Đề Xuất 1/2023 # Đại Hội Đoàn Luật Sư Tỉnh Quảng Ninh # Top 3 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 1/2023 # Đại Hội Đoàn Luật Sư Tỉnh Quảng Ninh # Top 3 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Đại Hội Đoàn Luật Sư Tỉnh Quảng Ninh mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tới dự và chỉ đạo Đại hội có bà Nguyễn Thị Quỳnh Anh – Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam; bà Đặng Kim Hoa – Cục Phó Cục Bổ trợ Tư pháp (Bộ Tư pháp); ông Cao Tường Huy – Ủy viên Ban thường vụ Tỉnh Ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh; ông Nghiêm Xuân Cường – Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh và đại diện lãnh đạo các ban, ngành thuộc Tỉnh Ủy, HĐND, UBND tỉnh Quảng Ninh, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, đại diện Công an tỉnh Quảng Ninh. Đại diện một số Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng, tỉnh Vĩnh Phúc, tỉnh Hải Dương, tỉnh Bắc Giang, tỉnh Bắc Ninh… cũng đã đến tham dự.

Tại Đại hội, Luật sư Lê Cao Long – Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Ninh khóa VIII (2013-2018) đã trình bày báo cáo tổng kết nhiệm kỳ và đưa ra phương hướng nhiệm vụ cho khóa IX (nhiệm kỳ 2018-2023).

Trong nhiệm kỳ 2013 – 2018, Đoàn Luật sư tỉnh đã tổ chức, triển khai tốt các hoạt động của đoàn theo đúng quy định. Số lượng luật sư thành viên từ 55 luật sư năm 2014 đến nay tăng lên 85 luật sư. Số lượng tổ chức hành nghề luật sư cũng tăng thêm 8 tổ chức. Bên cạnh việc phát triển về số lượng, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp và bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ luật sư cũng được quan tâm thực hiện một cách thường xuyên. Qua đó góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý của luật sư. Từ năm 2014 đến nay, đội ngũ luật sư trực thuộc Đoàn Luật sư tỉnh đã tham gia bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và cung cấp các dịch vụ pháp lý cho cá nhân, tổ chức trong gần 5.200 vụ việc.

Thay mặt Liên Đoàn Luật sư Việt Nam, Luật sư Nguyễn Thị Quỳnh Anh – Phó Chủ tịch Liên Đoàn đã phát biểu chỉ đạo và biểu dương những thành tích của Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Ninh, Đoàn đã tổ chức Đại hội theo đúng hướng dẫn của Liên Đoàn Luật sư Việt Nam.

Phát biểu tại đại hội, ông Cao Tường Huy – UVBTV Tỉnh Ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh biểu dương và ghi nhận những đóng góp của Đoàn Luật sư tỉnh đối với sự phát triển kinh tế – xã hội chung của tỉnh. Ông cũng đề nghị trong nhiệm kỳ tới, Đoàn Luật sư tỉnh cần phát huy những kết quả đã đạt được, tiếp tục phát triển đội ngũ luật sư cả về số lượng và trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức để có thể đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Đặc biệt là trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế; tiếp tục mở rộng hoạt động tại các địa phương vùng sâu, vùng xa; tích cực tham gia vào các hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo, trợ giúp pháp lý trên địa bàn. Đẩy mạnh công tác xây dựng, phát triển Đảng trong các tổ chức hành nghề luật sư trực thuộc Đoàn Luật sư tỉnh.

Đại hội đã bầu ra Ban Chủ nhiệm gồm 5 Luật sư; Hội đồng khen thưởng – kỉ luật gồm 5 Luật sư; bầu đại biểu đi dự Đại hội Luật sư toàn quốc gồm 2 Luật sư chính thức và 2 Luật sư dự khuyết, là những Luật sư có nhiều đóng góp cho sự phát triển của Đoàn cũng như của tỉnh Quảng Ninh. Với khẩu hiệu “Đoàn kết – Trí tuệ – Bảo vệ công lý”, Đại hội khóa IX nhiệm kỳ 2018-2023 của Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Ninh đã thành công tốt đẹp.

Theo Hồ Hữu Đức: https://vanhoadoanhnghiepvn.vn/dai-hoi-doan-luat-su-tinh-quang-ninh/

và Minh Toàn – Hữu Tuân: http://www.qtv.vn/xa-hoi/201904/dai-hoi-doan-luat-su-tinh-quang-ninh-nhiem-ky-2018-2023-2438033/

Liên đoàn Luật sư Việt Nam

Đại Hội Đoàn Luật Sư Tỉnh Quảng Ninh Nhiệm Kỳ 2022 – 2023

 Ngày 20/4, Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Ninh đã tổ chức đại hội lần thứ IX, nhiệm kỳ 2018 – 2023. Đến dự có đồng chí Cao Tường Huy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh.

Trong nhiệm kỳ 2013 – 2018, Đoàn Luật sư tỉnh đã tổ chức, triển khai tốt các hoạt động của đoàn theo đúng quy định. Số lượng luật sư thành viên từ 55 luật sư năm 2014 đến nay tăng lên 85 luật sư. Số lượng tổ chức hành nghề luật sư cũng tăng thêm 8 tổ chức. Bên cạnh việc phát triển về số lượng, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp và bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ luật sư cũng được quan tâm thực hiện một cách thường xuyên. Qua đó góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý của luật sư. Từ năm 2014 đến nay, đội ngũ luật sư trực thuộc Đoàn Luật sư tỉnh đã tham gia bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và cung cấp các dịch vụ pháp lý cho cá nhân, tổ chức trong gần 5.200 vụ việc.

Phát biểu tại đại hội, đồng chí Cao Tường Huy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh biểu dương và ghi nhận những đóng góp của Đoàn Luật sư tỉnh đối với sự phát triển kinh tế – xã hội chung của tỉnh. Đồng chí cũng đề nghị trong nhiệm kỳ tới, Đoàn Luật sư tỉnh phát huy những kết quả đã đạt được, tiếp tục phát triển đội ngũ luật sư cả về số lượng và trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức để có thể đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Đặc biệt là trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế. Đồng thời tiếp tục mở rộng hoạt động tại các địa phương vùng sâu, vùng xa. Tích cực tham gia vào các hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo, trợ giúp pháp lý trên địa bàn. Đẩy mạnh công tác xây dựng, phát triển Đảng trong các tổ chức hành nghề luật sư trực thuộc Đoàn Luật sư tỉnh.

Đồng chí Cao Tường Huy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu chỉ đạo

Đại hội đã bầu Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Ninh nhiệm kỳ 2018 – 2023. Luật sư Lê Cao Long tiếp tục được bầu làm Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh nhiệm kỳ 2018 – 2023.

Minh Toàn – Hữu Tuân

Nội Quy Đoàn Luật Sư Tỉnh Quảng Ninh

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Ninh, tiền thân là Đoàn bào chữa viên nhân dân được Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh thành lập tại Quyết định số 439/QĐ-UB ngày 12/7/1985. Ngày 22/8/1989, UBND tỉnh Quảng Ninh ra Quyết định số 442/QĐ-UB thành lập Đoàn luật sư tỉnh Quảng Ninh. Trong quá trình thành lập và phát triển, dưới sự lãnh đạo Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh; được sự quan tâm, hỗ trợ của Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Quảng Ninh, các cơ quan, ban ngành của tỉnh và cùng với sự nỗ lực không ngừng của các thành viên trong Đoàn, Đoàn luật sư tỉnh Quảng Ninh ngày càng lớn mạnh về số lượng và chất lượng. Các thành viên của Đoàn đã góp phần bảo vệ công lý; quyền con người; quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức; góp phần phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân chủ, công bằng, văn minh.

1. Nội quy Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Ninh quy định chi tiết những vấn đề thuộc Nội bộ Đoàn Luật sư theo quy định của pháp luật và Điều lệ Liên đoàn Luật sư Việt .

3. Đoàn là Đoàn luật sư tỉnh Quảng Ninh;

5. Điều lệ Liên đoàn là Điều lệ của Liên đoàn luật s ư Việt Nam năm 2015 và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế khác nếu có;

9. Ban Chủ nhiệm là Ban Chủ nhiệm Đoàn luật s ư tỉnh Quảng Ninh.

10. Văn phòng Đoàn là Bộ phận hành chính, kế toán, văn thư, lưu trữ, thư viện … giúp việc của Đoàn luật s ư t ỉnh Quảng Ninh.

– Hội đồng Khen thưởng khi xét việc thi đua, khen thưởng đối với Luật sư thành viên;

– Hội đồng Kỷ luật khi xét việc kỷ luật đối với Luật sư thành viên.

13. Bồi d ưỡng chuyên môn, nghiệp vụ bắt buộc là hoạt động thực hiện theo quy định của Luật Luật sư về nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của Luật sư.

14. Trợ giúp pháp lý là việc Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo hướng dẫn của Liên đoàn luật sư Việt .

16. Tổ chức hành nghề là Văn phòng luật sư, Công ty luật do các Luật sư thành viên của Đoàn thành lập.

1. Đoàn luật s ư t ỉnh Quảng Ninh là tổ chức xã hội – nghề nghiệp, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng. Là thành viên của Liên đoàn luật sư Việt tỉnh Quảng Ninh. Nam và là thành viên Ủy ban Mặt trật Tổ quốc Việt

Website: chúng tôi

Điều 4. Các cơ quan, đơn vị của Đoàn:

1. Đại hội Toàn thể.

2. Ban Chủ nhiệm.

3. Hội đồng Khen thưởng- Kỷ luật.

6. Các cơ quan khác.

2. Trình tự, thủ tục triệu tập; nhiệm vụ và quyền hạn của Đại hội theo điều 19 Điều lệ Liên đoàn.

1.Hội nghị luật sư được tổ chức thường niên vào cuối năm hoặc chậm nhất là trong qu ý một (01) của năm tiếp theo.

Hội nghị luật sư có thể họp bất thường theo quyết định của Ban chủ nhiệm, hoặc theo đề nghị của quá nửa số Thành viên trong Đoàn.

2. Chậm nhất là 20 (hai mươi) ngày trước ngày khai mạc Hội nghị luật sư, Ban chủ nhiệm đăng tải thông tin trên website của Đoàn và gửi thông báo đến các Luật sư thành viên về thời gian, địa điểm, chương trình làm việc.

3. Hội nghị luật sư được coi là hợp lệ khi có trên 1/2 (một phần hai) số luật sư Thành viên được triệu tập hợp lệ có mặt. Các Nghị quyết, Quyết định, Quy định và các vấn đề khác, phải được quá nửa số Thành viên có mặt biểu quyết tán thành.

4. Hội nghị luật sư có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

c) Thông qua báo cáo tài chính, và sử dụng tài sản của Đoàn trong năm;

d) Thông qua việc điều chỉnh phí Phí tập sự hành nghề luật sư, Phí gia nhập Đoàn;

đ) Giải quyết các vấn đề khác, trừ các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Khoản 4 điều 19 Điều lệ Liên đoàn.

Điều 7. Hiệu lực của các Nghị quyết, Quyết định, Quy định

2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày các Nghị quyết, Quyết định, Quy định được thông qua, Ban Chủ nhiệm có trách nhiệm công bố trên Website của Đoàn trừ trường hợp Nghị quyết, Quyết định, Quy định có quy định khác.

2. Số lượng thành viên Ban Chủ nhiệm do Đại hội quyết định theo đề nghị của Ban Chủ nhiệm đương nhiệm.

Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư gồm 01 Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm và các ủy viên (nếu có):

– Số lượng Luật sư của Đoàn từ đủ 50 luật sư đến dưới 100 luật sư, Ban chủ nhiệm có 05 thành viên: 01 Chủ nhiệm, 04 Phó Chủ nhiệm hoặc Ủy viên.

– Số lượng Luật sư của Đoàn luật sư từ đủ 100 luật sư đến dưới 300 luật sư, Ban chủ nhiệm có 07 thành viên: 01 Chủ nhiệm, 06 Phó Chủ nhiệm hoặc Ủy viên.

– Số lượng Luật sư của Đoàn luật sư từ đủ 300 luật sư trở lên, Ban chủ nhiệm có 09 thành viên: 01 Chủ nhiệm, 08 Phó Chủ nhiệm hoặc Ủy viên.

1. Ban Chủ nhiệm giải quyết công việc trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Luật sư, Điều lệ Liên đoàn và Nội quy này.

a) Ban Chủ nhiệm chịu trách nhiệm quản lý hoạt động của luật sư thành viên trong quá trình hành nghề; giám sát việc tuân theo pháp luật, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư;

b) Tổ chức bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng hành nghề, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp cho luật sư, người tập sự hành nghề luật sư theo quy định;

c) Tổ chức thông tin, tuyên truyền, hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao cho luật sư thành viên;

d) Đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và thực hiện chính sách đối với luật sư thành viên;

đ) Quản lý tài chính, tài sản của Đoàn luật sư đúng quy định, đảm bảo công khai, minh bạch, sử dụng quỹ Đoàn luật sư đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả;

e) Thực hiện công tác đối ngoại, tổ chức trao đổi, học hỏi kinh nghiệm, kỹ năng hành nghề của luật sư các nước;

g) Thực hiện chế độ phân công trực Ban Chủ nhiệm để giải quyết công việc và xử lý kịp thời những việc thuộc thẩm quyền; tiếp nhận hồ sơ gia nhập Đoàn luật sư; rút tên, xóa tên khỏi danh sách thành viên Đoàn luật sư; đăng ký tập sự hành nghề luật sư; giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theo quy định; tổ chức, phân công luật sư tham gia hội thảo, hội nghị; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý; phân công Tổ chức hành nghề cử luật sư tham gia bào chữa chỉ định cho các bị can, bị cáo theo yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng; cử đại diện Đoàn luật sư tham gia các tổ chức đoàn thể theo quy định; giải quyết những công việc khác phát sinh trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ.

h) Dự thảo và tổ chức thông qua, sửa đổi, bổ sung Nội quy, Quy chế, các văn kiện của Đoàn luật sư;

k) Xem xét, quyết định về việc khen thưởng, kỷ luật đối với luật sư, người tập sự hành nghề luật sư, tổ chức hành nghề luật sư;

l) Báo cáo Liên đoàn luật sư Việt Nam, UBND tỉnh Quảng Ninh về tổ chức, hoạt động của Đoàn luật sư và chất lượng đội ngũ luật sư thành viên; phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan trong việc quản lý, giám sát hoạt động của Đoàn luật sư, hoạt động hành nghề luật sư theo quy định.

2. Ban Chủ nhiệm hoạt động theo sự phân công và điều hành của Chủ nhiệm. Ban Chủ nhiệm chịu trách nhiệm tập thể về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chủ nhiệm.

3. Thành viên Ban Chủ nhiệm có trách nhiệm sau đây:

a) Tham gia đầy đủ các cuộc họp của Ban Chủ nhiệm;

c) Gương mẫu chấp hành và thực hiện các nghị quyết của Đại hội luật sư, Hội nghị luật sư, nghị quyết, quyết định của Ban Chủ nhiệm, Chủ nhiệm;

d) Hoàn thành tốt những nhiệm vụ, công việc do Ban Chủ nhiệm, Chủ nhiệm phân công.

5. Thành viên Ban Chủ nhiệm vi phạm pháp luật, Điều lệ hoặc Nội quy này thì tùy theo mức độ có thể bị Ban Chủ nhiệm nhắc nhở bằng văn bản hoặc bị bãi nhiệm miễn nhiệm theo quy định tại Khoản 5, 6 và 7 Điều 21 của Điều lệ Liên đoàn.

1. Chủ nhiệm phân công, điều hành hoạt động của Ban Chủ nhiệm và chỉ đạo giải quyết các công việc thường xuyên của Đoàn Luật sư trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Luật sư, Điều lệ và Nội quy này.

2. Chủ nhiệm là đại diện theo pháp luật của Đoàn Luật sư và là chủ tài khoản của Đoàn Luật sư.

3. Chủ nhiệm trực tiếp phụ trách hoặc phân công Phó Chủ nhiệm phụ trách một hoặc một số lĩnh vực công tác, một hoặc một số đơn vị chuyên môn, trực thuộc của Đoàn Luật sư; phân công, bổ nhiệm thành viên khác của Ban Chủ nhiệm, cá nhân khác điều hành, tham gia các đơn vị chuyên môn, trực thuộc của Đoàn Luật sư.

4. Chủ nhiệm trực tiếp chủ trì giải quyết hoặc phân công thành viên khác của Ban Chủ nhiệm, cơ quan, đơn vị chuyên môn, trực thuộc của Đoàn luật sư chủ trì, phối hợp giải quyết các công việc của Đoàn luật sư.

5. Chủ nhiệm chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ nhiệm; cùng các thành viên khác của Ban Chủ nhiệm chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Ban Chủ nhiệm trước Đại hội luật sư và trước pháp luật.

1. Phó Chủ nhiệm giúp Chủ nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân công của Chủ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Chủ nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ được phân công; thực hiện các nhiệm vụ, công việc cụ thể được Ban Chủ nhiệm, Chủ nhiệm phân công.

2. Ủy viên Ban Chủ nhiệm thực hiện các nhiệm vụ, công việc cụ thể được Ban Chủ nhiệm, Chủ nhiệm phân công.

3. Phó Chủ nhiệm, Ủy viên Ban Chủ nhiệm chịu trách nhiệm cá nhân trước Ban Chủ nhiệm, Chủ nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ, công việc được phân công; cùng các thành viên khác của Ban Chủ nhiệm chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Ban Chủ nhiệm trước Đại hội luật sư và trước pháp luật.

1. Ban Chủ nhiệm hoạt động chủ yếu thông qua các cuộc họp Ban Chủ nhiệm được tổ chức tại trụ sở Đoàn Luật sư.

2. Ban Chủ nhiệm còn có thể hoạt động bằng hình thức gửi phiếu ghi ý kiến các thành viên Ban Chủ nhiệm.

1. Chủ nhiệm quyết định cụ thể thời gian, chương trình, nội dung cuộc họp Ban Chủ nhiệm. Các thành viên khác của Ban Chủ nhiệm có thể đề xuất bổ sung, điều chỉnh chương trình, nội dung cuộc họp và việc bổ sung, điều chỉnh được thực hiện theo quyết định của Chủ nhiệm hoặc Ban Chủ nhiệm.

2. Thành viên Ban Chủ nhiệm vắng mặt tại cuộc họp thì phải có lý do và phải báo cáo trước với Chủ nhiệm.

5. Chủ nhiệm quyết định những tài liệu lưu hành tại cuộc họp Ban Chủ nhiệm.

6. Các cuộc họp Ban Chủ nhiệm phải được ghi biên bản. Biên bản phải ghi đầy đủ diễn biến của cuộc họp, nội dung các ý kiến phát biểu, ý kiến kết luận của chủ tọa cuộc họp hoặc kết quả biểu quyết.

7. Nghị quyết, quyết định, biên bản, các tài liệu khác của mỗi cuộc họp Ban Chủ nhiệm được lưu trữ tại trụ sở Đoàn Luật sư.

1. Ban Chủ nhiệm quyết định các vấn đề tại cuộc họp bằng hình thức biểu quyết. Thành viên Ban Chủ nhiệm có quyền biểu quyết tán thành, không tán thành hoặc không biểu quyết.

2. Trừ trường hợp có quy định khác, Ban Chủ nhiệm quyết định áp dụng một trong các hình thức biểu quyết sau đây:

a) Biểu quyết công khai bằng hình thức giơ tay;

b) Bỏ phiếu kín.

2. Trừ trường hợp có quy định khác, quyết định của Ban Chủ nhiệm theo hình thức gửi phiếu ghi ý kiến được thông qua khi có biểu quyết tán thành của trên một phần hai (1/2) số thành viên Ban Chủ nhiệm gửi phiếu ghi ý kiến hợp lệ, với điều kiện số thành viên Ban Chủ nhiệm gửi phiếu ghi ý kiến hợp lệ chiếm ít nhất hai phần ba (2/3) tổng số thành viên Ban Chủ nhiệm.

3. Chủ nhiệm thông báo kết quả biểu quyết bằng hình thức gửi phiếu ghi ý kiến tại cuộc họp Ban Chủ nhiệm gần nhất.

2. Hội đồng Khen thưởng – Kỷ luật chịu trách nhiệm triển khai thực hiện các công việc về khen thưởng, kỷ luật, đề xuất Ban Chủ nhiệm quyết định:

b) Các hình thức kỷ luật;

Khi bầu Hội đồng Khen thưởng – Kỷ luật, số lượng ứng cử viên phải bảo đảm có số dư tối thiểu ba mươi phần trăm (30%) so với số lượng cần bầu.

1. HĐKTKL giải quyết công việc trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Luật sư, Điều lệ và Nội quy này.

2. HĐKTKL có trách nhiệm thực hiện các công việc sau đây:

a) Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định tại Khoản 3 Điều 22 của Điều lệ Liên đoàn;

b) Xây dựng chương trình, kế hoạch công tác khen thưởng, kỷ luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo của Đoàn Luật sư theo định kỳ hàng năm trình Ban Chủ nhiệm phê duyệt; tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch sau khi được phê duyệt theo phân công của Ban Chủ nhiệm, Chủ nhiệm;

c) Đề xuất chủ trương, chủ trì soạn thảo và trình Ban Chủ nhiệm, Chủ nhiệm dự thảo các văn bản quy định, hướng dẫn, tổ chức thực hiện về công tác khen thưởng, kỷ luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền ban hành của Ban Chủ nhiệm, Chủ nhiệm;

d) Đề xuất chủ trương, chủ trì soạn thảo và trình Ban Chủ nhiệm, Chủ nhiệm dự thảo các văn bản đề xuất, kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Liên đoàn về việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật, quy định và hướng dẫn của Liên đoàn về công tác khen thưởng, kỷ luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo;

đ) Trình Ban Chủ nhiệm, Chủ nhiệm dự thảo các quyết định và văn bản hành chính khác về công tác khen thưởng, kỷ luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền ban hành của Ban Chủ nhiệm, Chủ nhiệm;

e) Thực hiện báo cáo định kỳ và đột xuất về tiến độ giải quyết công việc, tình hình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao với Ban Chủ nhiệm, Chủ nhiệm;

g) Phối hợp với các đơn vị chuyên môn, trực thuộc của Đoàn Luật sư trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐKTKL;

h) Thực hiện công việc khác do Ban Chủ nhiệm, Chủ nhiệm giao theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐKTKL.

3. Chủ tịch HĐKTKL điều hành hoạt động của HĐKTKL; phân công nhiệm vụ, công việc cụ thể cho các thành viên khác của HĐKTKL thực hiện; trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ, công việc cụ thể của HĐKTKL.

4. Phó Chủ tịch HĐKTKL giúp Chủ tịch HĐKTKL điều hành hoạt động của HĐKTKL; thực hiện các nhiệm vụ, công việc cụ thể được HĐKTKL, Chủ tịch HĐKTKL phân công.

5. Ủy viên HĐKTKL thực hiện các nhiệm vụ, công việc cụ thể được HĐKTKL, Chủ tịch HĐKTKL phân công.

6. Các thành viên HĐKTKL chịu trách nhiệm tập thể trước Đại hội luật sư, trước Ban Chủ nhiệm và trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của HĐKTKL; chịu trách nhiệm cá nhân trước HĐKTKL về nhiệm vụ, công việc cụ thể được phân công.

7. Thành viên HĐKTKL có trách nhiệm sau đây:

a) Tham gia đầy đủ các cuộc họp của HĐKTKL;

c) Gương mẫu chấp hành và thực hiện các nghị quyết của Đại hội luật sư, Hội nghị luật sư, nghị quyết, quyết định của Ban Chủ nhiệm, Chủ nhiệm, HĐKTKL;

d) Hoàn thành tốt những nhiệm vụ, công việc do Ban Chủ nhiệm, Chủ nhiệm, HĐKTKL, Chủ tịch HĐKTKL phân công.

9. Thành viên HĐKTKL vi phạm pháp luật, Điều lệ hoặc Nội quy này thì tùy theo mức độ có thể bị Ban Chủ nhiệm nhắc nhở bằng văn bản hoặc bị bãi nhiệm theo quy định tại Khoản 5 Điều 22 của Điều lệ Liên đoàn.

a) Xem xét, kết luận và đề xuất khen thưởng;

b) Xem xét, kết luận và đề xuất xử lý kỷ luật;

4. Đối với các công việc không thuộc phạm vi các vấn đề quy định tại Khoản 2 Điều này thì Chủ tịch HĐKTKL trực tiếp phụ trách hoặc phân công cho thành viên khác của HĐKTKL phụ trách giải quyết, xử lý. Thành viên của HĐKTKL được phân công có trách nhiệm báo cáo tình hình, tiến độ, kết quả công việc cho Chủ tịch HĐKTKL. Chủ tịch HĐKTKL có thể tham khảo ý kiến các thành viên khác của HĐKTKL tại cuộc họp HĐKTKL hoặc bằng văn bản qua đường bưu chính hoặc thư điện tử.

Văn phòng Đoàn Luật sư do Ban chủ nhiệm điều hành, quyết định về cơ cấu tổ chức, nhân sự và các chế độ chính sách theo quy định của pháp luật.

2. Văn phòng Đoàn luật sư có nhiệm vụ:

a. Theo dõi, tổng hợp các hoạt động của các luật sư và tổ chức hành nghề luật sư.

b. Phụ trách văn thư, thông tin, tư liệu, lưu trữ của Đoàn luật sư.

c. Phụ trách công tác kế toán, tài chính của Đoàn luật sư.

d. Xây dựng, quản lý thư viện của Đoàn luật sư.

đ. Giúp Ban chủ nhiệm làm thủ tục phân công các vụ án chỉ định cho các tổ chức hành nghề luật sư.

e. Quản lý hồ sơ nhân sự của Đoàn luật sư.

g. Quản lý con dấu và tài sản của Đoàn.

3. Ban chủ nhiệm Quy định cụ thể về chức năng nhiệm vụ của Văn phòng Đoàn luật sư

1. Trung tâm Tư vấn pháp luật và Bồi dưỡng luật(Trung tâm) là đơn vị trực thuộc Đoàn luật sư, được thành lập nhằm tổ chức và thực hiện các hoạt động tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật, Luật Luật sư, Luật Trợ giúp pháp lý và hoạt động bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức pháp lý cho luật sư thành viên và các đối tượng khác có nhu cầu. Ban Chủ nhiệm phân công một thành viên làm Giám đốc Trung tâm; các Phó Giám đốc và nhân sự khác do Chủ nhiệm quyết định trên cơ sở đề nghị của Giám đốc.

2. Trung tâm có các nhiệm vụ và quyền hạn sau:

a) Tổ chức và thực hiện các hoạt động tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật; Luật Luật sư; Luật Trợ giúp pháp lý;

b) Thực hiện việc bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho các luật sư thành viên theo quy định của Luật Luật sư;

c) Tổ chức hoạt động bồi dưỡng kiến thức pháp lý cho các tổ chức, cá nhân theo nhu cầu;

đ) Thực hiện các hoạt động khác theo quyết định của Ban Chủ nhiệm.

e) Trung tâm bồi dưỡng thực hiện chế độ hạch toán báo sổ, phản ánh số liệu kế toán trong báo cáo tài chính tổng hợp của Đoàn luật sư.

3. Quy chế Tổ chức hoạt động của Trung tâm do Ban chủ nhiệm Quyết định theo quy định của pháp luật.

1. Quyền và nghĩa vụ của Đoàn luật sư:

a) Đoàn luật sư đại diện cho ý chí, nguyện vọng của các luật sư thành viên;

b) Bảo vệ quyền hành nghề hợp pháp của các luật sư thành viên;

c) Thực hiện chính sách đối với các luật sư thành viên;

2. Quyền và nghĩa vụ của luật sư thành viên:

a) Nộp phí thành viên đầy đủ, đúng hạn;

b) Thực hiện quyền và nghĩa vụ của luật sư theo quy định của pháp luật;

c) Tham gia đầy đủ các hoạt động do Đoàn luật sư tổ chức;

d) Có quyền và nghĩa vụ cung cấp, cập nhật các thông tin cá nhân và chịu trách nhiệm về các thông tin do mình cung cấp; bảo đảm sự liên lạc thường xuyên với Văn phòng Đoàn.

1. Ban Chủ nhiệm có trách nhiệm hỗ trợ và bảo vệ quyền hành nghề của luật sư thành viên:

b) Cung cấp thông tin, tài liệu, văn bản về pháp luật, kinh tế – xã hội và các lĩnh vực khác do Văn phòng Đoàn lưu trữ;

c) Trao đổi kinh nghiệm nghề nghiệp, kiến thức pháp luật, hội thảo, liên kết và hợp tác giữa các luật sư thành viên và giữa luật sư thành viên với các tổ chức, cá nhân khác;

d) Hợp tác quốc tế của Đoàn luật sư và luật sư thành viên với các tổ chức, cá nhân đối tác và đồng nghiệp nước ngoài;

đ) Giới thiệu và quảng bá hoạt động nghề nghiệp của luật sư thành viên;

e) Tổ chức các hoạt động cộng đồng và sinh hoạt văn hoá, tinh thần, thể thao và giải trí cho luật sư thành viên;

g) Các hoạt động khác theo nhu cầu thực tế do Ban Chủ nhiệm quyết định.

2. Ban Chủ nhiệm thông qua Văn phòng Đoàn tiếp nhận các yêu cầu hỗ trợ và bảo vệ quyền hành nghề của luật sư thành viên. Trường hợp cần thiết, Ban Chủ nhiệm có thể chủ động thực hiện việc bảo vệ quyền hành nghề của luật sư thành viên.

3. Trường hợp luật sư thành viên bị tổ chức, cá nhân cản trở việc thực hiện quyền hành nghề, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, sức khỏe và tính mạng khi hành nghề, luật sư thành viên có quyền thông báo hoặc thông qua người đại diện gửi văn bản về Tổ chức hành nghề luật sư, Đoàn luật sư để yêu cầu hỗ trợ. Chậm nhất trong vòng bốn mươi tám (48) giờ kể từ khi tiếp nhận thông tin, Văn phòng Đoàn phải chuyển yêu cầu hỗ trợ cho HĐKTKL để xử lý và thực hiện biện pháp hỗ trợ. Chậm nhất trong vòng bảy mươi hai (72) giờ sau đó, HĐKTKL có nghĩa vụ phản hồi cho luật sư thành viên có yêu cầu, đồng thời báo cáo Ban Chủ nhiệm về biện pháp, định hướng xử lý yêu cầu hỗ trợ, trước khi thực hiện.

Trong quá trình xử lý, HĐKTKL phải báo cáo Ban Chủ nhiệm về tiến độ và kết quả giải quyết vụ việc.

2. Trưởng Tổ chức hành nghề luật sư có từ hai luật sư thành viên trở lên có nghĩa vụ phối hợp, giúp Ban Chủ nhiệm thực hiện các việc sau:

a) Liên lạc và trao đổi thông tin giữa Đoàn luật sư và luật sư thành viên;

b) Giám sát tuân thủ pháp luật và Quy tắc, đạo đức nghề nghiệp luật sư;

c) Khen thưởng, kỷ luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo;

d) Thu, nộp phí thành viên;

đ) Thực hiện nghĩa vụ bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và trợ giúp pháp lý;

e) Hỗ trợ, phối hợp tổ chức các sự kiện của Đoàn luật sư.

3. Luật sư thành viên là Trưởng tổ chức hành nghề luật sư có nghĩa vụ thực hiện chế độ báo cáo hoạt động hành nghề của tổ chức mình theo đúng quy định của Luật Luật sư, Điều lệ Liên đoàn.

Đoàn luật sư tỉnh Quảng Ninh hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải bằng nguồn thu từ phí Thành viên và các nguồn thu hợp pháp khác; việc thu chi tuân thủ nguyên tắc pháp luật về tài chính, kế toán và Nội quy này. Đảm bảo công khai, minh bạch, đúng đối tượng, tiết kiệm và hiệu quả, tránh lãng phí.

Điều 26. Quản lý, sử dụng tài sản

Quá trình nhượng bán, thanh lý phải đảm bảo công khai, minh bạch và đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

1. Các nguồn thu của Đoàn luật sư theo quy định tại khoản 1 Điều 36 của Điều lệ Liên đoàn

2. Phí đăng ký tập sự hành nghề luật sư, Phí gia nhập Đoàn, Phí thành viên thực hiện theo quy định tại Điều 37 của Điều lệ Liên đoàn

1. Các khoản chi của Đoàn luật sư theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Điều lệ;

2. Chi hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ; thông tin, tuyên truyền; xuất bản;

3. Chi xây dựng cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị làm việc; bảo trì, sửa chữa, nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị;

4. Chi lương, phụ cấp cho bộ máy làm việc của Đoàn luật sư.

5. Chi thuê trụ sở;

6. Chi tổ chức Đại hội, Hội nghị;

2. Chi lương, phụ cấp cho bộ máy làm việc của Đoàn luật sư.

a) Lương cho Nhân viên văn phòng: Ban Chủ nhiệm có trách nhiệm thống nhất mức tiền lương, tiền công; chế độ chính sách cho Nhân viên văn phòng và thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng. Căn cứ vào tổ chức và hoạt động Đoàn; hàng năm Ban Chủ nhiệm có trách nhiệm trình Đại hội toàn thể thông qua định biên nhân sự văn phòng và dự kiến quỹ lương cho nhân viên văn phòng hàng năm;

b) Thành viên Ban chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng – kỷ luật, khi hoạt động theo chức năng nhiệm vụ; các Thành viên khác và cán bộ, nhân viên khi làm nhiệm vụ của Đoàn theo yêu cầu của Ban Chủ nhiệm được thanh toán thù lao và chế độ công tác phí như sau:

– Thù lao: 200.000 đồng/người/ngày (Hai trăm nghìn đồng một người một ngày); trong trường hợp không đủ ngày làm việc thì thù lao được tính là 100.000 đồng/người (một trăm nghìn đồng một người).

– Công tác phí: Trong trường hợp khi Thành viên Hội đồng khen thưởng kỷ luật hoạt động theo chức năng nhiệm vụ; các các Thành viên khác và cán bộ làm nhiệm vụ Đoàn theo yêu cầu của Ban Chủ nhiệm mà phải làm việc ngoài địa bàn thành phố Hạ Long thì ngoài thù lao còn được thanh toán công tác phí. Công tác phí được tính theo Quy định của Nhà nước.

3. Chi thuê trụ sở: Theo hợp đồng thuê nhà

4. Chi hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ; thông tin, tuyên truyền; xuất bản: Ban chủ nhiệm lập kế hoạch về nội dung chi, mức chi và báo cáo tại Hội nghị luật sư hàng năm.

5. Chi xây dựng cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị làm việc; bảo trì, sửa chữa, nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị: Ban chủ nhiệm lập kế hoạch về nội dung chi, mức chi và báo cáo tại Hội nghị luật sư hàng năm.

6. Chi tổ chức Đại hội, Hội nghị;

a) Khi tổ chức Đại hội hoặc Hội nghị, Ban chủ nhiệm phải nghiên cứu sắp xếp địa điểm hợp lý, thực hiện lồng ghép các nội dung vấn đề, công việc cần xử lý; kết hợp các loại cuộc họp với nhau một cách hợp lý; chuẩn bị kỹ đầy đủ đúng yêu cầu nội dung cuộc họp, tuỳ theo tính chất, nội dung, mục đích, yêu cầu của cuộc họp, Ban chủ nhiệm phải cân nhắc kỹ và quyết định thành phần, số lượng người tham dự cuộc họp cho phù hợp, bảo đảm tiết kiệm và hiệu quả.

b) Ban chủ nhiệm Quyết định kế hoạch chi với các nội dung sau:

– Tiền thuê hội trường trong những ngày tổ chức hội nghị (trong trường hợp Đoàn không có địa điểm, phải thuê hoặc có nhưng không đáp ứng được số lượng đại biểu tham dự);

– Tiền thuê báo cáo viên, giảng viên (nếu có)

– Tiền tài liệu cho đại biểu tham dự hội nghị;

– Tiền thuê xe ô tô đưa đón đại biểu từ nơi nghỉ đến nơi tổ chức cuộc họp (nếu có);

– Chi hỗ trợ tiền ăn, thuê chỗ nghỉ, tiền tàu xe cho đại biểu là khách mời;

– Các khoản chi khác như: Tiền làm thêm giờ, tiền thuốc chữa bệnh thông thường, trang trí hội trường v.v…

Đối với các khoản chi về khen thưởng, thi đua trong Đại hội, Hội nghị hàng năm, chi cho công tác tuyên truyền quảng bá hình ảnh không được tính trong kinh phí tổ chức hội nghị, mà phải tính vào khoản chi khen thưởng; chi tuyên truyền, quảng bá hình ảnh.

c) Một số mức chi cụ thể:

– Chi hỗ trợ tiền ăn cho đại biểu: Mức chi hỗ trợ tiền ăn tối đa không quá 200.000 đồng/ngày/người (Hai trăm một người một ngày); Mức chi cụ thể do Ban chủ nhiệm quyết dịnh.

Trong trường hợp tổ chức ăn tập trung, thì Ban Chủ nhiệm tổ chức ăn tập trung cho đại biểu tối đa theo mức quy định nêu.

– Chi hỗ trợ tiền nghỉ, tiền tàu xe cho đại biểu là khách mời không hưởng công tác phí theo quy định của Nhà nước về chế độ công tác phí.

– Chi thuê giảng viên, báo cáo viên chỉ áp dụng đối với các cuộc họp tập huấn nghiệp vụ (nếu có) do Ban Chủ nhiệm quyết định trong từng trường hợp cụ thể;.

1. Đối tượng được hưởng công tác phí: Thành viên Ban chủ nhiệm; thành viên Hội đồng khen thưởng kỷ luật khi hoạt động theo chức năng nhiệm vụ và các Luật sư thành viên, Nhân viên văn phòng khi hoạt động phụ vụ công tác Đoàn theo yêu cầu của Ban Chủ nhiệm cử đi công tác ngoài phạm vi thành phố Hạ Long.

2. Công tác phí là khoản chi phí để trả cho người đi công tác bao gồm: Tiền tàu xe đi lại, phụ cấp lưu trú, tiền thuê chỗ ở nơi đến công tác, cước hành lý, tài liệu mang theo để làm việc (nếu có).

3. Các điều kiện để được thanh toán công tác phí:

– Theo chức năng, nhiệm vụ của Ban Chủ nhiệm; Hội đồng khen thưởng kỷ luật có xác nhận của Ban chủ nhiệm hoặc được Ban Chủ nhiệm cử đi công tác;

– Thực hiện đúng nhiệm vụ được giao;

– Có đủ các chứng từ để thanh toán theo quy định tại Quy định này.

– Đơn vị Tổ chức có yêu cầu đơn vị cử người đi công tác tự thanh toán công tác phí theo quy định.

4. Những trường hợp sau đây không được thanh toán công tác phí:

– Thời gian điều trị, điều dưỡng tại cơ sở y tế, nhà điều dưỡng, dưỡng sức;

– Những ngày học ở trường, lớp đào tạo tập trung dài hạn, ngắn hạn đã được hưởng chế độ theo quy định;

– Những ngày làm việc riêng trong thời gian đi công tác;

5. Thanh toán tiền tàu xe đi và về từ cơ quan đến nơi công tác:

a) Người đi công tác được thanh toán tiền tàu, xe bao gồm: Vé máy bay, vé tàu, xe vận tải công cộng từ cơ quan đến nơi công tác và ngược lại, cước qua phà, đò ngang cho bản thân và phương tiện của người đi công tác, phí sử dụng đường bộ và cước chuyên chở tài liệu phục vụ cho chuyến đi công tác (nếu có) mà người đi công tác đã trực tiếp chi trả. Giá vé trên không bao gồm các chi phí dịch vụ khác như: Tham quan du lịch, các dịch vụ đặc biệt theo yêu cầu.

b) Căn cứ quy chế này, căn cứ tính chất công việc của chuyến đi công tác và trong phạm vi nguồn kinh phí được giao, Chủ nhiệm xem xét duyệt thanh toán tiền vé máy bay, vé tàu, vé xe cho người đi công tác bảo đảm nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả.

c) Quy định về tiêu chuẩn mua vé máy bay đi công tác là hạng ghế thường (phổ thông).

d) Đối với những vùng không có phương tiện vận tải của tổ chức, cá nhân kinh doanh vận tải hành khách theo quy định của pháp luật mà người đi công tác phải thuê phương tiện vận tải khác thì Chủ nhiệm xem xét quyết định cho thanh toán tiền thuê phương tiện mà người đi công tác đã thuê trên cơ sở hợp đồng thuê phương tiện hoặc giấy biên nhận với chủ phương tiện (có tính đến giá vận tải phương tiện khác đang thực hiện cùng thời điểm tại vùng đó cho phù hợp).

đ) Trường hợp người đi công tác sử dụng xe ô tô cơ quan, phương tiện do cơ quan thuê hoặc cơ quan bố trí thì người đi công tác không được thanh toán tiền tàu xe.

6. Phụ cấp lưu trú:

– Phụ cấp lưu trú là khoản tiền chi trả cho người đi công tác phải nghỉ lại nơi đến công tác để hỗ trợ tiền ăn và tiêu vặt cho người đi công tác, được tính từ ngày bắt đầu đi công tác đến khi trở về cơ quan, đơn vị (bao gồm thời gian đi trên đường, thời gian lưu trú tại nơi đến công tác);

Mức phụ cấp: theo chế độ hiện hành của Nhà nước

7. Thanh toán tiền thuê phòng nghỉ tại nơi đến công tác:

Chủ nhiệm quyết định thanh toán tiền thuê chỗ nghỉ theo quy định hiện hành của Nhà nước.

Chứng từ làm căn cứ thanh toán khoán tiền thuê chỗ nghỉ là giấy đi đường có ký duyệt đóng dấu của Ban Chủ nhiệm và ký xác nhận đóng dấu ngày đến, ngày đi của nơi đến công tác và hoá đơn hợp pháp.

1. Đối với các luật sư là thành viên của Đoàn

a. Trường hợp luật sư kết hôn tiền mừng là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng)

b. Trường hợp luật sư bị tai nạn, bị ốm đau phải vào viện, ốm điều trị dài ngày (trên 3 ngày), nữ luật sư sinh con được thăm hỏi một lần/năm quà thăm hỏi mỗi trường hợp 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng);

c. Trường hợp từ trần, phúng viếng 1.000.000 đồng (một triệu đồng) và vòng hoa hoặc câu đối (trướng).

2. Đối với cán bộ, công nhân viên Văn phòng Đoàn không phải là luật sư thuộc trường hợp 1.1 được thực hiện như luật sư

3. Đối với vợ hoặc chồng; con; Bố mẹ đẻ, bố mẹ vợ hoặc chồng của luật sư; cán bộ, nhân viên Văn phòng từ trần thì phúng viếng là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) vòng hoa hoặc câu đối.

Mỗi năm một lần vào ngày Kỷ niệm ngày truyền thống của các cơ quan: Công an nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và các cơ quan mà Đoàn có mối quan hệ công tác, Đoàn luật sư có một lẵng hoa chúc mừng và cùng với số tiền mừng không quá 500.000/lần/cơ quan.

1. Quỹ phúc lợi: Dùng để chi cho hoạt động phúc lợi công cộng của Đoàn Luật sư (Tham quan, du lịch…); ngoài ra có thể sử dụng một phần quỹ phúc lợi để trợ cấp khó khăn đột xuất một lần cho Luật sư, kể cả những trường hợp ốm đau, lâm vào hoàn cảnh khó khăn, không nơi nương tựa hoặc làm công tác từ thiện xã hội. Ban Chủ nhiệm quyết định việc chi trên cơ sở khả năng của Quỹ.

Mức chi cho trợ cấp khó khăn đột xuất một lần cho Luật sư, kể cả những trường hợp ốm đau lâm vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tối đa không quá hai (02) lần mức lương cơ sở/người/năm.

2. Quỹ khen thưởng: Dùng để khen thưởng cho các Luật sư thành viên hoặc Tổ chức hành nghề luật sư có thành tích xuất sắc đóng góp cho sự phát triển của Đoàn Luật sư.

3. Ban chủ nhiện có trách nhiệm báo cáo thu – chi các Quỹ tại Hội nghị hàng năm.

Đối với nguồn thu từ ngân sách nhà nước cấp thực hiện theo Quy định của Nhà nước về cấp phát và sử dụng ngân sách nhà nước;

Đối với nguồn thu hình thành từ phí của Đoàn, từ các nguồn khác phải đảm bảo hóa đơn, chứng từ hợp lệ theo quy định của pháp luật kế toán Việt Nam và đảm bảo các thủ tục theo Nội quy này.

Người được giao thực hiện mua sắm trang thiết bị, văn phòng phẩm, hoặc thực hiện các việc khác phục vụ cho hoạt động của Đoàn luật sư, phải có văn bản đề nghị tạm ứng tiền nộp cho nhân viên Văn phòng; nhân viên văn phòng có trách nhiệm đề nghị Chủ nhiệm duyệt tạm ứng số tiền phù hợp với nội dung công việc dự định thực hiện.

Người được giao thực hiện mua sắm trang thiết bị, văn phòng phẩm, thăm hỏi hoặc thực hiện các việc khác phục vụ cho hoạt động của Đoàn luật sư, làm giấy đề nghị thanh toán (theo mẫu chung),

– Kèm theo giấy đề nghị thanh toán là tập hợp các chứng từ hợp lệ, kế toán có nhiệm vụ tổng hợp các khoản chi. Đề nghị thành viên Ban chủ nhiệm kiểm tra ký giám sát các chứng từ chi, và ký đề nghị Chủ nhiệm duyệt chi.

– Sau khi Chủ nhiệm duyệt chi kế toán lập phiếu chi theo số tiền được duyệt chi, phiếu chi được lập 03 liên, liên 1 lưu hồ sơ gốc, liên 2 giao cho người đề nghị thanh toán để nộp cho thủ quỹ khi nhận tiền, liên 3 lưu hồ sơ thanh toán.

– Hàng quý kế toán có trách nhiệm tổng hợp các chứng từ đã chi trong quý, đóng thành quyển và lưu theo quy định về lưu giữ chứng từ kế toán.

1. Căn cứ vào các hợp đồng, các khoản thu theo quy định, Nhân viên văn phòng viết phiếu thu, phiếu thu tiền được lập thành 03 liên, có chữ ký của thủ quỹ, liên 01 lưu tại tập phiếu thu, liên 02 giao cho người nộp tiền, liên 3 giao cho thủ quỹ khi thu tiền.

2. Nhân viên văn phòng Lập sổ và biểu mẫu thống kê, về luật sư, người tập sự hành nghề luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, các tài sản của Đoàn, qũy Đoàn… theo quy định về công tác thống kê, Số liệu được cập nhật theo tháng.

3. Lập bảng chấm công lao động, làm việc ngoài giờ theo lịch và theo sự phân công của Ban chủ nhiệm, chấm công trực của các thành viên Ban Chủ nhiệm. Chấm công cho Thành viên Hội đồng khen thưởng kỷ luật hoạt động theo chức năng nhiệm vụ và các Luật sư thành viên khi hoạt động phụ vụ công tác Đoàn theo yêu cầu của Ban Chủ nhiệm

4. Hàng tháng Nhân viên văn phòng phải lập bảng cân đối thu, chi trong tháng; dự kiến thu chi tháng tới báo cáo Chủ nhiệm duyệt trước ngày 05 của tháng tiếp theo.

1. Ban Chủ nhiệm trong phạm vi thẩm quyền của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện, kiểm tra các hoạt động tài chính Đoàn luật sư.

2. Nhận và chịu trách nhiệm trước Hội nghị luật sư hoặc Đại hội về việc sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng và tiết kiệm các nguồn thu.

3. Trình Hội nghị luật sư, Đại hội thông qua báo cáo tài chính hàng năm (hoặc cả nhiệm kỳ); kế hoạch thu chi cho năm tiếp theo.

4. Trích các Quỹ theo quy định của Quy chế này.

1. Chủ nhiệm là đại diện pháp nhân của Đoàn, trực tiếp điều hành thực hiện các khoản thu chi được sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng và tiết kiệm.

2. Nghĩa vụ của Chủ nhiệm, thành viên Ban chủ nhiệm:

a) Thực hiện trung thực, có trách nhiệm các quyền hạn và nghĩa vụ được giao vì lợi ích của Đoàn Luật sư;

b) Không được lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng tiền, tài sản của Đoàn nhằm thu lợi riêng cho bản thân, gia đình và người khác. Không được đem cho, tặng tài sản của Đoàn cho bất kỳ đối tượng nào nếu không được sự cho phép của Đại hội toàn thể luật sư;

d) Các nghĩa vụ khác theo quy định của Điều lệ, pháp luật, và nội quy này.

3. Chủ nhiệm, thành viên Ban chủ nhiệm vi phạm điều lệ Đoàn luật sư, quy chế này quyết định vượt thẩm quyền, không đúng thẩm quyền, lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây thiệt hại cho Đoàn Luật sư thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Đại hội luật sư quyết định mức bồi thường.

Điều 42. Kiểm tra tài chính và sử dụng tài sản

2. Hình thức trợ giúp pháp lý gồm:

2. Tuỳ vào điều kiện thực tế, Ban Chủ nhiệm có thể xem xét hỗ trợ đối với hoạt động bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ theo yêu cầu.

Thực hiện theo quy định của Luật thi đua – khen thưởng và Điều lệ của Liên Đoàn.

Nguyên tắc thi đua: tự nguyện, tự giác, công khai.

Nguyên tắc khen thưởng: Chính xác, công khai minh bạch, công bằng và kịp thời.

a) Luật sư thành viên.

b) Tổ chức hành nghề luật sư và các Đơn vị của Đoàn.

c) Nhân viên Văn phòng Đoàn.

d) Cá nhân, tổ chức khác có công xây dựng Đoàn.

1. Đối với thành viên phải nộp phí thành viên đầy đủ, đúng hạn; tham gia đầy đủ các lớp bồi dưỡng chuyên môn bắt buộc và trợ giúp pháp lý theo quy định; thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quy định tại Nội quy này và không đang trong thời gian xem xét giải quyết việc khiếu kiện, kỷ luật.

2. Đối với nhân viên các cơ quan của Đoàn, phải hoàn thành tốt công việc theo chức trách, nhiệm vụ của mình.

3. Đối với các các tổ chức hành nghề luật sư đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quy định tại Nội quy này và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính, thuế … theo quy định của pháp luật; không trong thời gian đang bị thanh tra, kiểm tra, khiếu kiện …

4. Ban chủ nhiệm thống nhất với HĐKTKL Quy định cụ thể về hình thức, đối tượng, tiêu chuẩn, thủ tục khen thưởng. theo hướng dẫn của Liên đoàn và Nội quy này.

2. Nội quy này có hiệu lực ngay sau khi thông qua. Ban Chủ nhiệm chịu trách nhiệm công bố và tổ chức thi hành Nội quy này.

Đại hội sửa đổi, bổ sung Nội quy này , khi có quá nửa số Thành viên yêu cầu hoặc theo đề nghị của Ban chủ nhiệm.

Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Và Hđnd Tỉnh Quảng Ngãi

(TG) – Công tác tư tưởng đã góp phần quan trọng vào những thành quả của sự nghiệp đổi mới. Hơn 34 năm qua đã để lại những bài học quý về đổi mới công tác tư tưởng.

Sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng lãnh đạo, qua gần 35 năm đã giành được những thành quả rất có ý nghĩa. Trong thời gian đó, công tác tư tưởng luôn đứng trước những vấn đề gay gắt, tưởng chừng khó có thể lý giải để thuyết phục. Song, điều then chốt là, công tác tư tưởng và những người làm công tác tư tưởng nói chung đã đứng vững, và ở chừng mực nhất định, đã cùng với toàn Đảng và toàn dân, từng bước tháo gỡ những khó khăn trong tư duy lý luận rồi đến những vận dụng thực tiễn. Nhờ vậy, công tác tư tưởng đã góp phần quan trọng vào những thành quả của sự nghiệp đổi mới. Hơn 34 năm qua đã để lại những bài học quý về đổi mới công tác tư tưởng.

GIỮ VỮNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN VÀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

Đây là bài học của toàn bộ sự nghiệp đổi mới và là bài học thứ nhất của đổi mới công tác tư tưởng. Bởi vì đổi mới không phải là rời bỏ mục tiêu XHCN mà tìm con đường, phương pháp, bước đi thích hợp theo mục tiêu đó.

Năm 1995, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã có một Nghị quyết rất quan trọng. Đó là Nghị quyết số 09 ngày 18/2/1995 về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay, chỉ ra và khẳng định một cách vững chắc hướng đi của sự nghiệp đổi mới và những nguyên tắc trong đổi mới công tác tư tưởng mà nội dung then chốt là: đổi mới vì mục tiêu CNXH, công tác tư tưởng luôn luôn do Đảng lãnh đạo, xây dựng chế độ dân chủ thực sự, Nhà nước của dân, do dân, vì dân,… Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 18/3/2002 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới, tiếp tục chỉ rõ phương hướng chung của công tác tư tưởng, lý luận trong những năm sắp tới là: kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo và các nguyên tắc hoạt động của Đảng… góp phần làm rõ hơn nữa con đường đi lên CNXH ở nước ta… Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 1/8/2007 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về công tác tư tưởng, lý luận, báo chí trước yêu cầu mới tiếp tục nhấn mạnh: Công tác tư tưởng, lý luận, báo chí phải đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, làm cho hệ tư tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hoá dân tộc, những tinh hoa văn hoá thế giới chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội.

Rõ ràng, công tác tư tưởng, lý luận đã được tiếp tục triển khai trên những nguyên tắc và phương hướng chỉ đạo của Đảng. Công tác tuyên truyền chính trị cũng được quán triệt theo những nội dung của những nguyên tắc đó. Truyền thống yêu nước và cách mạng của toàn Đảng, toàn dân đã được khơi dậy, cộng với nhận thức mới về CNXH và con đường xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN đã góp phần quan trọng ổn định và phát triển đất nước ta.

THỰC HIỆN DÂN CHỦ HÓA TRONG CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG

Đây là một bài học quan trọng có ý nghĩa then chốt. Chúng ta đã từng bước khắc phục căn bệnh áp đặt trong công tác tư tưởng gắn với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Thực hiện nguyên tắc dân chủ trong công tác tư tưởng, thể hiện qua mấy nội dung sau:

Thứ nhất: Tôn trọng các đối tượng của công tác tư tưởng. Đó là các cộng đồng xã hội, các tầng lớp dân cư, từ thế hệ trẻ, thanh niên, phụ nữ, lực lượng vũ trang, đến những người cao tuổi. Tất cả đều được chú ý, nghiên cứu đặc điểm, nhu cầu, nguyện vọng và cách tiếp cận để giúp đỡ, động viên. Thế hệ trẻ được quan tâm nhiều hơn trong công tác tư tưởng, theo hướng tôn trọng, phát huy vai trò của họ.

Thứ hai: Dân chủ trong lựa chọn phương pháp công tác tư tưởng. Trước hết, đó là sự khắc phục tính áp đặt, một chiều của công tác tư tưởng, từng bước tiếp cận những phương pháp mới thể hiện rõ tính dân chủ hơn. Đó là coi trọng những thông tin từ dưới lên, thực hiện thông tin hai chiều, là coi trọng ý kiến của nhân dân, nghiên cứu dư luận xã hội. Đáng chú ý là phương pháp đối thoại đã giúp cho cán bộ lãnh đạo và cán bộ tư tưởng gần gũi quần chúng hơn, trao đổi thẳng thắn với họ trong giải quyết những vấn đề cụ thể.

Thứ ba: Mở rộng các chủ thể làm công tác tư tưởng. Đó là các lực lượng và tổ chức trong hệ thống chính trị. Toàn Đảng làm công tác tư tưởng, trước hết, là từ trong Đảng. Mỗi đảng viên phải làm công tác tư tưởng mình trước. Và cùng với tổ chức Đảng, có bộ máy chính quyền, các đoàn thể chính trị – xã hội: Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Công đoàn, Hội Cựu chiến binh, Hội người cao tuổi… cùng với các tổ chức kinh tế ở địa phương, ngành, tạo thành một hệ thống hùng hậu, cùng với các binh chủng công tác tư tưởng như báo chí – xuất bản, văn hóa – văn nghệ, thông tin- tuyên truyền… tạo nên sức mạnh trong dư luận xã hội, áp đảo những tư tưởng thoái bộ, tiêu cực, đem lại hiệu quả ngày một tốt hơn.

CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG BÁM CHẮC CÁC MỤC TIÊU KINH TẾ – XÃ HỘI

Công tác tư tưởng là hoạt động thuộc kiến trúc thượng tầng, có tác dụng định hướng quan trọng, song nếu tách rời hiện thực xã hội thì không phát huy được tác dụng.

Trong các giai đoạn cách mạng, công tác tư tưởng luôn đi tới phục vụ đắc lực các mục tiêu chính trị của Đảng, của cách mạng; luôn phát hiện vấn đề trong thực tiễn tư tưởng cán bộ đảng viên và quần chúng cách mạng để xác định các giải pháp phù hợp. Trong cách mạng XHCN, nhất là trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, công tác tư tưởng, công tác tuyên giáo không chỉ dừng lại ở những yêu cầu chính trị chung, mà theo sát các nhiệm vụ kinh tế-xã hội của đất nước, của địa phương và mỗi cơ sở. Các hoạt động tư tưởng, từ nghiên cứu lý luận đến chỉ đạo thực tế, từ hoạt động báo chí-xuất bản, văn hóa-văn nghệ đến công tác khoa học, giáo dục… đều theo sát các nhiệm vụ kinh tế-xã hội, tìm vấn đề mới nảy sinh, phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp thúc đẩy.

Nét đổi mới quan trọng của công tác tư tưởng nhiều năm qua là, đã khắc phục mạnh mẽ tính trừu tượng chung chung, lý thuyết để trở lại gần hơn, thiết thực hơn với cuộc sống. Tuy nhiên, đây cũng là một quá trình không dễ dàng, trong đó đội ngũ cán bộ tư tưởng đã phấn đấu từng bước nhằm thay đổi tư duy. Nghiên cứu tài liệu sách vở vẫn rất là cần thiết nhưng có chọn lọc sát nhu cầu hơn và hướng nhiều vào đáp ứng thỏa đáng các bạn hỏi từ thực tiễn.

Chẳng hạn, từ những nguyên lý về kinh tế thị trường, đến những biểu hiện đặc trưng của nền kinh tế đó ở nước ta trong thời kỳ đổi mới. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam chứa đựng những quy luật kinh tế nào, tính phổ biến và tính đặc thù ra sao. Chẳng hạn, nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc gồm những thuộc tính đặc trưng nào, phương thức và phương châm xây dựng, phát triển ra sao? Trong hàng loạt các câu hỏi đó, công tác tư tưởng lý luận đã từng bước kết hợp lý luận với thực tiễn theo hướng bám sát thực tiễn, lý giải thực tiễn, bổ sung lý luận.

Công tác tuyên truyền chính trị, công tác báo chí-xuất bản cũng được đổi mới theo hướng bám sát thực tiễn kinh tế – xã hội và đã khẳng định đúng vị trí, vai trò của công tác tư tưởng như một thao tác phục vụ chính trị, kinh tế và xã hội; là một tác nhân thành công và cũng là một trong những nhân tố phải đồng trách nhiệm trước những hạn chế, tiêu cực trong thực tế.

NÂNG CAO TÍNH VĂN HÓA TRONG CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG

Công tác tư tưởng trong giai đoạn hiện nay, so với trước, phong phú, phức tạp và khó hơn nhiều. Đòi hỏi về tính văn hóa cao hơn, bởi vì các đối tượng của công tác tư tưởng có trình độ dân trí cao hơn, không chấp nhận những phương pháp cũ, hạn chế về tính thuyết phục, chừng nào có sự áp đặt.

Tính văn hóa trong công tác tư tưởng biểu hiện chủ yếu ở những mặt nào?

Trong những năm qua, tính văn hóa của các hoạt động tư tưởng được quan tâm và đã có bước tiến trên một số mặt, được ghi nhận. Tuy nhiên, vẫn còn những bất cập đáng kể phải tập trung ở chất lượng khoa học của hệ thống thông tin, do đó tính thuyết phục còn chưa cao.

Vấn đề đặt ra lâu dài là tính văn hóa trong công tác tư tưởng phải được quan tâm trên nhiều giác độ, từ khâu đào tạo, cơ cấu chương trình, nội dung nghiệp vụ; nâng cao nhận thức và tri thức đội ngũ cán bộ công tác tư tưởng. Đồng thời, công tác chỉ đạo luôn luôn có vai trò to lớn, làm cho các hoạt động tư tưởng ngày càng đạt chất lượng cao hơn, xét ở góc độ văn hóa.

NÂNG CAO TÍNH CHIẾN ĐẤU TRONG CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Tính chiến đấu là thuộc tính của công tác tư tưởng. Đảng của giai cấp công nhân là đảng chiến đấu cách mạng. Tuy nhiên, trong mỗi thời kỳ và giai đoạn cách mạng, tính chiến đấu của công tác tư tưởng thể hiện có khác nhau. Trong giai đoạn hiện nay, cùng với việc đấu tranh bác bỏ những luận điệu của các lực lượng thù địch, tính chiến đấu còn biểu hiện trong đấu tranh trong nội bộ Đảng, nội bộ nhân dân, nhằm khắc phục những thói hư, tật xấu, những nhận thức lệch lạc cần chỉnh đốn.

Trong sự nghiệp đổi mới, công tác tư tưởng của Đảng đã trải qua những cuộc đấu tranh gay gắt và quyết liệt, nhằm bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, bảo vệ mục tiêu lý tưởng của Đảng. Đấu tranh trên hai mặt trận luôn luôn là một quy luật của phong trào công nhân, đấu tranh với kẻ thù và đấu tranh trong nội bộ để củng cố tư tưởng và lực lượng ngày càng vững chắc. Không có tính chiến đấu thì công tác tư tưởng không thể đạt được kết quả. Bởi vì kẻ thù không dễ dàng lùi bước cho các lực lượng tích cực. Và những phần tử cơ hội chính trị cũng rất “cố thủ” để duy trì những luận điệu của họ. Đó là chưa nói tới những biểu hiện tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong Đảng và trong xã hội, nếu không đấu tranh kiên quyết sẽ không khắc phục và đẩy lùi được.

Mặt khác, trong đấu tranh và qua đấu tranh, đội ngũ cán bộ tư tưởng càng trưởng thành hơn, kiên định hơn, dứt khoát hơn, tạo thêm điều kiện trực tiếp bảo đảm công tác tư tưởng có tính chiến đấu sắc bén hơn.

Đúng như đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương đã nhấn mạnh tại Hội nghị Tổng kết công tác tuyên giáo năm 2019, triển khai nhiệm vụ năm 2020, rằng “Ngành Tuyên giáo phải là lực lượng nòng cốt, kết nối lực lượng, đấu tranh kịp thời với các luận điệu chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phần tử phản động, cơ hội chính trị, nhất là việc lợi dụng góp ý để tán phát các thông tin, quan điểm sai trái chống phá Đảng, Nhà nước”.

ĐOÀN KẾT TRONG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ, THƯỜNG XUYÊN HIỆP ĐỒNG GIỮA CÁC BINH CHỦNG VÀ HÌNH THÁI CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG

Công tác tư tưởng vừa cụ thể vừa gắn với những phạm vi rộng lớn của đất nước và xã hội. Trong xây dựng đội ngũ cán bộ công tác tuyên giáo rất cần sự đoàn kết hợp đồng tác chiến. Đó còn là sự liên kết gắn bó giữa các hình thái công tác tư tưởng, giữa nghiên cứu lý luận và giáo dục, giữa công tác lý luận và công tác tuyên truyền, giữa công tác huấn học và công tác báo chí, giữa các loại hình báo chí, các hình thức tuyên truyền cổ động; kết hợp giữa tuyên truyền cổ động với các hoạt động văn hóa, văn học-nghệ thuật trên các phạm vi xã hội. Tất cả đều tác động vào tư tưởng, tình cảm của cán bộ và quần chúng nhân dân./.

TS. Đỗ Khánh Tặng

Đồng chí Châu Tiến Lộc, Ban Tuyên giáo Thành đoàn Thành phố Hồ Chí Minh:

Sắt son niềm tin

Hơn 10 năm gắn bó với công tác tuyên giáo từ những ngày còn là sinh viên Học viện Hành chính Quốc gia, bài học kinh nghiệm đối với tôi – một cán bộ Đoàn làm công tác tuyên giáo, là phải luôn giữ vững niềm tin… Điều đó có nghĩa là, trước hết, mỗi cán bộ Đoàn làm công tác tuyên giáo phải am hiểu truyền thống cách mạng, lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam và phải hun đúc một tình yêu mãnh liệt đối với công việc mình đang làm, điều mà chúng ta hay nhắc đến bằng cụm từ “Sắt son niềm tin trước mọi thử thách”.

Sắt son niềm tin là sự tin tưởng, thuỷ chung, không bao giờ đổi thay, phai nhạt.Với những cán bộ Đoàn làm công tác tuyên giáo, đó vừa là tình cảm cách mạng nhưng cũng là sự biết ơn đối với sự dẫn dắt của Đảng với Đoàn, với tuổi trẻ trong quá trình rèn luyện và trưởng thành. Đó cònlà niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng;một lòng,một dạ kiên trung vớilý tưởng cách mạng củaĐảng, vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vào công cuộc Đổi mới của đất nước.

Tình yêu và niềm tin ấy phải được chuyển hóa thành hành động. Đó là trách nhiệm trong phát ngôn, bài viết, sản phẩm tuyên truyền của cán bộ Đoàn làm công tác tuyên giáo; nói việc cụ thể, làm việc cụ thể, thực hành nêu gương để những giá trị của đạo đức, uy tín và sức thuyết phục, cảm hóa của người cộng sản được lan tỏa, dẫn dắt, truyền cảm hứng thúc đẩy mọi hành động của đoàn viên, thanh thiếu nhi và người dân.

Cán bộ Đoàn làm công tác tuyên giáo trước tiên phải tôi luyện, tự làm tư tưởng tốt cho chính mình, vượt quachính mình trướcnhững cám dỗvật chất, lợi ích cá nhân, tâm lý chủ quan duy ý chí và tư tưởng trung bình chủ nghĩa. Như lời căn dặn của lãnh tụ giai cấp vô sản V. I.Lênin: “Tôi không sợ khó, không sợ khổ, tôi chỉ sợ những phút yếu mềm của lòng tôi. Đối với tôi chiến thắng bản thân là chiến thắng vẻ vang nhất”.

Tình yêu và niềm tin ấy còn phải được hun đúc trong quá trình học tập và sáng tạo gắn liền với sự phát triển của thực tiễn. Những biến đổi to lớn của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đòi hỏi mỗi cán bộ Đoàn làm công tác tuyên giáo phải chủ động, tích cực vận dụng những thành tựu của khoa học – công nghệ vào việc luận giải và làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là cách chúng ta “thêm da, thêm thịt” cho “sườn” lý luận bằng thực tiễn sinh động nhằm tiếp tục khẳng định chân giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà Đảng ta luôn kiên định.

Đồng chí Nguyễn Văn Chiển, Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng:

Nâng cao hiệu quả hoạt động tuyên huấn trong Quân đội

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, thiết nghĩ, cơ quan tuyên huấn các cơ quan, đơn vị cần chủ động hơn nữa trong việc nắm, quản lý và dự báo chính xác tình hình tư tưởng; sắc sảo trong tham mưu, định hướng, từ đó giúp chỉ huy các cấp giải quyết kịp thời, hiệu quả các vấn đề mới nảy sinh. Cùng với đó, cần tiếp tục thực hiện hiệu quả Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”; tiến hành đồng bộ các giải pháp giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là trong việc nhận diện âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ. Tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; kịp thời phản bác quan điểm sai trái, thông tin xấu độc trên không gian mạng. Trước các sự kiện phức tạp, các vấn đề nhạy cảm, cơ quan tuyên huấn các cấp cần chủ động hơn nữa trong việc tham mưu, đề xuất, định hướng thông tin để tạo sự đồng thuận, giúp quân nhân và người dân hiểu đúng bản chất vấn đề, tránh để kẻ xấu lợi dụng bóp méo, xuyên tạc, suy diễn thông tin gây hoang mang trong dư luận… Ngoài ra, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị các đơn vị cần quan tâm xây dựng cơ quan tuyên huấn và đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên huấn giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, nhiệt tình, trách nhiệm, có tác phong làm việc khoa học, mềm dẻo, đủ khả năng thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Đồng chí Hoàng Chung, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bắc Giang:

Cần sự đổi mới từ chính mỗi cán bộ tuyên giáo

Thực tiễn cuộc sống luôn đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi ngày một cao hơn đối với công tác tuyên giáo nói chung và cán bộ tuyên giáo nói riêng. Vì vậy, cần không ngừng đổi mới về nội dung, phương thức công tác sao cho phù hợp, hiệu quả.

Trên cơ sở những nhiệm vụ chính, xuyên suốt của công tác tuyên giáo, hệ thống tuyên giáo các cấp cần bám sát những chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác tư tưởng nói chung, công tác tuyên giáo nói riêng, đặc biệt là điều kiện, tình hình thực tế tại địa phương, cơ sở, thay đổi của tình hình trong nước, thế giới để tham mưu cho cấp ủy những nhiệm vụ trọng tâm, cụ thể, những phương thức sáng tạo trong triển khai thực hiện.

Tiếp tục dạng hóa nội dung và hình thức tuyên truyền, đảm bảo tính nhanh nhạy, kịp thời, sinh động, hấp dẫn, thuyết phục cao. Đẩy mạnh tuyên truyền qua hình thức nêu gương, xây dựng và nhân rộng điển hình tiên tiến; biểu dương, khen thưởng kịp thời để tạo hiệu ứng tích cực, sự lan tỏa trong cộng đồng. Đồng thời, tận dụng thành tựu công nghệ thông tin, kỹ thuật, công nghệ mới để tăng cường đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, loại bỏ những thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội, đảm bảo an ninh trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Quan tâm kiện toàn, bồi dưỡng nghiệp vụ đội ngũ cộng tác viên dư luận xã hội, nhất là ở cơ sở. Đổi mới và đa dạng hóa cách thức hoạt động, nắm bắt thông tin để kịp thời đánh giá, tham mưu cho cấp ủy trong giải quyết, xử lý những vấn đề nổi cộm, bức xúc ngay từ cơ sở, không để bùng phát thành điểm nóng.

Tăng cường phối hợp giữa ngành Tuyên giáo với chính quyền các cấp trong việc tuyên truyền, giải quyết những vấn đề nóng, bức xúc tại địa phương, cơ sở. Tăng cường phối hợp với các cấp, các ngành trong việc tuyên truyền, giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, đồng bào dân tộc thông qua nhiều hình thức đa dạng, phù hợp như: hội thi, hội diễn, tọa đàm, thi tìm hiểu trên internet…

Điều quan trọng hơn cả, cần đổi mới trong chính mỗi cán bộ làm công tác tuyên giáo. Cán bộ tuyên giáo trước khi làm tốt công tác tư tưởng cho người khác thì cần làm tốt công tác tư tưởng cho chính mình. Cần nỗ lực rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống; xây dựng niềm tin và tâm huyết trong nghề để luôn vững vàng, kiên định lập trường, trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân. Đồng thời, cần không ngừng học hỏi để nâng cao kiến thức, hiểu biết, nâng cao trình độ, kỹ năng, nghiệp vụ, để nói và viết đúng, có sức thuyết phục, cảm hóa cao. Tăng cường sâu sát cơ sở để kịp thời nắm bắt, chủ động, sáng tạo trong tham mưu, đề xuất, giải quyết, xử lý các vấn đề, để thực hiện nhiệm vụ công tác tuyên giáo hiệu quả.

Nguồn: Tạp chí của Ban Tuyên giáo Trung ương

Bạn đang đọc nội dung bài viết Đại Hội Đoàn Luật Sư Tỉnh Quảng Ninh trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!