Đề Xuất 11/2022 # Đào Tạo, Bồi Dưỡng Đội Ngũ Công Chức, Viên Chức Văn Thư, Lưu Trữ Đáp Ứng Yêu Cầu Chính Phủ Điện Tử Và Theo Tinh Thần Nghị Quyết Số 52 / 2023 # Top 20 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 11/2022 # Đào Tạo, Bồi Dưỡng Đội Ngũ Công Chức, Viên Chức Văn Thư, Lưu Trữ Đáp Ứng Yêu Cầu Chính Phủ Điện Tử Và Theo Tinh Thần Nghị Quyết Số 52 / 2023 # Top 20 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Đào Tạo, Bồi Dưỡng Đội Ngũ Công Chức, Viên Chức Văn Thư, Lưu Trữ Đáp Ứng Yêu Cầu Chính Phủ Điện Tử Và Theo Tinh Thần Nghị Quyết Số 52 / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Vậy yếu tố Con người sẽ thay đổi ra sao? Câu trả lời đó phụ thuộc rất nhiều vào tư duy, sự sẵn sàng, quyết tâm của mỗi công chức, viên chức đang công tác trong lĩnh vực văn thư, lưu trữ.

       Các nhà khoa học đã chỉ ra bốn yếu tố đóng vai trò then chốt trong hoạt động của một cơ quan, tổ chức, một ngành, một lĩnh vực cụ thể: Chính sách, Quy trình, Công nghệ và Con người. Trong đó, Con người là yếu tố trung tâm, thiết lập, chỉ đạo, điều phối và vận hành những yếu tố còn lại. Khi một trong bốn yếu tốt trên thay đổi, sẽ kéo theo sự thay đổi của ba yếu tố còn lại và dần dẫn sẽ thay đổi cả cơ quan, tổ chức, ngành, lĩnh vực sang một giai đoạn hoạt động mới.

       Đối với lĩnh vực văn thư, lưu trữ, trong những năm gần đây sự thay đổi yếu tố Công nghệ đã và đang tác động rất mạnh đến công tác văn thư lưu trữ. Đầu tiên là sự ra đời của máy tính, con người sử dụng máy tính để ghi lại và truyền đạt thông tin thay cho việc viết tay hay đánh máy chữ… sau đó, sự ra đời của Hệ thống máy tính nối mạng dẫn đến việc truyền đạt thông tin trong nội bộ cơ quan, tổ chức cũng được thực hiện thông qua mạng nội bộ… Tiếp đó, sự ra đời của Intenet như một cuộc cách mạng ào ạt, việc ghi tin, truyền đạt thông tin, xử lý thông tin và lưu trữ thông tin được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử và đang dần dần thay thế cho môi trường vật lý truyền thống. Thêm vào đó, công nghệ 4.0 với những ưu thế vượt trội về khả năng tích hợp, phân tích, nhận diện, chia sẻ và dự báo thông tin đã hoàn toàn lấn át những phương thức quản lý thông tin trên toàn thế giới. Nói cách khác, văn thư và lưu trữ điện tử đã và đang len lỏi, đan xen, thay thế một phần và rất có thể tiến tới thay thế hoàn toàn văn thư, lưu trữ truyền thống.

       Đối với Việt Nam, sự tác động của Công nghệ nói trên đã kéo theo sự thay đổi rõ ràng yếu tố Chính sách. Luật Giao dịch điện tử năm 2005 đã khẳng định giá trị pháp lý, giá trị làm chứng cứ, giá trị lịch sử của thông điệp dữ liệu. Tiếp đó, Nghị quyết 36c/NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2011 đưa ra vấn đề hiện đại hóa hành chính với chỉ tiêu: “đến năm 2020: 90% các văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện dưới dạng điện tử; cán bộ, công chức, viên chức thường xuyên sử dụng hệ thống thư điện tử trong công việc; bảo đảm dữ liệu điện tử phục vụ hầu hết các hoạt động trong các cơ quan; hầu hết các giao dịch của các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện trên môi trường điện tử, mọi lúc, mọi nơi, dựa trên các ứng dụng truyền thông đa phương tiện; hầu hết các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến”. Luật Lưu trữ năm 2011 cũng lần đầu quy định về tài liệu lưu trữ điện tử và cụ thể hóa trong Nghị định số 01/2013/NĐ-CP.

       Đặc biệt, Quyết định số 28/2018/QĐ-TTg ngày 12 tháng 7 năm 2018 đã quy định một cách chính thức việc gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan nhà nước qua Trục liên thông văn bản quốc gia; Thông tư số 01/2019/TT-BNV và Thông tư số 02/2019/TT-BNV bước đầu đặt nền móng cho công tác văn thư, lưu trữ điện tử. Gần đây nhất, Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2020 đã quy định “Cơ quan, tổ chức có hệ thống đáp ứng yêu cầu của pháp luật sử dụng và lưu văn bản điện tử thay cho văn bản giấy”. Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày ngày 27 tháng 9 năm 2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong đó đã chỉ rõ những tồn tại, hạn chế chung của quốc gia như: thể chế chính sách còn nhiều hạn chế, cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi số…. và nhấn mạnh việc chủ động áp dụng công nghệ số trong đào tạo nguồn nhân lực.

       Như vậy, có thể nói, sự thay đổi yếu tố Công nghệ đã dấn đến sự thay đổi Chính sách văn thư, lưu trữ. Từ đó, dẫn đến những thay đổi về Quy trình nghiệp vụ văn thư lưu trữ, như: soạn thảo và ban hành văn bản điện tử, quản lý văn bản, lập hồ sơ, lưu trữ hồ sơ, quản lý và sử dụng con dấu (có thêm thiết bị lưu khóa bí mật của cơ quan, tổ chức).

       Vậy yếu tố Con người sẽ thay đổi ra sao? Câu trả lời đó phụ thuộc rất nhiều vào tư duy, sự sẵn sàng, quyết tâm của mỗi công chức, viên chức đang công tác trong lĩnh vực văn thư, lưu trữ và cụ thể là đối với từng đảng viên trong nhiệm kỳ 2020 – 2025. Sự thay đổi nguồn nhân lực là tất yếu theo đúng quy trình hoạt động và vận hành của cơ quan, tổ chức, ngành, lĩnh vực khi Công nghệ, Chính sách và Quy trình đã thay đổi. Điều đó đặt ra nhiệm vụ quan trọng đối với Đảng ủy Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước nhiệm kỳ tới trong việc xây dựng chiến lược, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác văn thư, lưu trữ không những trong phạm vi Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước mà còn tham mưu Bộ Nội vụ trong việc xây dựng chương trình bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng đối với đội ngũ công chức, viên chức văn thư, lưu trữ trong toàn quốc.

       Một là: Đảng ủy Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước cần định hướng xây dựng tiêu chuẩn đối với từng vị trí việc làm tại Cục, các đơn vị thuộc Cục, vị trí việc làm văn thư, lưu trữ tại các cơ quan, tổ chức đáp ứng yêu cầu văn thư, lưu trữ điện tử. Trong đó, cần bổ sung yêu cầu cụ thể về kỹ năng công nghệ thông tin, kỹ năng sử dụng các phần mềm quản lý văn bản và điều hành, kỹ năng xử lý thông tin trên môi trường mạng, kỹ năng sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội, kỹ năng thực hiện các nghiệp vụ lưu trữ tại Lưu trữ cơ quan, Lưu trữ lịch sử trên môi trường mạng…  đối với công chức, viên chức văn thư, lưu trữ

       Hai là: Căn cứ vào tiêu chuẩn vị trí việc làm, rà soát đánh giá tổng thể đội ngũ công chức, viên chức của Cục, các đơn vị thuộc Cục; công chức, viên chức đang làm công tác văn thư, lưu trữ tại các cơ quan, tổ chức nhà nước. Từ đó, Đảng ủy Cục chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực của Cục, các đơn vị thuộc Cục; đồng thời tham mưu Bộ Nội vụ xây dựng Đề án đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức văn thư, lưu trữ cho các cơ quan, tổ chức nhà nước trong phạm vi toàn quốc.

       Ba là: Giao nhiệm vụ cho mỗi đảng viên là công chức, viên chức, người lao động tiên phong, chủ động trong việc tự đổi mới, từ việc thay đổi tư duy đến việc nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng công nghệ thông tin, kỹ năng giải quyết công việc trên môi trường mạng dần dần tạo lập thói quen mới, thích ứng và đáp ứng yêu cầu quản lý và thực hiện công tác văn thư, lưu trữ trên môi trường mạng. Bên cạnh đó, đảng viên là công chức, viên chức cần nghiên cứu, tham mưu cho các cấp lãnh đạo các giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số tại cơ quan, đơn vị, lĩnh vực công tác.

       Tôi tin tưởng rằng, với quyết tâm đổi mới, sáng tạo, đoàn kết xây dựng văn thư, lưu trữ điện tử đáp ứng yêu cầu của Chính phủ điện tử, Đại hội Đảng bộ Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước nhiệm kỳ 2020 – 2025 nhất định sẽ đặt ra những mục tiêu cụ thể, khả thi trong Nghị quyết và Đảng ủy Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước sẽ từng bước lãnh đạo, chỉ đạo Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đề ra.

TS. Nguyễn Thị Chinh (Trung tâm Khoa học kỹ thuật Văn thư – Lưu trữ)

Học Viện Tư Pháp Đào Tạo Đội Ngũ Luật Sư Đáp Ứng Yêu Cầu Hội Nhập Quốc Tế / 2023

Lãnh đạo Bộ Tư pháp, Học viện Tư pháp chụp ảnh kỷ niệm tại buổi lễ khai giảng lớp đào tạo luật sư phục vụ hội nhập quốc tế.

Tại lễ khai giảng, ông Trần Minh Tiến – Trưởng phòng Đào tạo và Công tác học viên (Học viện Tư pháp) đã công bố Quyết định mở lớp đối với khóa học và báo cáo sơ bộ khóa học đào tạo luật sư phục vụ hội nhập quốc tế.

Theo đó, Khóa I có 31 học viên, học theo hình thức tín chỉ và thời gian đào tạo là 1 năm. Tham gia khóa học, các học viên sẽ được trang bị các kỹ năng chuyên sâu trong lĩnh vực pháp luật quốc tế, quy tắc đạo đức nghề nghiệp để đủ trình độ, kỹ năng tham gia các vụ tranh chấp quốc tế.

Trong khi đó, thực tế tranh chấp quốc tế ngày càng nhiều, nhu cầu sử dụng luật sư ngày càng lớn mà chất lượng đội ngũ luật sư còn khá khiêm tốn, dẫn tới nhiều cơ quan, tổ chức phải thuê công ty luật nước ngoài tư vấn với chi phí cao, thiếu tính chủ động, tính bảo mật thông tin thấp.

Ông Lê Tiến Châu đánh giá cao những cố gắng của Học viện Tư pháp sau một thời gian dài chuẩn bị, nghiên cứu, xây dựng Chương trình khung đào tạo Luật sư phục vụ hội nhập quốc tế và triển khai nhiều hoạt động cụ thể.

Để khóa học đạt hiệu quả tốt nhất, ông Châu đề nghị Học viện Tư pháp cần lấy chất lượng đầu ra làm thước đo cho hiệu quả của chương trình đào tạo; đồng thời tiếp tục rà soát, điều chỉnh các nguồn lực để triển khai hiệu quả chương trình học, không ngừng nâng cao năng lực cho đội ngũ giảng viên, tạo các chính sách thu hút luật sư giàu kinh nghiệm về thỉnh giảng, từng bước xây dựng hệ thống giáo trình, đổi mới phương pháp giảng dạy, tiếp cận từng bước với hệ thống đào tạo tiên tiến của các nước trên thế giới…

Thứ trưởng Lê Tiến Châu hy vọng Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Câu lạc bộ Luật sư thương mại quốc tế, các tổ chức hành nghề luật sư sẽ tăng cường phối hợp với Học viện Tư pháp trong các hoạt động cụ thể để cùng nhau phát triển nghề luật sư.

“Nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu trong năm 2017”

Cảm ơn sự quan tâm, tin tưởng của lãnh đạo Bộ Tư pháp, Giám đốc Học viện Tư pháp Đoàn Trung Kiên khẳng định Học viện sẽ tập trung mọi nguồn lực để triển khai thành công khóa học này cũng như các khóa tiếp theo.

“Đây là một mô hình mới, nhiệm vụ mới của Học viện Tư pháp. Trong gần 3 năm qua, Học viện đã xúc tiến nhiều hoạt động hợp tác trong nước và nước ngoài để xây dựng chương trình đào tạo và từng bước chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc tổ chức đào tạo sau khi có chương trình. Đặc biệt từ năm 2016 đến nay, thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Tư pháp, Học viện Tư pháp đã hoàn thành việc xây dựng chương trình đào tạo luật sư phục vụ hội nhập quốc tế, trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Chương trình khung và trên cơ sở đó Học viện xây dựng, ban hành Chương trình đào tạo chi tiết”-ông Kiên cho hay.

Giám đốc Học viện Tư pháp- ông Đoàn Trung Kiên phát biểu tại lễ khai giảng.

Bên cạnh đó, ông Đoàn Trung Kiên cũng đã căn dặn các học viên mới nhập trường: “Các em phải xác định tâm thế, mục tiêu và nhiệm vụ của mình, nhanh chóng làm quen với môi trường, phương thức đào tạo của Học viện và lựa chọn phương pháp học tập một cách chủ động, tích cực. Lãnh đạo Học viện, các thầy cô giáo mong muốn và kỳ vọng các em sẽ học tập tốt, rèn luyện tốt trong cả khóa học và khi kết thúc khóa học sẽ đạt kết quả tốt theo đúng mục tiêu và chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo”.

Thế Kha

Chính Phủ Ban Hành Kế Hoạch Tinh Giản Biên Chế Và Cơ Cấu Lại Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức / 2023

Theo đó, Kế hoạch nhằm tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị), nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, thu hút những người có đức, có tài vào hoạt động công vụ trong các cơ quan, tổ chức hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập của Nhà nước, đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Từ đó, góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tiết kiệm ngân sách, giảm chi thường xuyên, cải cách tiền lương.

Kế hoạch cũng xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu để các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập từ Trung ương đến địa phương xây dựng kế hoạch tổ chức triển khai, thực hiện và kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết, bảo đảm đạt được mục tiêu và hiệu quả, kết quả của công tác tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Bảo đảm đến năm 2021 không tăng tổng biên chế

Kế hoạch nêu rõ, kiên trì chủ trương tinh giản biên chế cán bộ, công chức, viên chức, bảo đảm đến năm 2021, về cơ bản không tăng tổng biên chế của Bộ, ngành ở Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương so với biên chế được giao của năm 2015. Trường hợp phải thành lập tổ chức mới hoặc giao nhiệm vụ mới thì Bộ, ngành ở Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tự cân đối, điều chỉnh trong tổng biên chế hiện có.

Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo thành lập mới trường, tăng lớp, tăng học sinh; lĩnh vực y tế thành lập mới tổ chức, tăng quy môn giường bện…, có thể bổ sung biên chế, nhưng phải quản lý chặt chẽ trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp.

Giữ ổn định biên chế của các tổ chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp đến năm 2016. Từ năm 2017, thực hiện khoán hoặc hỗ trợ kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước giao.

Từng Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan hành chính nhà nước khác ở Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải xây dựng kế hoạch tinh giản biên chế trong 7 năm (2015 – 2021) và từng năm, trong đó phải xác định tỷ lệ tinh giản biên chế tối thiểu là 10% biên chế của từng Bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập có nguồn thu sự nghiệp, khuyến khích đẩy mạnh chuyển đổi thêm 10% số lượng viên chức sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và xã hội hóa thay thế nguồn trả lương từ ngân sách nhà nước bằng việc trả lương từ nguồn thu sự nghiệp.

Tuyển dụng không quá 50% số cán bộ, công chức, viên chức đã ra khỏi biên chế

Chỉ tuyển dụng số cán bộ, công chức, viên chức mới không quá 50% số cán bộ, công chức, viên chức đã ra khỏi biên chế sau khi thực hiện tinh giản biên chế và không quá 50% số biên chế của cán bộ, công chức, viên chức đã giải quyết chế độ nghỉ hưu đúng tuổi hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật trong các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập từ Trung ương đến địa phương.

Hàng năm, giảm 50% số biên chế thuộc diện tinh giản và giảm 50% biên chế của số cán bộ, công chức, viên chức nghỉ hưu đúng tuổi hoặc thôi việc theo quy định trong các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập từ Trung ương đến địa phương.

Hoàn thành việc xác định vị trí việc làm trong các cơ quan, tổ chức hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập để làm căn cứ xác định biên chế phù hợp.

Rà soát trình độ đào tạo, năng lực của công chức, viên chức để có kế hoạch sắp xếp, bố trí sử dụng phù hợp với vị trí việc làm và yêu cầu nhiệm vụ. Có biện pháp đồng bộ để tinh giản biên chế đối với những cán bộ, công chức, viên chức không hoàn thành nhiệm vụ, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, không đạt yêu cầu tiêu chuẩn quy định về phẩm chất, năng lực, trình độ đào tạo, sức khỏe; những người dôi dư do sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự; những người dôi dư do cơ cấu lại cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm.

Đẩy mạnh kiêm nhiệm đối với một số chức danh của cán bộ, công chức

Đẩy mạnh thực hiện kiêm nhiệm đối với một số chức danh của cán bộ, công chức từ Trung ương đến cấp xã, nhất là kiêm nhiệm đối với các chức danh người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và ở thôn, bản, tổ dân phố. Khoán chi phí chi trả phụ cấp để khuyến khích giảm dần số lượng những người hoạt động không chuyên trách và tăng thu nhập của cán bộ, công chức cấp xã. Sớm sửa đổi quy định về cán bộ, công chức cấp xã theo hướng tinh gọn, giảm bớt chức danh.

Thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ cấp xã khi hết nhiệm kỳ mà không đủ điều kiện tái cử; xây dựng cơ chế quản lý người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và ở thôn, tổ dân phố gắn với phát huy quyền làm chủ, giám sát của nhân dân và đẩy mạnh thực hiện hình thức tự quản tại cộng đồng dân cư.

Tổ chức thực hiện và tăng cường kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện tinh giản biên chế, thực hiện chế độ, chính sách nghỉ hưu đúng tuổi đối với cán bộ, công chức, viên chức bảo đảm đúng quy định, chế độ chính sách và mục tiêu đề ra.

Bổ nhiệm chức danh chuyên gia, chuyên viên cao cấp

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, chức vụ công chức, viên chức từ thứ trưởng, chuyên gia, chuyên viên cao cấp và tương đương trở xuống theo hướng chú trọng phẩm chất, trình độ, năng lực. Mỗi tiêu chuẩn của chức vụ lãnh đạo, quản lý đều phải quy định ngạch công chức hoặc chức danh nghề nghiệp của viên chức tương đương.

Chỉ bổ nhiệm chức danh chuyên gia, chuyên viên cao cấp đối với công chức làm nhiệm vụ nghiên cứu, tham mưu tổng hợp chiến lược ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan hành chính nhà nước khác ở Trung ương, các cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân, Hộ đồng nhân dân cấp tỉnh theo quy định của pháp luật.

Tin: Anh Cao

Nghị Định Bồi Dưỡng, Đào Tạo Công Chức Nghi Dinh Ve Dao Tao Boi Duong Cong Chuc Doc / 2023

CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 18/2010/NĐ-CP NGÀY 05 THÁNG 03 NĂM 2010

VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Cán bộ, công chức ngày 13 tháng 11 năm 2008;

Căn cứ Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Nghị định này quy định về chế độ, nội dung, chương trình, tổ chức và quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức.

2. Nghị định này áp dụng đối với công chức quy định tại Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ quy định những người là công chức và công chức cấp xã quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.

Điều 2. Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng công chức

1. Trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ, công vụ.

2. Góp phần xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp có đủ năng lực xây dựng nền hành chính tiên tiến, hiện đại.

Điều 3. Nguyên tắc đào tạo, bồi dưỡng

1. Đào tạo, bồi dưỡng phải căn cứ vào vị trí việc làm, tiêu chuẩn của ngạch công chức, tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý và nhu cầu xây dựng, phát triển nguồn nhân lực của cơ quan, đơn vị.

2. Bảo đảm tính tự chủ của cơ quan quản lý, đơn vị sử dụng công chức trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng.

3. Kết hợp cơ chế phân cấp và cơ chế cạnh tranh trong tổ chức đào tạo, bồi dưỡng.

4. Đề cao vai trò tự học và quyền của công chức trong việc lựa chọn chương trình bồi dưỡng theo vị trí việc làm.

5. Bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả.

Điều 4. Chế độ đào tạo, bồi dưỡng

1. Hướng dẫn tập sự đối với công chức trong thời gian tập sự.

2. Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức.

3. Đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý.

4. Bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu kiến thức, kỹ năng chuyên ngành hàng năm (thời gian thực hiện là 01 tuần/01 năm; một tuần được tính bằng 05 ngày học, một ngày học 08 tiết).

Thời gian tham gia các khóa bồi dưỡng khác nhau được cộng dồn.

Điều 5. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ sau đây được hiểu như sau:

NỘI DUNG, CHƯƠNG TRÌNH, CHỨNG CHỈ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG

Điều 6. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng

1. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng ở trong nước:

a) Lý luận chính trị;

b) Chuyên môn, nghiệp vụ;

c) Kiến thức pháp luật; kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước và quản lý chuyên ngành;

d) Tin học, ngoại ngữ, tiếng dân tộc.

2. Nội dung bồi dưỡng ở ngoài nước:

a) Kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng quản lý hành chính nhà nước và quản lý chuyên ngành;

b) Kiến thức, kinh nghiệm hội nhập quốc tế.

Điều 7. Các loại chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng và thời gian thực hiện

1. Loại chương trình, tài liệu bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch thực hiện trong thời gian tối đa là 08 tuần, bao gồm:

a) Chương trình, tài liệu bồi dưỡng ngạch cán sự và tương đương;

b) Chương trình, tài liệu bồi dưỡng ngạch chuyên viên và tương đương;

c) Chương trình, tài liệu bồi dưỡng ngạch chuyên viên chính và tương đương;

d) Chương trình, tài liệu bồi dưỡng ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương.

2. Loại chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý thực hiện trong thời gian tối đa là 04 tuần, bao gồm:

a) Chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng lãnh đạo cấp phòng và tương đương;

b) Chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng lãnh đạo cấp huyện và tương đương;

c) Chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng lãnh đạo cấp sở và tương đương;

d) Chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng lãnh đạo cấp vụ và tương đương;

đ) Chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng Thứ trưởng và tương đương.

3. Loại chương trình, tài liệu bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành thực hiện trong thời gian tối đa là 02 tuần, bao gồm:

a) Các chương trình, tài liệu bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chuyên ngành;

b) Các chương trình, tài liệu bồi dưỡng cập nhật theo vị trí việc làm.

Điều 8. Yêu cầu đối với việc biên soạn chương trình, tài liệu

1. Chương trình, tài liệu được biên soạn căn cứ vào tiêu chuẩn của ngạch công chức, chức vụ lãnh đạo, quản lý và yêu cầu nhiệm vụ.

2. Nội dung các chương trình, tài liệu phải bảo đảm kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng thực hành, tính liên thông, không trùng lặp.

3. Chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng phải được bổ sung, cập nhật phù hợp với tình hình thực tế.

Điều 9. Quản lý chương trình đào tạo, bồi dưỡng

1. Bộ Nội vụ quản lý chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý.

2. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quản lý chương trình bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành.

3. Nhiệm vụ quản lý chương trình gồm:

a) Tổ chức biên soạn;

b) Tổ chức thẩm định, đánh giá;

c) Phê duyệt, ban hành và hướng dẫn thực hiện.

Điều 10. Tổ chức biên soạn tài liệu đào tạo, bồi dưỡng

1. Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức biên soạn tài liệu bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương; tài liệu đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp huyện, cấp sở, cấp vụ và tương đương trở lên theo chương trình do Bộ Nội vụ ban hành.

2. Học viện, Trường, Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi chung là cơ sở đào tạo, bồi dưỡng) tổ chức biên soạn tài liệu bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch cán sự và tương đương, ngạch chuyên viên và tương đương, ngạch chuyên viên chính và tương đương; tài liệu đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp phòng theo chương trình do Bộ Nội vụ ban hành; tài liệu bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành.

3. Trường Chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức biên soạn tài liệu bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch cán sự và tương đương, ngạch chuyên viên và tương đương, ngạch chuyên viên chính và tương đương, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp phòng theo chương trình do Bộ Nội vụ ban hành; phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ biên soạn tài liệu bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành.

Điều 11. Tổ chức thẩm định chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng

1. Cơ quan quản lý chương trình, biên soạn tài liệu tổ chức thẩm định chương trình, tài liệu bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý quy định tại khoản 1, 2 Điều 7 Nghị định này.

2. Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thủ tục đánh giá chương trình, tài liệu bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành quy định tại khoản 3 Điều 7 Nghị định này trước khi đưa vào sử dụng.

3. Bộ Nội vụ hướng dẫn trình tự, thủ tục, nội dung thẩm định, đánh giá chương trình, tài liệu quy định tại khoản 1, 2 Điều này.

Điều 12. Chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng công chức

1. Cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cấp chứng chỉ các chương trình đào tạo, bồi dưỡng được giao thực hiện.

2. Chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng công chức gồm:

a) Chứng chỉ chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức;

b) Chứng chỉ chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý;

c) Chứng chỉ chương trình bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành.

3. Chứng chỉ chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, Chứng chỉ chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý là một trong những căn cứ khi xem xét điều kiện bổ nhiệm vào ngạch công chức hoặc bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý; Chứng chỉ chương trình bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành là một trong những căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ trong năm của công chức.

4. Chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng công chức được dùng theo mẫu chung thống nhất trong cả nước.

Bộ Nội vụ quy định mẫu và hướng dẫn việc sử dụng chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng công chức.

TỔ CHỨC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG VÀ GIẢNG VIÊN

TỔ CHỨC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG

Điều 13. Phân công tổ chức đào tạo, bồi dưỡng

1. Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh có nhiệm vụ:

a) Tổ chức thực hiện chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương;

b) Tổ chức thực hiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp huyện, cấp sở, cấp vụ và tương đương trở lên;

c) Tổ chức thực hiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng khác do cấp có thẩm quyền giao;

d) Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phương pháp sư phạm cho giảng viên Trường Chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; giảng viên các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ.

2. Trường Chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có nhiệm vụ:

a) Tổ chức thực hiện chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch cán sự, ngạch chuyên viên, ngạch chuyên viên chính và tương đương;

b) Tổ chức thực hiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp phòng và tương đương;

c) Tổ chức thực hiện chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh công chức cấp xã và các đối tượng khác do cấp có thẩm quyền giao.

3. Các Học viện, Trường, Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có nhiệm vụ:

a) Tổ chức thực hiện chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch cán sự, ngạch chuyên viên, ngạch chuyên viên chính và tương đương;

b) Tổ chức thực hiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp phòng và tương đương;

c) Tổ chức thực hiện chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh công chức cấp xã theo chuyên môn nghiệp vụ và các đối tượng khác do cấp có thẩm quyền giao.

Điều 14. Phương pháp đào tạo, bồi dưỡng

Đào tạo, bồi dưỡng bằng phương pháp tích cực, phát huy tính tự giác, chủ động và tư duy sáng tạo của người học, tăng cường trao đổi thông tin, kiến thức và kinh nghiệm giữa giảng viên với học viên và giữa các học viên.

Điều 15. Hình thức tổ chức đào tạo, bồi dưỡng

2. Bán tập trung.

3. Vừa làm vừa học.

Điều 16. Đánh giá chất lượng đào tạo, bồi dưỡng

1. Đánh giá chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nhằm cung cấp thông tin về mức độ nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ, công vụ của công chức sau khi đào tạo, bồi dưỡng.

2. Đánh giá chất lượng đào tạo, bồi dưỡng phải bảo đảm tính công khai, minh bạch, khách quan, trung thực.

3. Nội dung đánh giá:

a) Mức độ phù hợp giữa nội dung chương trình với yêu cầu tiêu chuẩn ngạch, chức vụ lãnh đạo, quản lý và yêu cầu vị trí việc làm;

b) Năng lực của giảng viên và sự phù hợp của phương pháp đào tạo, bồi dưỡng với nội dung chương trình và người học;

c) Năng lực tổ chức đào tạo, bồi dưỡng của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng;

d) Mức độ tiếp thu kiến thức, kỹ năng của công chức và thực tế áp dụng vào việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.

4. Việc đánh giá chất lượng đào tạo, bồi dưỡng do cơ quan quản lý, đơn vị sử dụng công chức, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Trường Chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện hoặc thuê cơ quan đánh giá độc lập.

Điều 17. Giảng viên đào tạo, bồi dưỡng

1. Giảng viên trong nước: giảng viên của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, giảng viên kiêm nhiệm, người được mời thỉnh giảng.

2. Giảng viên nước ngoài.

Điều 18. Chính sách đối với giảng viên

1. Chế độ, chính sách đối với giảng viên Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh do cấp có thẩm quyền quy định.

2. Giảng viên cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Trường Chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được hưởng chế độ, chính sách như giảng viên đại học.

3. Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể tiêu chuẩn, chế độ, chính sách đối với giảng viên cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Trường Chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và giảng viên nước ngoài.

QUYỀN LỢI, TRÁCH NHIỆM CỦA CÔNG CHỨC

VÀ KINH PHÍ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG

Điều 19. Trường hợp công chức được cử đi đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học

1. Cơ quan, đơn vị được tổ chức, sắp xếp lại.

2. Công chức đã được bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ lãnh đạo mà chưa đáp ứng tiêu chuẩn trình độ đào tạo theo quy định.

Điều 20. Điều kiện để công chức được cử đi đào tạo sau đại học

1. Có thời gian công tác từ đủ 5 năm trở lên.

2. Chuyên ngành đào tạo phù hợp với vị trí việc làm.

3. Không quá 40 tuổi tính từ thời điểm được cử đi đào tạo.

4. Có cam kết tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, công vụ sau khi hoàn thành chương trình đào tạo trong thời gian ít nhất gấp 03 lần thời gian đào tạo.

5. Có ít nhất 03 năm liên tục hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Điều 21. Quyền lợi của công chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng

1. Công chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng trong nước:

a) Được cơ quan quản lý, sử dụng bố trí thời gian và kinh phí theo quy định;

b) Được tính thời gian đào tạo, bồi dưỡng vào thời gian công tác liên tục;

c) Được hưởng nguyên lương, phụ cấp trong thời gian đào tạo, bồi dưỡng;

d) Được biểu dương, khen thưởng về kết quả xuất sắc trong đào tạo, bồi dưỡng.

2. Công chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài được hưởng quyền lợi quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và chế độ khác theo quy định của pháp luật.

Điều 22. Trách nhiệm thực hiện chế độ đào tạo, bồi dưỡng

1. Thực hiện chế độ đào tạo, bồi dưỡng theo quy định tại Điều 4 Nghị định này.

2. Thực hiện nghiêm chỉnh quy chế đào tạo, bồi dưỡng và chịu sự quản lý của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trong thời gian tham gia khóa học.

Điều 23. Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng

Điều 24. Đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng

Công chức đang tham gia khóa đào tạo, bồi dưỡng mà tự ý bỏ học, thôi việc hoặc đã học xong nhưng chưa phục vụ đủ thời gian theo cam kết mà tự ý bỏ việc phải đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng.

Bộ Nội vụ hướng dẫn cụ thể Điều này.

QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG

Điều 25. Nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Nội vụ

1. Xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật, chế độ, chính sách về đào tạo, bồi dưỡng công chức.

2. Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức trình cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc ban hành theo thẩm quyền; tổ chức, hướng dẫn thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng sau khi được ban hành; theo dõi, tổng hợp kết quả đào tạo, bồi dưỡng công chức của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

3. Xây dựng kế hoạch và tổ chức bồi dưỡng công chức ở ngoài nước theo thẩm quyền.

4. Tổng hợp nhu cầu, đề xuất kinh phí đào tạo, bồi dưỡng hàng năm, trung hạn, dài hạn; hướng dẫn các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện sau khi được Chính phủ phê duyệt.

5. Quản lý chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý.

6. Quy định tiêu chuẩn cơ sở đào tạo, bồi dưỡng.

7. Thanh tra, kiểm tra hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức.

8. Tổ chức các hoạt động thi đua, khen thưởng trong đào tạo, bồi dưỡng công chức.

9. Hướng dẫn việc tổ chức bồi dưỡng công chức ở ngoài nước bằng nguồn ngân sách nhà nước.

Điều 26. Nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

1. Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức thuộc phạm vi quản lý.

2. Tổ chức thực hiện chế độ đào tạo, bồi dưỡng theo quy định; báo cáo kết quả hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức hàng năm để Bộ Nội vụ theo dõi, tổng hợp.

3. Cử công chức đi đào tạo, bồi dưỡng theo thẩm quyền.

4. Tổ chức các khóa bồi dưỡng công chức ở ngoài nước.

5. Tổ chức quản lý và biên soạn các chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng công chức thuộc phạm vi trách nhiệm được giao.

6. Quản lý cơ sở đào tạo, bồi dưỡng và đội ngũ giảng viên trong phạm vi thẩm quyền.

7. Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chế độ, chính sách đào tạo, bồi dưỡng trong phạm vi thẩm quyền.

Điều 27. Nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Tài chính

1. Cân đối, bố trí kinh phí đào tạo, bồi dưỡng hàng năm, trung hạn, dài hạn, trong nước và ở ngoài nước trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

2. Hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý, sử dụng kinh phí đào tạo, bồi dưỡng.

Điều 28. Nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

1. Xây dựng, ban hành chế độ khuyến khích công chức không ngừng học tập nâng cao trình độ, năng lực công tác; bố trí kinh phí bảo đảm hoạt động đào tạo, bồi dưỡng.

2. Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thuộc phạm vi quản lý.

3. Tổ chức thực hiện chế độ đào tạo, bồi dưỡng theo quy định; báo cáo kết quả hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức hàng năm để Bộ Nội vụ theo dõi, tổng hợp.

4. Tổ chức quản lý và biên soạn chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng trong phạm vi trách nhiệm được giao.

5. Quản lý cơ sở đào tạo, bồi dưỡng và đội ngũ giảng viên trong phạm vi thẩm quyền.

6. Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chế độ, chính sách đào tạo, bồi dưỡng trong phạm vi thẩm quyền.

Điều 29. Trách nhiệm của đơn vị sử dụng công chức

1. Thực hiện chế độ hướng dẫn tập sự.

2. Đề xuất việc biên soạn và lựa chọn chương trình đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với vị trí việc làm của công chức.

3. Tạo điều kiện để công chức thực hiện chế độ đào tạo, bồi dưỡng theo quy định.

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 30. Hiệu lực thi hành

1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 5 năm 2010.

2. Bãi bỏ Chương III Nghị định số 54/2005/NĐ-CP ngày 19 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ về chế độ thôi việc, chế độ bồi thường chi phí đào tạo đối với cán bộ, công chức và các quy định trước đây trái với quy định của Nghị định này.

Điều 31. Trách nhiệm thi hành

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Thủ trưởng cơ quan quản lý, đơn vị sử dụng công chức chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

TM. CHÍNH PHỦ

Nguyễn Tấn Dũng

Bạn đang đọc nội dung bài viết Đào Tạo, Bồi Dưỡng Đội Ngũ Công Chức, Viên Chức Văn Thư, Lưu Trữ Đáp Ứng Yêu Cầu Chính Phủ Điện Tử Và Theo Tinh Thần Nghị Quyết Số 52 / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!