Đề Xuất 2/2023 # Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Sóc Trăng Lần Thứ Xiv # Top 9 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 2/2023 # Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Sóc Trăng Lần Thứ Xiv # Top 9 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Sóc Trăng Lần Thứ Xiv mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trong nhiệm kỳ 2015-2020, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã tập trung thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII; trong 24 chỉ tiêu chủ yếu, có 18 chỉ tiêu thực hiện đạt và vượt, 2 chỉ tiêu cơ bản đạt. Theo đó, công tác cải cách hành chính của tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực, hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước được nâng lên; chỉ số cải cách hành chính tiếp tục tăng hạng qua các năm. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực được quan tâm thực hiện; kết cấu hạ tầng được tập trung đầu tư, cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn tỉnh…

Kinh tế của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2016-2020 đạt 6,15%/năm; GRDP bình quân đầu người năm 2020 đạt 2.110 USD. Trong nhiệm kỳ 2020-2025, mục tiêu tổng quát của Sóc Trăng là xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; tăng cường quốc phòng, an ninh; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; đẩy mạnh phát triển kinh tế gắn với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, đưa tỉnh Sóc Trăng phát triển nhanh, bền vững…

Đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương phát biểu chỉ đạo đại hội.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đồng chí Phạm Minh Chính biểu dương và đánh giá cao kết quả đạt được của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Sóc Trăng trong nhiệm kỳ qua. Đồng chí Phạm Minh Chính cũng cho rằng tuy đạt được nhiều thành tựu nhưng Sóc Trăng vẫn còn một số hạn chế cần được phân tích, phát hiện và nhanh chóng khắc phục, như: Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức đảng còn hạn chế. Tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số một số nơi chưa bảo đảm, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp. Công tác quản lý, điều hành của chính quyền các cấp trên một số mặt còn hạn chế, bất cập, nhất là giải quyết thủ tục hành chính. Lợi thế, tiềm năng, thế mạnh của tỉnh chưa được phát huy hiệu quả…

Trong nhiệm kỳ tới, đồng chí Phạm Minh Chính đề nghị Đảng bộ và nhân dân tỉnh Sóc Trăng cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung như: Tiếp tục giữ gìn, củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng bộ và cả hệ thống chính trị, tạo sự đồng thuận cao của các tầng lớp nhân dân. Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, tạo thành sức mạnh tổng hợp, đưa Sóc Trăng phát triển nhanh, bền vững. Tập trung đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, đặc biệt chú trọng đổi mới phương thức lãnh đạo bằng việc nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp; củng cố, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của UBND các cấp. Tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế – xã hội; giữ gìn và phát triển văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, phát huy tối đa bản sắc văn hóa các dân tộc, nhất là ở khu vực nông thôn và đồng bào Khmer; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và gắn với thế trận lòng dân vững chắc, không để bị động, bất ngờ từ cơ sở; chủ động phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống những âm mưu, hành vi lợi dụng tôn giáo, dân tộc để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.

Tin, ảnh: HỒNG ĐĂNG

Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Sơn La Lần Thứ Xiv

( được Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV thông qua ngày 24.9.2015)

Tán thành với những nội dung cơ bản về đánh giá 5 năm 2010 – 2015 thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII và mục tiêu, chủ trương, các giải pháp lớn của 5 năm 2015 – 2020 nêu trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIII trình Đại hội:

1- Về đánh giá tình hình 5 năm 2010 – 2015

Năm năm qua, trong điều kiện có nhiều khó khăn, nhưng Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã nỗ lực phấn đấu và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Kinh tế duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực; so với cuối nhiệm kỳ trước, quy mô nền kinh tế gấp 1,7 lần, thu ngân sách trên địa bàn gấp 3,5 lần, thu nhập bình quân đầu người gấp 2 lần… ; hạ tầng kinh tế, xã hội được đầu tư, hoàn thiện một bước; đã đạt mục tiêutrở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực miền núi phía Bắc” “sớm đưa Sơn La ; chính trị – xã hội ổn định, khối đoàn kết các dân tộc được củng cố, quốc phòng được đảm bảo, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, đối ngoại được tăng cường; các vấn đề xã hội bức xúc được tập trung giải quyết, nhất là tội phạm và tệ nạn ma tuý; các lĩnh vực văn hoá và giáo dục, khoa học và công nghệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái có bước tiến bộ; công tác xây dựng Đảng đạt những kết quả tích cực, hệ thống chính trị được củng cố, kiện toàn, nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành. Kết quả đạt được trong 5 năm qua có ý nghĩa rất quan trọng, tạo điều kiện và tiền đề thuận lợi để tỉnh ta tiếp tục phát triển nhanh và bền vững hơn trong những năm tới.

… Các hạn chế, yếu kém nêu trên có nguyên nhân khách quan là do chịu ảnh hưởng bất lợi từ những khó khăn chung của kinh tế trong nước; những khó khăn vốn có của tỉnh, vị trí địa – kinh tế không thuận lợi, hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội chưa đồng bộ, n ăng lực lãnh đạo của không ít cấp uỷ, tổ chức đảng chưa ngang tầm nhiệm vụ ; kỷ luật, kỷ cương có nơi chưa nghiêm; kiểm tra, giám sát việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ, xử lý sai phạm của cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên có mặt còn hạn chế; phối hợp Song cơ bản và trực tiếp vẫn là những nguyên nhân chủ quan, đó là: Khả năng dự báo trong một số lĩnh vực còn yếu; sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, điều hành của chính quyền trên một số lĩnh vực chưa tập trung, kiên quyết, dứt điểm; tổng kết thực tiễn, nhân rộng mô hình chưa tốt; tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, giữa các cơ quan, đơn vị thiếu đồng bộ .

2- Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo trong nhiệm kỳ qua, rút ra một số kinh nghiệm sau:

, đổi mới phương thức lãnh đạo của tỉnh ủy, của cấp ủy các cấp phải đi đôi với giữ nghiêm các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng; phải xác định, lựa chọn được những nội dung trọng tâm, trọng điểm để ban hành chủ trương, thống nhất nhận thức, kiên trì, kiên quyết trong lãnh đạo thực hiện. Các chủ trương lãnh đạo phải cụ thể, ngắn gọn, phải gắn với việc ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện; thường xuyên đánh giá, sơ kết để bổ sung, sửa đổi phù hợp.

3- Dự báo tình hình trong những năm sắp tới

– Ở trong nước: ổn định chính trị, là những yếu tố thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh trong thời gian tới; những thành tựu và kinh nghiệm sau 30 năm đổi mới đã tạo ra cho nước ta thế và lực, sức mạnh tổng hợp lớn hơn; kinh tế nước ta đang lấy lại đà tăng trưởng sau suy giảm; bước vào giai đoạn thực hiện đầy đủ cam kết trong cộng đồng ASEAN, WTO và các hiệp định thương mại tự do, hội nhập quốc tế sâu rộng hơn giai đoạn trước. Tuy nhiên, kinh tế vĩ mô ổn định nhưng chưa vững chắc; năng suất, chất lượng, hiệu quả sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; sản xuất kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn; hạ tầng thiếu đồng bộ; nguồn lực hỗ trợ đầu tư cho các địa phương giảm,… là những yếu tố sẽ có tác động trực tiếp tới việc thực hiện các nhiệm vụ của tỉnh trong những năm tới.

– Bước vào thực hiện nhiệm 5 năm tới, tỉnh ta có nhiều thuận lợi. Thế và lực của tỉnh đã vững mạnh hơn; kinh tế đã có sự chuyển biến căn bản, luôn giữ được mức tăng trưởng khá trong nhiều năm; xuất hiện nhiều nhân tố tạo động lực mới cho sự phát triển như phát triển công nghiệp thuỷ điện, khai khoáng, chương trình phát triển cây cao su, chế biến nông sản xuất khẩu, sản xuất rau hoa chất lượng cao, bò sữa, du lịch… tạo tiền đề quan trọng để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đặc biệt là chính trị, xã hội ổn định, đời sống nhân dân được cải thiện và đang nâng cao là tiền đề vững chắc và thuận lợi cơ bản để đẩy nhanh phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng và củng cố hệ thống chính trị trong thời gian tới. những biến động khó lường của kinh tế thế giới, việc cắt giảm thuế quan, hạn ngạch các mặt hàng nông sản hàng hoá nhập khẩu theo lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới tỉnh ta; biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh có diễn biến khó lường; cùng với vị trí địa – kinh tế không thuận lợi, một số yếu kém vốn có của tỉnh như hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội chưa đồng bộ, hộ nghèo tỷ lệ còn cao so với cả nước; các lĩnh vực y tế, giáo dục, đào tạo nghề, giải quyết việc làm còn nhiều bất cập; ô nhiễm môi trường, di cư không theo quy hoạch, tội phạm ma túy, tai nạn giao thông còn phức tạp, tệ tham nhũng và lãng phí, một số địa bàn còn tiềm ẩn những yếu tố có thể gây mất ổn định… là những nhiệm vụ phải tập trung giải quyết trong thời gian tới.

4- Mục tiêu và chủ trương trong 5 năm tới 2015 – 2020

4.1- Mục tiêu tổng quát Tăng cường xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu; xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh; phát huy dân chủ và sức mạnh đoàn kết các dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, tập trung phát triển kinh tế nông lâm nghiệp và xây dựng nông thôn mới; giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo quốc phòng, an ninh; sớm xây dựng Sơn La trở thành tỉnh phát triển khá trong vùng Trung du và miền núi phía Bắc .

Tập trung cơ cấu lại ngành nông nghiệp, phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, ứng dụng công nghệ cao, chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu sản xuất gắn với phát huy lợi thế của địa phương và thị trường tiêu thụ; t ập trung thực hiện hiệu quả chương trình xây dựng nông thôn mới, ổn định đời sống nhân dân tại các vùng có điều kiện kinh tế – xã hội còn đặc biệt khó khăn.

Phát triển công nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh, hàm lượng khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường. Nâng cao hiệu quả hoạt động thương mại, phát triển nhanh khu vực dịch vụ, ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ có tiềm năng lớn và sức cạnh tranh cao, trọng tâm là phát triển kinh tế du lịch. Đ ẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh để mở rộng và nuôi dưỡng các nguồn thu, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính trong dân và các thành phần kinh tế, phát huy vai trò các tổ chức tín dụng trong cung ứng nguồn lực cho phát triển kinh tế.

Tăng cường các hoạt động xúc tiến, thu hút đầu tư để tranh thủ huy động tối đa các nguồn lực phục vụ mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội; tiếp tục khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển; hoàn thiện quy hoạch và xây dựng chiến lược đầu tư phát triển các vùng kinh tế của tỉnh; tập trung ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống đồng bào vùng tái định cư các công trình thuỷ điện, các dự án phát triển kinh tế – xã hội.

Về xây dựng Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị: Tăng cường xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, đẩy mạnh và kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI về xây dựng Đảng; đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo; nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên ; nâng cao chất lượng, hiệu quả điều hành của chính quyền các cấp; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác cải cách hành chính; x ây dựng, củng cố vững chắc khối đoàn kết các dân tộc, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

4.3- Phấn đấu đạt được các chỉ tiêu chủ yếu:

(1) Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (– Các chỉ tiêu bình quân hằng năm giai đoạn 2015 – 2020: GRDP) bình quân khoảng 10%. (2) Kim ngạch xuất khẩu bình quân đạt 60 triệu USD/năm. (3) Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 3% trở lên, trong đó các huyện nghèo giảm 4 – 5% ( theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016 – 2020); đến năm 2020 không còn hộ nghèo đa chiều nghiêm trọng. (4) Tỷ lệ gia đình văn hóa tăng bình quân từ 1 – 1,5%/năm. (5) Hằng năm có 90% tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên, trong đó có 50% đạt trong sạch vững mạnh; có từ 80% trở lên đảng viên được xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ, trong đó có 15% hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ .

(6) Thu nhập bình quân đạt khoảng 2.000 USD/người (. (19) 100% cơ sở (– Các chỉ tiêu phấn đấu đạt được vào năm 2020: tương đương 42,8 triệu đồng). (7) Cơ cấu kinh tế: Dịch vụ khoảng 48%, nông lâm nghiệp khoảng 28%, công nghiệp – xây dựng khoảng 24%. (8) Thu ngân sách trên địa bàn đạt 5.000 tỷ đồng. (9) Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm ( 2016-2020) đạt 80.000 tỷ đồng. (10) Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 50 – 55%, trong đó được cấp bằng, chứng chỉ đạt 15 – 20%. (11) Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm còn dưới 20%. (12) 70% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; đạt 7,5 – 8 bác sỹ và 25 giường bệnh/1 vạn dân. (13) Phấn đấu có 50% số xã đạt 10 tiêu chí cơ bản trở lên về nông thôn mới ( bản, tiểu khu, tổ dân phố, trường học, trạm y tế) có chi bộ; 100% bí thư chi bộ và trưởng bản, tiểu khu, tổ dân phố được tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ; 100% cán bộ, công chức xã đạt chuẩn về trình độ quy hoạch, giao thông, thuỷ lợi, điện, trường học, trạm y tế, bưu điện, việc làm, thu nhập, an ninh trật tự và hệ thống tổ chức chính trị…); trong đó có 23 xã trở lên đạt chuẩn nông thôn mới; không còn xã thuộc nhóm khó khăn dưới 5 tiêu chí. (14) 100% xã có đường ôtô đến trung tâm đi được 4 mùa; tập trung phát triển đường giao thông đến bản ( cơ bản bê tông hoá đường nội bộ bản các điểm có dân cư bố trí tập trung). (15) Tỷ lệ che phủ rừng đạt 50%. (16) 90% chất thải rắn ở đô thị, 75% ở nông thôn được thu gom; 100% cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý. (17) 97,5% hộ gia đình được dùng điện quốc gia. (18) 100% cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trường học, trạm y tế đạt tiêu chuẩn không có ma tuý; trên 80% xã, phường, thị trấn và trên 95% tổ bản đạt tiêu chuẩn không có ma tuý và cơ bản đạt tiêu chuẩn 4 không về ma tuý .

Trong nhiệm kỳ khoá XIV, trên cơ sở quán triệt và thực hiện toàn diện các chủ trương, giải pháp nêu trong Báo cáo chính trị, cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4, khoá XI về xây dựng Đảng và Chỉ thị số 03 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trọng tâm là các nội dung : (1) nêu cao trách nhiệm, chấn chỉnh tác phong của cán bộ, đảng viên; (2) đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp uỷ các cấp; (3) tăng cường kiểm tra, giám sát, phòng ngừa sai phạm trong tổ chức đảng và đảng viên; (4) đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí; (5) tập trung cho công tác cán bộ, trọng tâm là quy hoạch, đào tạo và bố trí cán bộ, đảm bảo đội ngũ cán bộ các cấp đủ năng lực, phẩm chất, uy tín, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; mở rộng hình thức thi tuyển các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý .

xây dựng chính quyền, các cơ quan tư pháp vững mạnh:

bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong mọi tình huống:

– Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Trọng tâm là chuyển hoá xong các địa bàn trọng điểm, phức tạp về an ninh trật tự thành địa bàn không có tội phạm hoặc ít phức tạp. Tập trung thực hiện công tác phòng chống và kiểm soát ma tuý; đến năm 2020, có 100% cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trường học, trạm y tế đạt tiêu chuẩn không có ma tuý; trên 80% xã, phường, thị trấn và trên 95% tổ bản ” đạt tiêu chuẩn không có ma tuý” và ” cơ bản đạt tiêu chuẩn 4 không về ma tuý“.

hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo động lực thu hút đầu tư phát triển; trọng tâm là thu hút nguồn lực để đầu tư một số dự án là Khu di tích lịch sử đặc biệt Việt Nam – Lào tại bản Lao Khô, xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu; ” Tượng đài Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Tây Bắc ” gắn với Quảng trường tại thành phố Sơn La; Khu di tích Quốc gia đặc biệt Nhà tù Sơn La và một số công trình trọng điểm khác của tỉnh.

Tám là, tạo sự đột phá trong kinh tế nông lâm nghiệp; trọng tâm là:

, trọng tâm là : các xã có đường ô tô tới trung tâm xã đi được 4 mùa, có trường học, trạm y tế, trụ sở làm việc; đối với các bản có điện quốc gia, tập trung phát triển đường giao thông đến bản ( Sáu là, hoàn thiện hạ tầng các xã, bản đặc biệt khó khăn cơ bản bê tông hoá đường nội bộ bản các điểm có dân cư bố trí tập trung), xem được truyền hình của tỉnh qua vệ tinh.

Triển khai Dự án nuôi, chế biến, xuất khẩu thịt cá tầm và trứng cá tầm đen; đến năm 2020 sản lượng đạt khoảng 2.700 tấn cá, sản lượng trứng cá tầm đen đạt khoảng 20 tấn, giá trị xuất khẩu đạt 20 triệu USD; định hướng 2025 đạt sản lượng 4.500 tấn cá, 50 tấn trứng cá tầm đen, giá trị xuất khẩu 70 triệu USD.

– Triển khai Đề án hỗ trợ phát triển lâm sản ngoài gỗ theo nguyên tắc khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư trồng rừng sản xuất gắn với chế biến, trồng các cây đa mục tiêu như cây mắc ca, sơn tra, song mây, tre luồng, dược liệu dưới tán rừng… để người dân có thu nhập thực chất bằng nghề rừng; hỗ trợ lương thực cho nhân dân một số vùng có rừng đặc dụng, rừng phòng hộ xung yếu để nhân dân không làm nương rẫy chuyển sang trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng.

– Thông qua Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIII trình Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV. Giao Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIV tiếp thu ý kiến Đại hội, phát huy ưu điểm, đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác trong nhiệm kỳ mới 2015-2020.

Giao Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIV căn cứ vào Nghị quyết Đại hội, trên cơ sở quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, xây dựng chương trình hành động, các kế hoạch công tác để nhanh chóng đưa Nghị quyết Đại hội đi vào thực hiện trong thực tiễn.

VI- Đại hội kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên, chiến sỹ các lực lượng vũ trang, nhân dân các dân tộc trong tỉnh phát huy truyền thống cách mạng và đoàn kết, tự lực tự cường, chủ động sáng tạo, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, quyết tâm phấn đấu hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV./.

Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Nghệ An Lần Thứ Xviii

Sáng 13/10, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2015 – 2020 được khai mạc trọng thể. Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc – Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ thay mặt Bộ Chính trị, Ban bí thư Trung ương Đảng về dự và chỉ đạo Đại hội. Về dự Đại hội còn có đồng chí Trần Đức Lương – Nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, Nguyên Chủ tịch nước. Các đồng chí: Nguyễn Phú Trọng – Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng, Trương Tấn Sang – Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước, Nguyễn Tấn Dũng – Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ, Nguyễn Sinh Hùng – Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội gửi lẵng hoa chúc mừng Đại hội.Đại hội cũng vinh dự được đón đại diện lãnh đạo các Bộ, ban, ngành Trung ương và các tỉnh bạn.

Đoàn Chủ tịch do Đại hội bầu ra trong phiên trù bị (chiều 12/10) gồm 15 đồng chí, trong đó có các đồng chí: Hồ Đức Phớc – Bí thư Tỉnh uỷ; Trần Hồng Châu – Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh; Nguyễn Xuân Đường – Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh; Lê Quang Huy – Phó Bí thư Tỉnh uỷ. Đại hội có sự tham gia của 450 đại biểu đến từ các đảng bộ trực thuộc Tỉnh uỷ và 350 đại biểu khách mời.

Tại Đại hội, Bí thư Tỉnh uỷ Hồ Đức Phớc trình bày tóm tắt Báo cáo chính trị của Đảng bộ trình Đại hội khoá XVIII. Trong đó đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII với những thành tựu đáng chú ý trên mọi lĩnh vực.

Kinh tế tăng trưởng khá và chuyển dịch đúng hướng. Tốc độ tăng trưởng bình quân cả nhiệm kỳ đạt 7,89%; thu nhập bình quân đầu người cuối nhiệm kỳ tăng gần gấp 2 lần so với đầu nhiệm kỳ; thu ngân sách năm 2015 dự kiến đạt 10.034 tỷ đồng, gấp 2,5 lần so với năm 2010. Hạ tầng kinh tế được chú trọng đầu tư đồng bộ, đặc biệt là hạ tầng giao thông, công nghiệp với nhiều công trình, dự án lớn trong nhiệm kỳ như: đường Tây Nghệ An; đường Châu Thôn – Tân Xuân; cầu Bến Thủy 2; 6 cầu vượt; cảng Cửa Lò (nâng cấp cho tàu trên 1 vạn tấn vào ra); Cảng hàng không quốc tế Vinh; Khu công nghiệp, đô thị và dịch vụ VSIP Nghệ An; Nhà máy xi măng Sông Lam 1 và 2; Nhà máy Tôn Hoa Sen; Nhà máy sữa TH; Nhà máy chế biến thực phẩm Massan; Nhà máy chế biến cá Royal Foods; Nhà máy điện tử BSE;…Hạ tầng nông thôn được nâng cấp với 27% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, dự kiến hết năm 2015 có 1 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn.

Văn hoá – xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên. Đặc biệt, ngành giáo dục của tỉnh đạt được nhiều thành tích nổi bật trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, khu vực, quốc tế và các kỳ thi phổ thông. Năm 2015, 65% các trường đạt chuẩn quốc gia, đạt mục tiêu đề ra.

Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, lao động việc làm, an sinh xã hội có nhiều chuyển biến tích cực. Đến năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo còn 7,5 – 8%, vượt mục tiêu 10% Nghị quyết đề ra.

Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại cũng là một trong những dấu ấn nổi bật của nhiệm kỳ.

Bên cạnh đó, Đại hội cũng khách quan nhìn nhận những tồn tại, hạn chế trong nhiệm kỳ 2010 – 2015, phân tích nguyên nhân và bàn các giải pháp để nâng cao tốc độ tăng trưởng, phát triển của kinh tế – xã hội tỉnh nhà trong nhiệm kỳ 2015 – 2020, hoàn thành thắng lợi mục tiêu Nghị quyết Đại hội XVIII, trở thành tỉnh khá, tỉnh công nghiệp, là trung tâm của khu vực Bắc Trung Bộ như Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị đề ra.

“Hôm nay, tôi rất vui mừng về quê hương Bác Hồ kính yêu dự Đại hội lần thứ XVIII Đảng bộ tỉnh Nghệ An. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi nhiệt liệt chào mừng và chúc các đồng chí đại biểu và các vị khách quý của Đại hội mạnh khoẻ, hạnh phúc, chúc Đại hội thành công tốt đẹp.

… Chúng ta vui mừng nhận thấy trong nhiệm kỳ qua, mặc dù tình hình của tỉnh gặp không ít khó khăn do tác động của tình hình thế giới và khu vực, tình hình biển Đông diễn biến phức tạp và khó lường, kinh tế trong nước phục hồi chậm, thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu bất thường, tác động không thuận lợi đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân, song với quyết tâm cao, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An đã nỗ lực phấn đấu, tranh thủ thời cơ, phát huy lợi thế, khắc phục khó khăn, vượt qua thách thức, giành được nhiều thành tựu quan trọng, đạt và vượt nhiều chỉ tiêu do Đại hội XVII Đảng bộ tỉnh đề ra… Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi nhiệt liệt biểu dương và chúc mừng Đảng bộ và nhân dân Nghệ An về những thành tựu quan trọng đã đạt được trong nhiệm kỳ qua.

Thứ nhất, cần tập trung thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 26 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020, với mục tiêu tổng quát là nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng, tăng cường đoàn kết, thống nhất, phát huy nội lực, tận dụng thu hút mọi nguồn lực, phấn đấu xây dựng Nghệ An trở thành tỉnh khá khu vực phía Bắc, tạo cơ sở đến năm 2020 cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp, có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, từng bước hiện đại, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng cao, có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc xứ Nghệ, quốc phòng an ninh vững mạnh, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm.

Vì vậy, cần triển khai tốt quy hoạch đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH Nghệ An đến năm 2020, quy hoạch thành phố Vinh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, đề án phát triển KT-XH miền Tây Nghệ An đến năm 2020, xây dựng và triển khai thực hiện các quy hoạch cần đồng bộ khoa học với tầm nhìn dài hạn, trên cơ sở quy hoạch, cần xây dựng kế hoạch triển khai cân đối nguồn lực cụ thể, xác định đúng thứ tự ưu tiên theo yêu cầu giải quyết trước các vấn đề cấp bách, nhanh chóng phát huy hiệu quả, tạo nguồn lực và có cơ sở để thực hiện các bước đi tiếp theo.

Thứ hai, đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo yêu cầu năng cao sức cạnh tranh, phát triển nhanh, bền vững, hết sức coi trọng tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển một nền nông nghiệp đa chức năng, nông nghiệp sinh thái, ứng dụng công nghệ cao để nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

Khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn phát triển các vùng sản xuất tập trung quy mô lớn gắn với công nghiệp chế biến và xuất khẩu, góp phần tạo bước đột phá trong chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp. Tăng nhanh tỷ trọng giá trị chăn nuôi. Phát triển mạnh, nâng cao hiệu quả nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản. Phát triển nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, trở thành một phong trào cách mạng, có nhiều cách làm sáng tạo, hiệu quả để thu hút nguồn lực xã hội trong phát triển nông nghiệp nông thôn.

Tập trung phát triển công nghiệp chế biến theo hướng đầu tư thiết bị, công nghệ chế biến hiện đại, chế biến các mặt hàng xuất khẩu, tập trung vào các ngành mũi nhọn có lợi thế so sánh. Thu hút đầu tư phát triển các dự án công nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin, công nghiệp hỗ trợ, trọng tâm là công nghiệp phần mềm, phần cứng và công nghiệp nội dung số. Đầu tư chiều sâu, hiện đại, nâng cao hiệu quả khai thác chế biến khoáng sản, bảo vệ tài nguyên môi trường. Xây dựng Khu kinh tế Đông Nam thành khu kinh tế đa ngành, đa chức năng. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng khu kinh tế, các khu công nghiệp. Tập trung thu hút nhà đầu tư vào Khu công nghiệp, dịch vụ và đô thị VSIP Nghệ An, Khu công nghiệp Hoàng Mai 1, Khu công nghiệp Đông Hồi…

Phát triển các ngành dịch vụ, du lịch và thương mại với tốc độ nhanh, bền vững. Nâng cao hơn nữa vai trò của dịch vụ đối với nền kinh tế, hỗ trợ, thúc đẩy các ngành, lĩnh vực khác phát triển. Tập trung phát triển các lĩnh vực dịch vụ tài chính ngân hàng, đào tạo nguồn nhân lực, y tế, du lịch, thương mại, vận tải và thông tin truyền thông trở thành trung tâm của vùng Bắc Trung Bộ, có khả năng kết nối với Lào và Đông Bắc Thái Lan.

Thứ ba, phát huy truyền thống cần cù, ham học của người xứ Nghệ, chăm lo đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao cho quản lý nhà nước, quản trị doanh nghiệp, phát triển đủ cán bộ kỹ thuật, lao động có tay nghề, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh và công tác nguồn nhân lực cho cả nước. Đồng thời, khai thác tốt các nhân tài, nguồn lực tài chính của con em Nghệ An đang sinh sống, làm việc ở ngoại tỉnh để phục vụ sự nghiệp phát triển toàn diện của tỉnh nhà.

Thứ tư, phát triển kinh tế phải gắn liền với phát triển văn hoá – xã hội, bảo vệ môi trường. Thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết của Trung ương về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh phát triển, ứng dụng khoa học – công nghệ; xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, gắn với đặc điểm văn hóa và con người xứ Nghệ, làm nền tảng phát triển kinh tế xã hội.

Làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện tốt chính sách lao động, việc làm, thu nhập, chính sách đối với người có công; xây dựng môi trường sống lành mạnh, an ninh, an toàn, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội. Tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu.

Thứ năm, tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; chủ động phòng chống tội phạm, nhất là các loại tội phạm về ma túy, các loại tội phạm phát sinh ở khu vực biên giới. Làm tốt công tác tiếp dân, giải quyết khiếu kiện, tố cáo, nắm chắc tình hình để kịp thời giải quyết ngay tại cơ sở, không để hình thành “điểm nóng” phức tạp kéo dài. Tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị toàn diện với các địa phương giáp biên giới với Lào, thực hiện tốt chính sách đoàn kết dân tộc, tôn giáo.

Thứ sáu, tăng cường công tác xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 gắn với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tấm đạo đức Hồ Chí Minh; khắc phục tư tưởng bảo thủ, ỷ lại, chủ quan, nóng vội, tự thỏa mãn. Đổi mới hơn nữa phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Nâng cao năng lực quản lý và điều hành của chính quyền các cấp, đẩy mạnh cải cách hành chính, tinh giản biên chế, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có trình độ chuyên môn, phẩm chất đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới.

Nghệ An phải xây dựng được bộ máy công quyền, đội ngũ công chức thực sự phục vụ người dân và doanh nghiệp. Làm được điều này sẽ trả lời được câu hỏi tại sao người Nghệ An khi ra nước ngoài, khi làm việc ở Trung ương và các tỉnh khác thì thành danh, trong khi ở quê nhà thì khó phát triển. Tỉnh cũng cần tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận; sát dân, sát cơ sở hơn nữa, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội.

Một nhiệm vụ rất quan trọng của Đại hội là bầu ra BCH Đảng bộ tỉnh khóa XVIII (nhiệm kỳ 2015 – 2020). Tôi đề nghị các đại biểu nêu cao tinh thần trách nhiệm, dân chủ, sáng suốt giới thiệu, lựa chọn những đồng chí đủ tiêu chuẩn, thực sự tiêu biểu về phẩm chất đạo đức, có năng lực đảm đương trọng trách được giao để bầu vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh. Đồng thời, Đại hội cần phát huy trí tuệ, đóng góp vào các văn kiện của Trung ương và bầu Đoàn đại biểu đi dự Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

Ngay sau khi kết thúc Đại hội, đề nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khẩn trương xây dựng kế hoạch, chương trình hành động, phân công cụ thể tổ chức và cá nhân chịu trách nhiệm để triển khai thực hiện từng mảng công việc, từng chương trình của Nghị quyết Đại hội ngay từ đầu nhiệm kỳ.

Phát huy những kết quả đạt được trong nhiệm kỳ qua, với sự nỗ lực phấn đấu, sự quyết tâm đổi mới, dưới sự lãnh đạo, quan tâm của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tin tưởng rằng, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, xây dựng Nghệ An ngày càng giàu đẹp, người dân ngày càng ấm no, hạnh phúc, sớm đưa Nghệ An thành một tỉnh giàu mạnh, gương mẫu như lời dạy của Bác Hồ kính yêu và khát khao của đồng chí, đồng bào cả nước.”

Chiều 13/10, trong phiên họp thứ 2 bắt đầu lúc 13h30, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An tiến hành bầu cử Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XVIII.

Danh sách BTV, BCH Đảng bộ tỉnh Nghệ An khoá XVIII – nhiệm kỳ 2015 -2020 Danh sách Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy khóa XVIII – nhiệm kỳ 2015 – 2020

Sáng 14/10, Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An khoá XVIII tiến hành bầu đại biểu dự Đại hội lần thứ XII của Đảng.

Đại hội được nghe thông báo kết quả bầu Ban Thường vụ, Bí thư, các Phó Bí thư; Uỷ ban Kiểm tra và Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ khoá XVIII. Đồng chí Hồ Đức Phớc tái đắc cử Bí thư Tỉnh uỷ nhiệm kỳ 2015 – 2020, các đồng chí Nguyễn Xuân Sơn, Nguyễn Xuân Đường, Lê Quang Huy giữ chức Phó Bí thư Tỉnh uỷ.

Đại hội đã biểu quyết thông qua danh sách dự kiến dự Đại hội lần thứ XII của Đảng với 29 đại biểu chính thức và 2 đại biểu dự khuyết. Tiếp đó, đại hội đã tiến hành bầu đại biểu dự Đại hội lần thứ XII của Đảng.

Đại hội cũng tiếp tục nghe các ý kiến tham luận đóng góp vào các Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh khoá XVIII như: “Nâng cao công tác vận động quần chúng, góp phần phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh tuyến biên giới phía Tây”; “Công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hoá, cảnh quan thiên nhiên gắn với phát triển du lịch”…

29 đại biểu chính thức đi dự Đại hội Đảng toàn quốc khóa XIII gồm:

Ông Xổm-Kốt Măng-Nò-Mệch – Bí thư, Tỉnh trưởng tỉnh Xiêng Khoảng (Lào) phát biểu chúc mừng ĐH Đảng bộ tỉnh Nghệ An khóa XVIII Đoàn công tác tỉnh Xiêng Khoảng (Lào) tặng hoa chúc mừng ĐH Đảng bộ tỉnh Nghệ An khóa XVIII thành công tốt đẹp Ông Nguyễn Xuân Sơn – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Bí thư Tỉnh ủy Hồ Đức Phớc tặng hoa cho 15 đ/c ủy viên BCH không tái cử nhiệm kỳ mới Ra mắt BCH Đảng bộ tỉnh khóa XVIII – nhiệm kỳ 2015 – 2020

Theo chúng tôi và chúng tôi

Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Phường 6 Lần Thứ Xiv Nhiệm Kỳ 2022

I. Tán thành những nội dung cơ bản về đánh giá tình hình 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ phường lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2015 – 2020 và phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2020 – 2025 nêu trong Báo cáo chính trị trình Đại hội.

1. Về đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ phường lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2015 – 2020

Trong năm năm qua có không ít khó khăn tác động, ảnh hưởng đến công tác lãnh đạo, tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ, nhưng với sự đoàn kết, quyết tâm, nỗ lực của Đảng bộ và cả hệ thống chính trị đã hoàn thành tốt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ phường lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2015 – 2020.

Tình hình kinh tế – văn hóa – xã hội trên địa bàn phường tiếp tục có những chuyển biến tích cực, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng “Thương mại – Dịch vụ”. Thu ngân sách vượt chỉ tiêu hàng năm. Các công trình trọng điểm cơ bản hoàn thành; công tác quản lý chỉnh trang đô thị, tài nguyên, bảo vệ môi trường được chú trọng; các giải pháp về lĩnh vực giáo dục, văn hóa – thông tin – thể dục thể thao, y tế, an sinh xã hội, giảm nghèo được thực hiện có hiệu quả đã góp phần tích cực vào sự phát triển và làm bộ mặt đô thị phường ngày càng khang trang, sạch đẹp, đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân được nâng lên. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững. Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí; cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý nhà nước được đẩy mạnh. Hội đồng nhân dân (HĐND) từng bước phát huy tốt vai trò, chức năng là cơ quan quyền lực nhà nước, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trên địa bàn phường.

* Nguyên nhân của kết quả đạt được và những hạn chế, tồn tại

-Đối với kết quả đạt được:

Được sự quan tâm lãnh, chỉ đạo của Quận ủy – HĐND – UBND, sự hỗ trợ của các phòng, ban chuyên môn, mặt trận – đoàn thể quận; sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng bộ; sự đồng thuận của nhân dân. Đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, cải tiến lề lối, đổi mới phương pháp làm việc. Chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; kiểm tra, giám sát trong Đảng; công tác vận động nhân dân; sơ, tổng kết, biểu dương, khen thưởng; kịp thời phát hiện, giải quyết các vấn đề nảy sinh, không để tồn đọng, kéo dài. Xây dựng đội ngũ cán bộ trách nhiệm, tâm huyết, tích cực. Dân chủ, công khai, minh bạch trong tổ chức thực hiện các hoạt động, phong trào.

– Đối với hạn chế, tồn tại:

Tình hình dân số tăng nhanh, chủ yếu do nhập cư gây khó khăn cho công tác quản lý hành chính và đảm bảo an ninh trật tự. Sự phát triển của internet, mạng xã hội với nhiều nguồn thông tin không chính thống, xuyên tạc, thiếu chính xác, ảnh hưởng đến tâm lý, niềm tin của nhân dân, gây khó khăn cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy và chính quyền. Sự thay đổi khá nhiều về nhân sự do điều động, bổ nhiệm, luân chuyển ảnh hưởng không nhỏ đến công tác điều hành, triển khai, tổ chức thực hiện nhiệm vụ.

Nhận thức về tín ngưỡng, tâm linh của người dân còn nặng nề; bên cạnh đó, việc cải táng, bốc mộ khá tốn kém, ảnh hưởng đến kinh tế gia đình nên các hộ dân chưa đồng thuận cao; việc tiếp xúc với các gia đình hoặc đối tượng có tiếng nói quan trọng trong các gia tộc để vận động gặp rất nhiều khó khăn vì đa số không cư ngụ tại địa phương, những gia đình ở tại chỗ thường chỉ có nhiệm vụ trông coi khu mộ, do đó tỷ lệ vận động cải táng, bốc mộ đến nay khá thấp.

Đa số các trường học, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đều có tổ chức đảng, quần chúng đã trực tiếp tham gia tại nơi học tập, công tác; số đối tượng còn lại tại địa phương đa số không đảm bảo tiêu chuẩn về độ tuổi, lý lịch, trình độ; do đó, công tác phát triển đảng tại địa bàn dân cư, doanh nghiệp rất hạn chế.

Công tác nắm tình hình và phối hợp giữa bộ phận chức năng của UBND, mặt trận – đoàn thể, các chi, đảng bộ, khu phố, tổ dân phố, cảnh sát khu vực trong tuyên truyền, vận động, kiểm tra, xử lý chưa thực sự đồng bộ; bên cạnh đó, cán bộ được phân công phụ trách chưa quyết liệt đeo bám, tham mưu, xử lý công việc.

Các biện pháp đang áp dụng nhằm tăng cường chấn chỉnh trật tự kinh doanh lấn chiếm lòng, lề đường; vận động, chuyển hóa các cơ sở kinh doanh ngành nghề nhạy cảm còn hạn chế; chưa có sự phối hợp đồng bộ của cả hệ thống chính trị, nhất là tuyên truyền, vận động chủ nhà không kinh doanh hoặc cho thuê mặt bằng kinh doanh các ngành nghề tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tệ nạn xã hội cao, kinh doanh lấn chiếm lòng lề đường.

Trình độ năng lực tham mưu, ý thức trách nhiệm của một số ít cán bộ, công chức, chiến sỹ công an, quân sự có lúc chưa đáp ứng được yêu cầu công việc nên ít nhiều ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế – văn hoá – xã hội, quốc phòng – an ninh. Kinh nghiệm của một số cán bộ làm công tác dân vận chưa thực sự nhạy bén, kỹ năng chưa cao. Việc nắm tình hình, định hướng dư luận xã hội, tình hình nhân dân có lúc chưa kịp thời. Kỹ năng của lực lượng tuyên truyền viên còn hạn chế.

Giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác bồi dưỡng, tạo nguồn phát triển Đảng chưa linh hoạt. Các đoàn thể chưa thường xuyên đổi mới hình thức tổ chức, thu hút sự tham gia của quần chúng, từ đó kịp thời phát hiện nguồn, giao nhiệm vụ, tạo điều kiện phấn đấu, bồi dưỡng giới thiệu cho Đảng.

Nguồn nhân sự cán bộ trẻ, cán bộ quy hoạch tuy có trình độ, kiến thức được đào tạo bài bản nhưng chưa vận dụng tốt vào thực hiện nhiệm vụ, chưa năng động và bản lĩnh trong xử lý công việc được giao phụ trách. Do đó, chưa đảm bảo tiêu chuẩn để giới thiệu bổ sung vào Ban Chấp hành Đảng bộ phường.

Một số tổ chức đoàn thể chưa phát huy được tiềm năng, sức mạnh của tổ chức; năng lực, trình độ cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; cán bộ chưa chủ động thường xuyên bám sát cơ sở, nỗ lực đổi mới nội dung sinh hoạt gắn với nhu cầu thiết thực của đoàn viên, hội viên, do đó hoạt động thường đi vào lối mòn, không tạo được sức hấp dẫn, thu hút và sự quan tâm tham gia của đoàn viên, hội viên. Đoàn Thanh niên chưa quan tâm đúng mức đến công tác xây dựng và duy trì hoạt động của các chi đoàn doanh nghiệp.

* Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo trong 5 năm qua, rút ra một số kinh nghiệm

quan tâm công tác đào tạo trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ; rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ làm việc của cán bộ, đảng viên, công chức. Kiểm điểm, đánh giá cán bộ, đảng viên khách quan, thực chất. Xây dựng và thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc, quy chế dân chủ trong cơ quan, chương trình kế hoạch công tác của từng bộ phận, từng cá nhân theo giai đoạn trong từng năm và cả nhiệm kỳ.

2. Về mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm nhiệm kỳ 2020 – 2025

1. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn phường phấn đấu vượt dự toán quận giao 5%/năm; Đảm bảo tiết kiệm chi thường xuyên 10%/năm.

2. Phấn đấu 100% tuyến hẻm được duy tu, sửa chữa kịp thời khi xuống cấp.

3. 100% hộ dân và chủ nguồn thải ký hợp đồng dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt; cam kết không xả rác ra đường và kênh rạch.

4. Đến năm 2025 có ít nhất 80% tổ chức, hộ gia đình thực hiện phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn đúng qui định.

5. Phấn đấu đến năm 2025 vận động trám, lấp ít nhất 500 giếng khoan hiện có.

6. Đến năm 2025 tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn thành phố dưới 0,5%/ tổng số hộ dân; thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo tăng 1,3 lần so với năm 2020.

7. Tỷ lệ thất nghiệp đô thị dưới 2,21%.

8. Phấn đấu đến năm 2025 có 100% học sinh lớp 1, 80% học sinh tiểu học và 60% học sinh trung học cơ sở học 2 buổi/ngày.

9. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm dưới 1,05%.

10. Phấn đấu bảo hiểm y tế đạt chỉ tiêu quận giao.

11. Giữ vững Trạm y tế đạt Bộ tiêu chí Quốc gia.

12. Vận động hiến máu nhân đạo đạt 100% chỉ tiêu quận giao.

13. Phấn đấu phường được ghi nhận đạt chuẩn văn minh – đô thị hàng năm.

* Về quốc phòng – an ninh (02 chỉ tiêu)

14. Hoàn thành 100% chỉ tiêu nghĩa vụ quân sự và công an hàng năm, đảm bảo chất lượng chính trị và trình độ học vấn theo quy định.

15. Hàng năm, kiềm chế phạm pháp hình sự dưới 5 vụ/10.000 dân; Tỷ lệ điều tra, khám phá án đạt 75% trở lên.

* Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị (7 chỉ tiêu)

16. Hàng năm, 100% chi, đảng bộ và trên 98% đảng viên hoàn thành nhiệm vụ trở lên.

17. Kết nạp 10 đảng viên/năm. Đến cuối nhiệm kỳ, tỷ lệ đảng viên trong giáo viên đạt ít nhất 25%; 100% tổ trưởng tổ dân phố là đảng viên.

18. Phấn đấu thành lập chi bộ, hoặc chi đoàn thanh niên, chi hội LHTN tại các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước và đơn vị sự nghiệp ngoài công lập (dưới 100 lao động) có đủ điều kiện.

19. 100% người đứng đầu cấp ủy, chính quyền phường và các chi, đảng bộ, khu phố, tổ dân phố thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương theo quy định của Đảng.

20. Kiểm tra, giám sát 100% tổ chức Đảng và đảng viên về thực hiện thông báo, kết luận sau kiểm tra, giám sát của Đảng ủy và Ủy ban kiểm tra Đảng ủy.

21. Hàng năm, Mặt trận và các đoàn thể được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên. Tăng 2% số lượng hội viên phụ nữ so với tổng số hội viên của năm trước liền kề; phấn đấu đến năm 2025 kết nạp 400 đoàn viên Đoàn TNCS HCM.

22. Tỷ lệ người dân hài lòng đối với tất cả các bộ phận tiếp dân đạt 95% trở lên.

1. Vận động đầu tư xây dựng công viên, khu vui chơi thiếu nhi tại Khu phố 1[2].

2. Vận động cải tạo mảng xanh và lắp đặt thiết bị thể thao công cộng tại Khu phố 5[3].

3. Vận động nâng cấp, trải nhựa đoạn cuối hẻm 187 đường số 28, Khu phố 1[4].

4. 100% các tuyến hẻm có gắn camera giám sát an ninh.

Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm xây dựng, bảo vệ và phát triển bền vững địa phương

2.4.1. Về quản lý và phát triển kinh tế: Tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục, môi trường kinh doanh, bảo đảm an ninh trật tự cho các thành phần kinh tế phát triển theo hướng thương mại – dịch vụ. Thực hiện đúng Luật ngân sách, công khai minh bạch, tiết kiệm chi tiêu, chống lãng phí; đảm bảo cân đối thu – chi, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội, giữ vững quốc phòng – an ninh.

2.4.3. Đảm bảo an sinh, phúc lợi xã hội, chăm sóc sức khoẻ, phát triển giáo dục, văn hóa thông tin và nâng cao đời sống nhân dân: Đẩy mạnh các chương trình đảm bảo an sinh xã hội. Chăm lo tốt các hộ gia đình diện chính sách, hưởng phúc lợi xã hội đảm bảo đúng định mức, chế độ. Nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân; giữ gìn phát huy các giá trị văn hóa, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; phát triển các phong trào thể dục thể thao; đẩy mạnh công tác dân số, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Nâng chất phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”.

2.4.4. Về quốc phòng – an ninh và hoạt động tư pháp: Giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng – an ninh. Xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc; Đảm bảo chỉ tiêu giao quân nghĩa vụ hàng năm về số lượng và chất lượng chính trị. Nâng chất lượng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư”, xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Giải quyết các vụ việc đúng pháp luật, đúng hẹn, đáp ứng nhu cầu về tư pháp, hộ tịch của nhân dân.

2.4.5. Về xây dựng Đảng và xây dựng chính quyền: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, chất lượng đội ngũ đảng viên, xây dựng đảng bộ trong sạch, vững mạnh. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền.

2.4.6. Tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân: Lãnh đạo xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội vững mạnh toàn diện, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động và tỷ lệ tập hợp quần chúng, tích cực thực hiện nhiệm vụ chính trị địa phương, tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng và chính quyền. Chăm lo thiết thực đến đời sống vật chất, tinh thần của đoàn viên, hội viên, thật sự trở thành người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của các giới quần chúng, vận động và tập hợp quần chúng cùng hưởng ứng, tham gia thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

II. Thông qua báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ phường khóa XIII nhiệm kỳ 2015 – 2020. Từ kinh nghiệm của Ban Chấp hành Đảng bộ phường khóa XIII, Ban Chấp hành Đảng bộ phường khóa XIV cần tiếp tục phát huy ưu điểm, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác nhiệm kỳ 2020 – 2025.

V. Giao Ban Chấp hành Đảng bộ phường khóa XIV căn cứ vào Nghị quyết Đại hội xây dựng chương trình hành động, các kế hoạch công tác để tổ chức thực hiện, nhanh chóng đưa nghị quyết Đại hội vào cuộc sống.

Đại hội kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tiếp tục phát huy truyền thống của Đảng bộ, đoàn kết, thống nhất, khắc phục khó khăn, nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phong trào hành động cách mạng, quyết tâm phấn đấu hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ phường khóa XIV đề ra, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận Gò Vấp lần thứ XII nhiệm kỳ 2020 – 2025.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Sóc Trăng Lần Thứ Xiv trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!