, thời gian làm việc, các điều kiện làm việc do quốc tịch, tôn giáo hay địa vị xã hội của họ (điều 3 của Luật Lao Động tiêu chuẩn).

Nghiêm cấm ép buộc, bóc lột sức lao động

Nhà tuyển dụng không được quyền ép buộc người Lao Động bằng những hành động vi phạm hoặc gợi ý trái với ý muốn của người Lao Động. Trừ phi có sự cho phép của Luật Pháp, nhà tuyển dụng không được phép kiếm lợi nhuận từ việc phỏng vấn của người này như là sự kinh doanh cho sự tuyển dụng của người kia (điều 5 và điều 6 của Luật Lao Động tiêu chuẩn).

Giới hạn tối đa việc sa thải người lao động khi mà họ đang đau ốm hay bị thương do tai nạn trong khi đang làm việc.

Theo nguyên tắc, luật nghiêm cấm việc sa thải người Lao Động trong khi đang bị thương hay đang bị ốm do công việc và người Lao Động đó có quyền vắng mặt để được chữa trị y tế và cộng thêm 30 ngày sau khi được chữa trị (điều 19 của Luật Lao Động tiêu chuẩn).

Nghiêm cấm ghi trong hợp đồng lao động, miêu tả chi tiết sự đền bù do việc vi phạm hay không thực hiện hợp đồng.

Việc miêu tả sự đền bù do việc vi phạm hay không thực hiện hợp đồng này như là việc một người Lao Động từ chức trước khi hoàn thành hợp đồng… (điều 16 của Luật Lao Động cơ bản).

Việc sa thải phải được báo trước ít nhất 30 ngày làm việc

Trên nguyên tắc, trong trường hợp nhà tuyển dụng muốn sa thải người Lao Động đang làm việc cho họ, nhà tuyển dụng phải thông báo ít nhất trước 30 ngày tính cho đến ngày bị sa thải cho người Lao Động đó biết. Trong trường hợp thông báo sa thải không đủ 30 ngày, nhà tuyển dụng phải trả lương những ngày còn lại cho người Lao Động, số lương tối thiểu phải bằng số lương theo quy định của Luật. Việc trả lương này sẽ không áp dụng trong trường hợp nhà tuyển dụng không có khả năng tiếp tục công việc kinh doanh vì những lý do bất khả kháng như thiên tai… Hay trong các trường hợp mà lỗi thuộc về người Lao Động và nhà tuyển dụng có quyền sa thải họ.

Trong trường hợp này, nhà tuyển dụng cần phải xin được sự cho phép sa thải bằng bản thông báo sa thải của người đứng đầu Văn phòng giám sát Luật Lao Động tiêu chuẩn (điều 20 và điều 21 của Luật Lao Động tiêu chuẩn).

Mức lương tối thiểu theo vùng miền của luật lao động Nhật Bản

Nhà tuyển dụng không được phép trả lương cho người Lao Động ít hơn mức lương tối thiểu (được quy định tại điều 5 của Luật về mức lương tối thiểu), mức lương tối thiểu này được tính toán dựa trên khu vực và ngành nghề.

Hình thức thanh toán lương

Lương phải được trả đầy đủ trực tiếp cho người Lao Động bằng tiền ít nhất một lần một tháng vào những ngày quy định. Tuy nhiên, những khoản thuế phát sinh từ thu nhập, bảo hiểm Lao Động, bảo hiểm y tế và những khoản khác theo thỏa thuận trong hợp đồng sẽ được khấu trừ từ khoản lương này (điều 24 của Luật Lao Động tiêu chuẩn).

Giờ, làm thêm, ngày thường và ngày nghỉ theo luật lao động

Nhà tuyển dụng phải tuân thủ thời gian làm việc được quy định theo luật là 8 tiếng một ngày, 40 tiếng một tuần (một số ngành nghề cụ thể không được làm quá 44 tiếng một tuần, người Lao Động được nghỉ ít nhất một ngày trong tuần, hay 4 ngày trong thời gian 4 tuần (điều 36 của Luật Lao Động tiêu chuẩn).

Thời gian nghỉ giải lao giữa giờ làm việc

Nhà tuyển dụng không được quy định thời gian làm việc quá 8 tiếng một ngày, 40 tiếng một tuần (một số ngành nghề cụ thể không được làm quá 44 tiếng một tuần) (theo điều 32, điều 40 của Luật Lao Động tiêu chuẩn). Nhà tuyển dụng phải cho người Lao Động nghỉ ít nhất một ngày trong tuần, hay 4 ngày trong thời gian 4 tuần (điều 35 của Luật Lao Động tiêu chuẩn).

Đối với giờ làm việc ngoài thời gian trên sẽ được tính là thời gian làm thêm và người Lao Động phải được trả thêm lương tính theo tỷ lệ 25% trở lên của thời gian làm việc bình thường trong những ngày làm việc trong tuần. Nếu người Lao Động phải làm thêm trong ngày nghỉ thì mức trả thêm này tối thiểu phải là 35%.

Thêm vào đó, thời gian làm thêm vào buổi đêm (sau 10 giờ tối đến 5 giờ sáng) sẽ được tính thêm 25% trở lên của thời gian làm việc bình thường trong những ngày làm việc trong tuần (điều 37 của Luật Lao Động tiêu chuẩn).

Hoàn trả tiền đối với lao động gặp rủi ro

Khi một Lao Động nước ngoài chết hoặc từ chức khỏi công việc đang làm, nhà tuyển dụng phải hoàn trả tất cả các khoản tiền thuộc quyền sở hữu của người Lao động trong vòng 7 ngày theo yêu cầu của người có thẩm quyền. (Nhà tuyển dụng không được giữ hộ chiếu hay giấy chứng nhận đăng ký cư trú của người nước ngoài) (Điều 23 của Luật Lao Động tiêu chuẩn).

Các kỳ nghỉ trong năm

Nhà tuyển dụng phải cho người Lao Động kỳ nghỉ phép hàng năm nếu người Lao động làm việc cho nhà tuyển dụng liên tục trong vòng 6 tháng, và đã làm việc 80% hay hơn của lượng thời gian làm việc thông thường vào các ngày thông thường trong tuần. (Số lượng ngày nghỉ trong năm phụ thuộc vào thời gian làm việc của người Lao Động tại công ty. Đối với năm đầu tiên phục vụ, thời gian nghỉ phép năm theo Luật được quy định là 10 ngày) (điều 39 của Luật Lao Động tiêu chuẩn).

Đảm bảo an toàn sức khỏe cho Lao Động

Để đảm bảo an toàn và sức khỏe cho người Lao Động, nhà tuyển dụng phải áp dụng các biện pháp phòng ngừa tăng cường sức khỏe cho người Lao Động (như việc giáo dục an toàn sức khỏe Lao Động trong thời gian tuyển dụng), kiểm tra sức khỏe định kỳ tối thiểu 1 năm 1 lần (điều 59, điều 66 của Luật an toàn sức khỏe và Lao Động công nghiệp).

2. An toàn lao động và vệ sinh lao động đối với thực tập sinh tại Nhật Bản

Một yếu tố đặc biệt quan trọng khiến Nhật Bản là thị trường lao động đầy tiềm năng, chiếm được cảm tình lớn từ người lao động Việt Nam chính là cách ứng xử văn minh của toàn xã hội Nhật. Mà trong đó, sự an toàn lao động được chính phủ quan tâm sâu sắc.

Lao động ở Nhật Bản được đánh giá là “an toàn số 1 thế giới”

Đó là một thực tế đã được khẳng định nhiều năm, qua nhiều bảng xếp hạng quốc tế. Bất chấp tốc độ tăng trưởng GDP thấp, tình trạng già hóa lực lượng lao động đang diễn ra, Nhật Bản vẫn vững vàng ở vị thế một quốc gia văn minh, nơi có số vụ tai nạn trong lao động thấp hàng đầu thế giới cũng như tỷ lệ tử vong và thương tật nặng trên tổng số vụ tai nạn là rất thấp, thường chỉ bằng 1/10 tỷ lệ trung bình của thế giới trong cùng thời điểm.

Không ngừng nỗ lực để cải thiện hơn nữa an toàn lao động

Thực tế, Nhật Bản trước năm 1973 không hề có tên trong các bảng xếp hạng TOP an toàn lao động của thế giới. Trong giai đoạn nền công nghiệp phát triển bùng nổ (những năm 50, 60 của thế kỷ trước), an toàn lao động tại nước Nhật chưa được quan tâm đúng mực.

Dẫn chứng là năm 1961, toàn Nhật Bản có tới 6.172 người chết vì tai nạn lao động, chiếm gần 21% trên tổng số các vụ tai nạn trong năm. Năm 1973, toàn bộ nước Nhật chuyển mình trong phong trào “Không tai nạn”. Từ 6.172 người chết năm 1961 giảm xuống còn 1.514 người chết năm 2005 và cho đến nay, con số này vẫn tiếp tục giảm sâu xuống còn một nửa năm 2015.

Toàn dân tham gia đảm bảo an toàn lao động

An toàn lao động ở Nhật Bản không phải trách nhiệm của Chính phủ, chủ các doanh nghiệp hay Nghiệp đoàn các thành phố mà là trách nhiệm của toàn xã hội. Theo người Nhật, một xã hội an toàn mới tạo nên được môi trường làm việc an toàn, người dân văn minh trong đời sống thì cũng sẽ văn minh trong lao động.

Để đảm bảo an toàn thì không có quy định nào là thừa

Theo nghiên cứu của Nhật Bản, các nguyên nhân bất khả kháng chỉ có thể gây ra 1,1% số vụ tai nạn trong lao động. Mặt khác, 93,8% vụ tai nạn xảy ra do hành vi không an toàn của người lao động và 87,7% xảy ra vì điều kiện làm việc không an toàn. 82,6% các vụ tai nạn xảy ra do cả hai nguyên nhân trên cộng lại. Nghiên cứu trên chỉ ra rằng: tai nạn lao động hoàn toàn có thể được giảm thiểu triệt để nếu các yếu tố chủ quan được cải thiện. Mà cụ thể ở đây chính là điều kiện làm việc và hành vi của người lao động.

Theo quy định của Chính phủ Nhật Bản, mọi đơn vị và tổ chức sử dụng lao động, bất kể quy mô lớn hay nhỏ, ngành nghề sản xuất kinh doanh là gì, đều phải tuân thủ tuyệt đối các quy định chung về an toàn lao động do chính phủ đưa ra. Và tại Nhật Bản làm rất nghiêm và phạt rất nặng bất cứ vi phạm nào bị phát hiện có hành động sai trái.

Đối với thực tập sinh lao động tại Nhật Bản, HanoiLink luôn chú trọng đến đào tạo định hướng để học viên nắm vững những quy định về kỷ luật an toàn lao động đối với thực tập sinh tại Nhật Bản, giúp thực tập sinh được bảo vệ tối đa về quyền lợi khi làm việc tại Nhật Bản.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Đề Nghị Kỷ Luật Nguyên Giám Đốc Sở Lao Động / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!