Đề Xuất 2/2023 # Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Sơn Hà Lần Thứ Xxiv, Nhiệm Kỳ 2022 # Top 5 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 2/2023 # Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Sơn Hà Lần Thứ Xxiv, Nhiệm Kỳ 2022 # Top 5 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Sơn Hà Lần Thứ Xxiv, Nhiệm Kỳ 2022 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Sáng 11.8, Đảng bộ huyện Sơn Hà đã tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XXIV, nhiệm kỳ 2020 – 2025. Phó Chủ tịch Thường trực phụ trách UBND tỉnh Nguyễn Tăng Bính dự và phát biểu chỉ đạo đại hội. Dự đại hội có Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Nguyễn Cao Phúc; Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đặng Ngọc Dũng; lãnh đạo các ban đảng Tỉnh ủy, cùng 217 đại biểu đại diện cho gần 3.000 đảng viên của Đảng bộ huyện Sơn Hà. 

Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Sơn Hà khóa XXIV ra mắt tại đại hội.

Trong nhiệm kỳ 2015 – 2020, Đảng bộ huyện Sơn Hà đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu nghị quyết đại hội đề ra. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, xây dựng, dịch vụ – du lịch, giảm dần tỷ trọng nông, lâm nghiệp. Tổng giá trị sản xuất tăng bình quân gần 12%/năm. Thu ngân sách trên địa bàn tăng 15% so với chỉ tiêu tỉnh giao. Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội từng bước hoàn thiện. Công cuộc xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả tích cực. Tỷ lệ hộ nghèo hằng năm giảm 4,5%. Năm 2018, huyện được Chính phủ công nhận thoát khỏi huyện nghèo theo Nghị quyết 30a. Quốc phòng, an ninh được giữ vững. Công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị khá toàn diện…

Nhiệm kỳ 2020 – 2025, huyện Sơn Hà phấn đấu trở thành huyện có kinh tế – xã hội phát triển khá trong các huyện miền núi của tỉnh. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân từ 11,5 – 12%/năm. Tỷ lệ hộ nghèo giảm 4,5 – 5%/năm. Có từ 70 – 75% tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ; xây dựng thị trấn Di Lăng cơ bản đạt các tiêu chí đô thị loại IV, xã Sơn Hạ đạt một số tiêu chí đô thị loại V…

Để đạt mục tiêu trên, huyện Sơn Hà tập trung thực hiện 2 nhiệm vụ đột phá là: Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức các cấp, nhất là cán bộ chủ chốt, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; tập trung xây dựng chính quyền điện tử, đem lại sự hài lòng cho người dân và doanh nghiệp; thực hiện 2 nhiệm vụ trọng tâm gồm: Xây dựng, bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc Hrê gắn với du lịch; phát triển nông nghiệp ứng dụng khoa học – công nghệ, liên kết chế biến, tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị…

Phát biểu chỉ đạo đại hội, Phó Chủ tịch Thường trực phụ trách UBND tỉnh Nguyễn Tăng Bính cho rằng, trong nhiệm kỳ tới, huyện Sơn Hà cần chú trọng hơn nữa công tác  xây dựng Đảng; thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) gắn với thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị; thường xuyên củng cố, kiện toàn, xây dựng bộ máy chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh; quan tâm đầu tư, xây dựng hạ tầng đô thị thị trấn Di Lăng theo hướng đồng bộ, văn minh, hiện đại; đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông, lâm nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; tập trung phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo; thực hiện có hiệu quả công tác văn hóa, y tế, giáo dục, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống…

Đại hội đã bầu 34 đồng chí vào Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Sơn Hà khóa XXIV. Tại phiên họp thứ nhất, Ban Chấp hành đã bầu Ban Thường vụ Huyện ủy gồm 9 đồng chí. Đồng chí Võ Tấn Lãm tái đắc cử chức Bí thư Huyện ủy Sơn Hà, nhiệm kỳ 2020 – 2025.

Theo BQNĐT

Bế Mạc Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Đăk Hà Lần Thứ Vi, Nhiệm Kỳ 2022

Sau 3 ngày làm việc với tinh thần nghiêm túc, trách nhiệm cao, chiều 17/7, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Đăk Hà lần thứ VI, nhiệm kỳ 2020 – 2025 đã hoàn thành toàn bộ chương trình đề ra.

Theo đó, trong nhiệm kỳ mới, tiếp tục xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh; tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ; hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền; đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội. Phát huy dân chủ, sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc, danh hiệu Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới; tập trung huy động, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ, phát triển thương hiệu cà phê Đăk Hà vươn tầm quốc tế; phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch tương xứng với tiềm năng của huyện.

Các chỉ tiêu chủ yếu phấn đấu đến năm 2025: Tổng giá trị sản xuất theo giá so sánh đạt 6.652 tỷ đồng, theo giá hiện hành đạt 7.835 tỷ đồng; cơ cấu kinh tế: Nông – lâm – thủy sản chiếm 34-35%, công nghiệp – xây dựng chiếm 34-35%, thương mại – dịch vụ chiếm 30-31%; thu nhập bình quân đầu người đạt trên 58 triệu đồng/năm; tổng thu ngân sách đạt trên 219 tỷ đồng; quy mô dân số khoảng 83.000 người, trên 42% lao động qua đào tạo; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân từ 3-4%/năm; phấn đấu xây dựng huyện đạt chuẩn nông thôn mới, đến năm 2025 huyện có 03 xã đạt chuẩn xã nông thôn mới nâng cao; tỷ lệ cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường trên 85%; tỷ lệ độ che phủ rừng đạt trên 50%; trên 50% diện tích gieo trồng ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, trong đó có trên 15% diện tích được cấp có thẩm quyền công nhận; kết nạp mới 300 đảng viên trở lên; có 80% tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên; phấn đấu có 75% chi bộ khu dân cư có chi uỷ; trên 80% quần chúng được tập hợp vào các tổ chức chính trị-xã hội.

Đại hội đã kêu gọi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân huyện Đăk Hà phát huy truyền thống anh hùng, nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, đoàn kết, ra sức thi đua, lao động, sản xuất thực hiện thắng lợi mục tiêu Đại hội đề ra, trong đó nội dung cốt lõi là “Xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh; phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự xã hội; tập trung huy động, khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thương hiệu Cà phê Đăk Hà vươn tầm quốc tế; phấn đấu xây dựng huyện đạt chuẩn nông thôn mới”.

Các đại biểu bỏ phiếu bầu cử tại Đại hội. Ảnh: HT

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa VI gồm 38 đồng chí. Tại Hội nghị lần thứ I Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa VI, các Ủy viên Ban Chấp hành đã bầu 10 Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy. Đồng chí Ka Ba Thành được tín nhiệm bầu giữ chức Bí thư Huyện ủy, đồng chí Hà Tiến giữ chức Phó Bí thư Huyện ủy. Hội nghị cũng đã bầu 7 Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy, đồng chí Nguyễn Thế Quyền giữ chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy.

Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa mới và đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh ra mắt Đại hội. Ảnh: HT

Đại hội đã bầu Đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2020 – 2025 gồm 24 đại biểu chính thức và 2 đại biểu dự khuyết.

Hoài Tiến

Báo Cáo Chính Trị Của Ban Chấp Hành Đảng Bộ Huyện Khoá Xxiii Tại Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Lần Thứ Xxiv, Nhiệm Kỳ 2022

ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

HUYỆN UỶ ĐÔNG SƠN Đông Sơn, ngày 10 tháng 7 năm 2015

BÁO CÁO CHÍNH TRỊ

Phần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ HUYỆN LẦN THỨ XXIII, NHIỆM KỲ 2010 – 2015

Năm năm qua, Đảng bộ và nhân dân huyện nhà thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XXIII trong điều kiện chính trị, xã hội ổn định; nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ban hành đã thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển; được sự quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ của tỉnh, cùng kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành kinh tế – xã hội của cấp ủy đảng từ huyện đến cơ sở được phát huy; sự vào cuộc mạnh mẽ của các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội đã tác động tích cực đến phát triển sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân.

Bên cạnh đó, chúng ta cũng gặp không ít khó khăn, thách thức do thời tiết diễn biến phức tạp, kinh tế thế giới chậm phục hồi; giá cả hàng hóa, vật tư tăng cao; việc điều chỉnh địa giới hành chính, chuyển 5 xã, thị trấn về thành phố Thanh Hóa làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế – xã hội, song cũng là cơ hội tạo ra tư duy mới, đột phá trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy và chính quyền huyện.

Trong tình hình đó, Đảng bộ và nhân dân trong huyện đã phát huy truyền thống cách mạng, đoàn kết, vượt qua khó khăn, nỗ lực phấn đấu, đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực. Kết quả thực hiện cụ thể như sau:

A- NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

I- VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI, BẢO ĐẢM QUỐC PHÒNG – AN NINH

1- Kinh tế tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao và phát triển tương đối toàn diện; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực; hoạt động KH&CN được quan tâm

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm giai đoạn 2011-2015 ước đạt 15,7%, vượt mục tiêu đại hội 0,2%GRDP bình quân đầu người năm 2015 ước đạt 37,43 triệu đồng, vượt 10,73 triệu đồng so với mục tiêu đại hội.

1.1. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản phát triển theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 3,2%; cơ cấu cây trồng, vật nuôi và phát triển kinh tế trang trại, gia trại có sự chuyển dịch tích cực. Diện tích vùng lúa thâm canh, năng suất, chất lượng, hiệu quả cao đạt 4.000 ha, vượt 300 ha so với kế hoạch ; cơ cấu lại bộ giống lúa phù hợp với từng vùng sản xuất, nhiều loại giống lúa cũ được thay bằng giống mới, đem lại hiệu quả cao ; cơ giới hoá đồng bộ trong sản xuất lúa được áp dụng ở hầu hết các địa phương; hình thành một số vùng sản xuất rau an toàn, mô hình trồng hoa cao cấp; sản lượng lương thực có hạt bình quân hàng năm đạt 58.647 tấn, dự kiến sản lượng năm 2015 cao hơn năm 2010 là 1.614 tấn; giá trị sản phẩm thu được trên 1 ha đất sản xuất nông nghiệp năm 2015 ước đạt 85 triệu đồng/ha, tăng 20 triệu đồng so với năm 2010, vượt mục tiêu đại hội. Chăn nuôi phát triển theo hướng chăn nuôi trang trại, gia trại; tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm ước đạt 3,6%; con nuôi đặc sản như chim trĩ, chim bồ câu pháp, vịt trời, lợn rừng được nuôi ở nhiều địa phương. Duy trì bảo vệ tốt diện tích 65 héc ta rừng trồng, công tác phòng chống cháy rừng được thực hiện nghiêm ngặt, không để xảy ra vụ cháy lớn. Giá trị sản xuất thủy sản hàng năm bình quân tăng 5,8%/năm; mô hình nuôi các loại thủy sản hiệu quả cao được phát triển ở nhiều địa phương.

Sản xuất công nghiệp – xây dựng tăng trưởng khá. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 21 % , vượt mục tiêu đại hội; giá trị sản xuất năm 2015 ước đạt 721,526 tỷ đồng. Năm 2015, dự kiến có 250 doanh nghiệp, tăng 3,8 lần so với năm 2010, bình quân 315 dân/1 doanh nghiệp . Trong 5 năm, đã hình thành thêm 190 cơ sở sản xuất mới ; c ác sản phẩm chủ lực như đá ốp lát, đá xây dựng, đồ gỗ, thức ăn gia súc, gạch nung … vẫn duy trì được mức độ tăng trưởng khá; sản phẩm có lợi thế cạnh tranh như gạch lát đường, đá ốp lát, sản phẩm từ nghề đúc đồng thủ công, các sản phẩm chế biến từ nông sản, thực phẩm truyền thống phát triển ổn định ; c ác sản phẩm mới được tạo ra như gạch Tezazzo; các sản phẩm bê tông, cấu kiện xây dựng đúc sẵn, thức ăn gia súc; du nhập mới một số ngành nghề nông thôn như sửa chữa máy móc cơ, điện nông nghiệp .

Hoạt động xây dựng phát triển khá ; c ó 20 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, thu hút và tạo việc làm cho 585 lao động, doanh thu trên 147 tỷ đồng; năng lực chuyên môn và trình độ kỹ thuật từng bước được nâng lên, một số doanh nghiệp có khả năng thi công nhà cao tầng và công trình có yêu cầu kỹ thuật cao ; g óp phần đáng kể vào đẩy nhanh tiến độ xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, xây dựng nông thôn mới của huyện trong những năm qua.

T hu ngân sách Nhà nước trên địa bàn được quan tâm chỉ đạo; có 4 năm thu ngân sách vượt dự toán tỉnh giao , bình quân vượt 12%/năm Chi ngân sách cơ bản kịp thời, đáp ứng yêu cầu hoạt động thường xuyên và một số chương trình, dự án (không tính tiền cấp quyền sử dụng đất phát triển kinh tế – xã hội ; công tác quản lý ngân sách đảm bảo chặt chẽ, đúng quy định.

1.4. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, gắn với tiềm năng thế mạnh của từng vùng và địa phương. Tỷ trọng ngành nông, lâm, thuỷ sản trong GRDP giảm từ 43,4% năm 2010 xuống còn 26,5% năm 2015; tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng tăng từ 31,6% lên 47,7%; tỷ trọng các ngành dịch vụ tăng từ 25,0% lên 25,8%. Trong nội bộ ngành nông nghiệp, tỷ trọng trong trồng trọt giảm dần, tỷ trọng chăn nuôi và dịch vụ trong nông nghiệp tăng dần. Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành công nghiệp trong nền kinh tế tăng từ 20,3% năm 2010 lên 61,8% năm 2015; sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông sản chiếm tỷ trọng lớn trong ngành công nghiệp; giá trị sản xuất ngành dịch vụ ước tính năm 2015 tăng 2,4 lần so với năm 2010; cơ cấu kinh tế tiểu vùng được định hướng phát triển gắn với lợi thế từng tiểu vùng và địa phương.

Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực , gắn liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tỷ lệ l ao động trong lĩnh vực nông nghiệp , thuỷ sản giảm 16,4% (từ 71,4% năm 2010 xuống còn 55 % năm 2015 ); tỷ lệ lao động trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng tăng 8,4% ( từ 14,6% lên 23 %) ; tỷ lệ lao động trong các ngành dịch vụ tăng 8% ( từ 14% lên 2 2%); tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 28% lên 40,98%, vượt mục tiêu đại hội.

ây dựng nông thôn mới thực hiện đúng kế hoạch và đạt kết quả toàn diện

S au 4 năm thực hiện đã đạt được những kết quả quan trọng: Cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội được đầu tư, nâng cấp, mở rộng ngày càng khang trang; nhiều mô hình sản xuất mới trong nông thôn được hình thành; đời sống người dân có nhiều tiến bộ; dân chủ xã hội được mở rộng; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; hệ thống chính trị cơ sở ngày c à ng được củng cố. Đ ến hết năm 2014, t ổng nguồn vốn thực hiện đạt 1.452 tỷ đồng; có 3 xã đạt chuẩn nông thôn mới, bình quân toàn huyện đạt 14,2 tiêu chí (tăng 9 tiêu chí so với năm 2010). Dự kiến đến hết năm 2015 có 5 xã đạt chuẩn nông thôn mới, bình quân mỗi xã đạt 16,5 tiêu chí, đạt mục tiêu kế hoạch đề ra.

3. Công tác quản lý sử dụng đất, tài nguyên môi trường được quan tâm chỉ đạo thực hiện từng bước đi vào nề nếp

H oàn thành việc quy hoạch đất đai và số hóa bản đồ địa chính; thực hiện q uản lý theo qui hoạch, nâng cao hiệu quả sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Trong 5 năm đã giao đất ở 32,78 ha, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất sản xuất kinh doanh, dịch vụ 28,53 ha; việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất đã có nhiều chuyển biến tiến bộ. Quản lý nhà nước về tài nguyên, khoáng sản được tăng cường, hạn chế hiện tượng khai thác khoáng sản trái phép.

Công tác quản lý môi trường được quan tâm, từng bước thực hiện các biện pháp phòng ngừa, kiểm soát, xử lý khắc phục ô nhiễm trong sản xuất và các hoạt động dễ phát thải ô nhiễm môi trường; công tác tuyên truyền và kiểm tra thực hiện cam kết bảo vệ môi trường được đẩy mạnh. Các địa phương đã chủ động hợp đồng với doanh nghiệp để thu gom chất thải rắn; nhận thức và hành vi bảo vệ môi trường của nhân dân đã được nâng lên, bộ mặt nông thôn ngày càng khang trang, sạch đẹp hơn.

4. Thu hút vốn cho đầu tư phát triển được tăng cường, chú trọng cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh

Công tác thông tin, tuyên truyền, quảng bá giới thiệu hình ảnh của huyện và cung cấp thông tin kêu gọi, thu hút đầu tư được chú trọng và mang lại hiệu quả; huyện đã ban hành cơ chế khuyến khích tạo điều kiện để các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn; hoàn thành việc lập quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của huyện đến năm 2020, quy hoạch điều chỉnh mở rộng trung tâm thị trấn Rừng Thông, qui hoạch phát triển mạng lưới giao thông và các quy hoạch khu văn hóa, thể thao xã, thị trấn và nhà văn hóa, khu thể thao thôn, khối phố, quy hoạch các khu dân cư nông thôn… Mở rộng và thu hút thêm được 6 doanh nghiệp vào Cụm công nghiệp Đông Tiến; 3 doanh nghiệp vào Khu công nghiệp Vức; thành lập mới Cụm nghề Đông Hoàng, Đông Phú; đang khẩn trương chuẩn bị đầu tư một số nhà máy may do nhà đầu tư Hàn Quốc vào địa bàn xã Đông Ninh, Tổng công ty may 10 vào địa bàn xã Đông Tiến; Công ty Tiên Sơn vào xã Đông Yên, dự kiến thu hút, sử dụng trên 8000 lao động địa phương.

Trong 5 năm, dự kiến t ổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 4.393 tỷ đồng, vượt chỉ tiêu đại hội (9,8%); đầu tư trên 300 tỷ đồng vào cụm công nghiệp, cụm nghề, xây dựng trang trại, khu sản xuất hoa; hạ tầng giao thông, thủy lợi nội đồng có bước phát triển, kiên cố hóa được 87,1km đường giao thông và 28,6 km kênh mương nội đồng ; ngân sách tỉnh và các doanh nghiệp hỗ trợ đầu tư trên 100 tỷ đồng để xây dựng các công trình hạ tầng như đường giao thông 5 xã phía Nam, dự án nước sạch 3 xã (Đông Nam, Đông Quang, Đông Phú), trường THPT Đông Sơn I, trường TH và trường THCS Đông Ninh; các công trình, dự án quan trọng đã được đầu tư nâng cấp, cải tạo quốc lộ 47, đường vành đai phía Tây thành phố Thanh Hóa, nâng cấp cải tạo tỉnh lộ 517 , kênh Cầu Ê – Trường Tuế, đê tả sông Hoàng.

5. Văn hóa – xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ; an sinh xã hội được chăm lo; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tiếp tục được nâng lên

5.1. Hoạt động giáo dục đạt được những thành tựu quan trọng. Tập trung vào đổi mới công tác lãnh đạo, quản lý; chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, xây dựng trường chuẩn quốc gia, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục các bậc học; tỷ lệ trường chuẩn quốc gia ước đạt 78,4%, vượt mục tiêu đại hội 8,4%; giải quyết giáo viên dôi dư đạt được kết quả bước đầu, cơ bản khắc phục tình trạng lạm thu trong các nhà trường . C hất lượng giáo dục đại trà tăng, chất lượng mũi nhọn có chuyển biến rõ nét, hàng năm số giáo viên giỏi, học sinh giỏi cấp tỉnh đều tăng, chất lượng giáo dục mầm non, tiểu học, THCS luôn trong tốp đầu của tỉnh. H oạt động của Trung tâm Giáo dục thường xuyên, Trung tâm học tập cộng đồng và Hội Khuyến học ngày càng tốt hơn, công tác xây dựng xã hội học tập được chú trọng. X ây dựng thêm 115 phòng học kiên cố, đầu tư 167,12 tỷ đồng để xây dựng cơ sở vật chất và mua sắm trang thiết bị phục vụ công tác dạy và học ngày càng tốt hơn.

5.2. Hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao tiếp tục được phát triển; đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện. Tập trung thông tin, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ chính trị của địa phương. Chất lượng hoạt động của thôn, khối phố văn hoá, nếp sống văn minh trong các khu dân cư được nâng lên; phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được đẩy mạnh. Trong 5 năm, đã công nhận hơn 17.000 gia đình văn hóa, có 2 mô hình phòng chống bạo lực gia đình, mở 10 câu lạc bộ “Gia đình phát triển bền vững”; đăng ký, khai trương xây dựng 52 đơn vị văn hóa, nâng tổng số lên 206 đơn vị, vượt mục tiêu đại hội. Phong trào văn nghệ, thể dục, thể thao ngày càng phát triển; hoạt động văn nghệ quần chúng, trò chơi, trò diễn được duy trì và phát triển ở nhiều địa phương; có trên 27.000 người tập luyện thể thao thường xuyên, 5.859 gia đình được công nhận gia đình thể thao; trên địa bàn có 153 CLB thể dục, thể thao, 05 sân bóng đá, 83 sân thể thao. Di tích lịch sử, văn hoá, cách mạng trên địa bàn được quan tâm trùng tu, tôn tạo, góp phần nâng cao giá trị giáo dục truyền thống, đạo đức, lối sống tốt đẹp, tinh thần đoàn kết trong nhân dân.

5.3. Hoạt động y tế và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân có nhiều tiến bộ. C ơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế được đầu tư theo hướng ngày càng hiện đại, nhiều kỹ thuật cao đưa vào áp dụng; đội ngũ cán bộ y tế từ huyện đến cơ sở được nâng cao trình độ chuyên môn và y đức; công tác y tế dự phòng, vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường; số xã, thị trấn được công nhận chuẩn quốc gia về y tế là 11/16 (đạt 68,8%); các chỉ tiêu về y tế, chăm sóc sức khỏe đều đạt và vượt mục tiêu đại hội đề ra; tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên bình quân duy trì 0,57%/năm, tỷ lệ sinh con thứ 3 còn 6,46%.

5.4. Giải quyết việc làm, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội được triển khai tích cực, đời sống nhân dân được cải thiện. Giải quyết được việc làm cho 6.300 lao động, vượt mục tiêu đề ra. Công tác xuất khẩu lao động được chỉ đạo tích cực, trong 5 năm xuất khẩu được 2.500 lao động, đem lại nguồn thu nhập trong nhân dân khoảng 285 tỷ đồng. Các ban, ngành, đoàn thể đã thực hiện tốt chương trình phối hợp trong công tác giảm nghèo; phong trào giúp nhau làm kinh tế được triển khai rộng rãi, thiết thực như hỗ trợ tín dụng, kỹ thuật, kiến thức quản lý kinh doanh, lao động, giống cây con; nhiều hộ đã thoát nghèo, một số hộ trở nên khá; tỷ lệ giảm nghèo bình quân đạt 3,69%/năm, vượt 0,69% so với mục tiêu đại hội, giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 22,1% năm 2010 xuống còn 3,64% năm 2015.

Thực hiện chính sách người có công và an sinh xã hội được chỉ đạo triển khai nghiêm túc, đúng đối tượng; số người tham gia các loại bảo hiểm ngày càng tăng, BHYT đạt 61,2% trên tổng số dân; công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em, phòng chống tệ nạn xã hội được tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả.

6. Quốc phòng – an ninh được tăng cường, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội

Tập trung xây dựng, củng cố quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc, tiềm lực quốc phòng – an ninh của huyện được tăng cường; lực lượng vũ trang được xây dựng vững mạnh hơn, duy trì nghiêm túc chế độ trực sẵn sàng chiến đấu; hoàn thành tốt kế hoạch bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, huấn luyện chiến đấu, diễn tập quân sự; tuyển quân đủ số lượng, đảm bảo chất lượng theo chỉ tiêu được giao; lực lượng dân quân, tự vệ được củng cố, lực lượng dự bị động viên thường xuyên được rà soát, bổ sung; tổ chức diễn tập tại các cụm đúng kế hoạch, chất lượng được nâng lên; công tác hậu phương quân đội và giải quyết chính sách tồn đọng sau chiến tranh được triển khai kịp thời, đạt kết quả tốt.

Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật được tăng cường quan tâm lãnh đạo đối với công tác tư pháp, công tác nội chính; công tác điều tra, truy tố, xét xử đảm bảo đúng pháp luật, không xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm; công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện đúng qui định ; phát hiện và giải quyết kịp thời, không để xảy ra tình trạng khiếu kiện tập trung đông người, phức tạp kéo dài, góp phần tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

7. Kết quả lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các chương trình trọng tâm

7.1. Chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Các cơ sở đào tạo nghề của huyện đã mở được 28 lớp cho 967 lao động nông thôn; cùng với đào tạo nghề của các doanh nghiệp và tự đào tạo của người lao động đã có 2.296 người lao động nông thôn được đào tạo nghề (đạt 148% so với kế hoạch); tập huấn kỹ thuật nông nghiệp cho 72.678 lượt lao động, đào tạo nghề phi nông nghiệp cho 5.451 lao động nông thôn (đạt 109% kế hoạch), chương trình cũng đã gián tiếp đào tạo nghề thông qua xuất khẩu lao động 3.215 người (đạt 107% kế hoạch). Kết quả thực hiện chương trình đã nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo trên địa bàn huyện đạt 40,98 %, vượt 0,98% mục tiêu đại hội.

7.2. Chương trình phát triển ngành nghề nông thôn: H uyện đã ban hành cơ chế hỗ trợ duy trì các nghề may công nghiệp, đúc đồng mỹ nghệ, sản xuất đá ốp lát, mộc dân dụng, cơ khí… ; đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp du nhập thêm các nghề mới , công nghệ mới như nghề sản xuất gạch lát không nung Tezazzo, gạch nhẹ không nung, đá mỹ nghệ, sửa chữa vận hành máy nông nghiệp, nghề trồng nấm…T hu hút đầu tư một số dự án vào cụm công nghiệp Đông Tiến như sản xuất thức ăn gia súc, sản xuất đá ốp lát, sản xuất cấu kiện bê tông đúc sẵn, chế biến lâm sản, sản xuất máy nông nghiệp; thu hút vào cụm nghề Đông Hoàng, Đông Phú các nghề sửa chữa cơ khí , dệt may, sản xuất phân bón, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất thức ăn gia súc .

Cấp ủy, chính quyền các cấp tập trung chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ các giải pháp để triển khai thực hiện đạt và vượt mục tiêu đề ra. Tổng ngân sách huyện, xã và nguồn đóng góp của nhân dân đầu tư cho Chương trình là 54,769 tỷ đồng 7.3. Chương trình đầu tư, xây dựng, hoàn thiện nhà văn hoá – khu thể thao thôn, trung tâm văn hóa – thể thao xã, thị trấn: (trong đó: xây dựng hoàn thiện 5 trung tâm văn hóa thể thao xã 30 tỷ đồng; xây mới và nâng cấp sửa chữa 83 nhà văn hóa thôn 24,769 tỷ đồng), nâng tổng số nhà văn hóa thôn trong huyện lên 128/142, đạt 90,14%. Quy hoạch, đầu tư khu thể thao của xã, thị trấn và thôn, khối phố làm cơ sở phát triển thiết chế văn hóa, thể thao đồng bộ, đạt chuẩn, góp phần thực hiện mục tiêu văn hóa, thể thao lâu dài của huyện.

II. CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

1. Công tác xây dựng Đảng có một số mặt chuyển biến tích cực, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ được nâng lên

1.1. Công tác chính trị, tư tưởng được quan tâm đúng mức và đạt được kết quả thiết thực. Các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể đã nghiêm túc tổ chức học tập, quán triệt chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, gắn với xây dựng chương trình, kế hoạch hành động thực hiện nghị quyết ; tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động trong Đảng và nhân dân ; tổ chức nhiều đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng cổ vũ các nhân tố mới, các phong trào thi đua yêu nước; công tác báo cáo viên, tuyên truyền viên được quan tâm; công tác sơ kết, tổng kết việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết được chú trọng, gắn phổ biến kinh nghiệm hay với nhân rộng điển hình tiên tiến. Tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân ổn định, tin tưởng, phấn khởi và đồng thuận với sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành của các cấp ủy đảng, chính quyền và sự phát triển của đất nước và địa phương.

Công tác cán bộ được triển khai đồng bộ, đảm bảo nguyên tắc, đúng quy trình, thủ tục ở tất cả các khâu; ban hành 2 nghị quyết chuyên đề về công tác tổ chức cán bộ, cụ thể hóa các chủ trương của Trung ương, của Tỉnh ủy về công quy hoạch và đào tạo cán bộ; ban hành quy định, đề án về công tác luân chuyển, điều động cán bộ lãnh đạo, quản lý; đã thực hiện luân chuyển 14 đồng chí thuộc diện Ban Thường vụ Huyện ủy quản lý. Trong nhiệm kỳ, mặc dù có thời điểm cán bộ chủ chốt của huyện biến động nhưng việc lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy vẫn đảm bảo hoạt động bình thường.

Chỉ đạo thực hiện chặt chẽ công tác đánh giá cán bộ hàng năm gắn với việc xây dựng, rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ. Cấp ủy các cấp thường xuyên chăm lo đến đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, thực hiện chuẩn hóa và trẻ hóa cán bộ các cấp trong hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở. Trong nhiệm kỳ đã cử đi đào tạo 12 thạc sỹ, 120 đại học và 25 cao cấp lý luận chính trị; nâng cao nhận thức về Đảng cho 1 .330 quần chúng ưu tú ; bồi dưỡng đảng viên mới cho 9 52 đ ồng chí; bồi dưỡng nghiệp vụ công tác đảng cho 940 đồng chí B í thư chi bộ, cấp ủy viên cơ sở; bồi dưỡng chuyên đề giáo dục đạo đức cách mạng cho 952 cán bộ chính quyền, đoàn thể cơ sở; cử đi đào tạo trung cấp lý luận chính trị cho 272 đồng chí .

Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã tập trung lãnh đạo xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng; chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; tăng cường kiểm tra, giám sát, hướng dẫn cơ sở thực hiện tốt các quy định của Trung ương về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và chất lượng của đảng viên, qua đánh giá xếp loại hàng năm 100% TCCS Đảng hoàn thành nhiệm vụ, 75 – 80% hoàn thành tốt nhiệm vụ và trong sạch vững mạnh, không có tổ chức Đảng yếu kém. Quy định 76 của Bộ Chính trị cũng như những quy định khác trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ được chỉ đạo thực hiện nghiêm túc.

Cấp ủy thường xuyên quan tâm về mọi mặt đối với công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở. Công tác phát triển đảng viên được quan tâm cả về số lượng và chất lượng, tỷ lệ đảng viên mới trẻ, nữ, trình độ chuyên môn ngày càng tăng. Trong 5 năm đã kết nạp được 764 đảng viên mới, vượt chỉ tiêu đại hội đề ra, góp phần nâng cao chất lượng của tổ chức Đảng.

Cấp ủy và UBKT các cấp đã kịp thời triển khai, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, qui định, hướng dẫn của cấp trên về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng; xây dựng qui chế làm việc của UBKT; xây dựng chương trình kiểm tra, giám sát của cấp ủy và UBKT theo Điều 30, Điều 32 của Điều lệ Đảng; triển khai thực hiện Đề án 1.3. Công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường. “Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy huyện và cơ sở”. Trong nhiệm kỳ, đã tiến hành kiểm tra 7 tổ chức Đảng và 20 đảng viên, cấp ủy viên có dấu hiệu vi phạm; giải quyết kịp thời 58 đơn thư tố cáo của đảng viên. Các tổ chức Đảng có thẩm quyền đã thi hành kỷ luật 67 đảng viên, cấp ủy viên (khiển trách 46, cảnh cáo 17, cách chức 02, khai trừ 02). Cấp ủy các cấp và UBKT Huyện ủy đã giám sát 605 lượt tổ chức Đảng và 244 đảng viên. Công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo được thực hiện nghiêm túc, kịp thời. Kết quả công tác kiểm tra, giám sát đã góp phần tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên.

1.4. Công tác dân vận được đổi mới theo hướng gần dân, sát cơ sở và nâng cao hiệu quả hoạt động. H ệ thống dân vận từ huyện đến cơ sở có nhiều cố gắng, sâu sát cơ sở, nắm chắc tình hình nhân dân, tăng cường tiếp xúc, đối thoại, giải quyết các kiến nghị của nhân dân. Các tổ chức trong hệ thống chính trị đã có nhiều chủ trương, giải pháp và chú trọng hơn đến công tác dân vận; ban hành các đề án, chương trình, kế hoạch; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thực hiện nhiệm vụ công tác dân vận; chỉ đạo tăng cường xây dựng các điển hình “Dân vận khéo”; đẩy mạnh công tác dân vận chính quyền, lực lượng vũ trang và các chương trình phối hợp về công tác dân vận; thực hiện có hiệu quả quy chế dân chủ cơ sở, huy động tốt các nguồn lực đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh; gắn các phong trào thi đua, các cuộc vận động với các hoạt động kinh tế – xã hội trong huyện.

1.5. Công tác nội chính, phòng chống tham nhũng, lãng phí được quan tâm chỉ đạo và đạt được một số kết quả bước đầu. Các cấp ủy, chính quyền, các tổ chức,cơ quan, đơn vị đã quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, lãng phí; chỉ đạo hoạt động của các cơ quan Nhà nước thực hiện ngày càng chặt chẽ, công khai, minh bạch theo quy định của pháp luật; đã kịp thời ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, ph òng ngừa, ngăn chặn không để xảy ra vụ việc tham nhũng , lãng phí có tính nghiêm trọng , góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

1.6. Nghiêm túc triển khai và đạt được một số kết quả bước đầu trong việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị. Cấp ủy từ huyện đến cơ sở đã tiến hành quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) nghiêm túc, kịp thời, đúng kế hoạch. Công tác chuẩn bị và tiến hành kiểm điểm được cấp trên đánh giá đạt yêu cầu. Việc xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch sửa chữa, khắc phục thiếu sót, khuyết điểm được Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo theo dõi sâu sát. Kết quả kiểm tra, giám sát của cấp ủy và UBKT các cấp cho thấy các tổ chức cơ sở Đảng, đảng viên từ huyện đến cơ sở đã cơ bản hoàn thành việc khắc phục, sửa chữa những thiếu sót, khuyết điểm; nhờ đó đã có tác dụng rõ nét đến việc phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống, củng cố sức mạnh đoàn kết, góp phần xây dựng hệ thống chính trị của địa phương ngày càng trong sạch, vững mạnh.

2. Hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp có bước đổi mới; công tác quản lý nhà nước, hiệu lực, hiệu quả điều hành của Ủy ban nhân dân các cấp được nâng lên

Hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp tiếp tục được đổi mới, nâng cao chất lượng, Hội đồng nhân dân các cấp duy trì và tổ chức các kỳ họp theo đúng luật định; chất lượng các kỳ họp HĐND được nâng lên; ban hành các quyết định sát với tình hình của địa phương; tăng cường hoạt động giám sát UBND và các cơ quan thuộc UBND các cấp, tập trung vào các lĩnh vực xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, quản lý sử dụng ngân sách, cải cách hành chính. Thường trực Hội đồng nhân dân các cấp đã phối hợp chặt chẽ với UBND, MTTQ chuẩn bị tốt nội dung các kỳ họp.

3. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân có nhiều đổi mới, góp phần tích cực cùng Đảng bộ thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đã chú trọng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động theo hướng thiết thực và hiệu quả; thực hiện đa dạng các hình thức tập hợp quần chúng nhân dân và hội viên; chăm lo đời sống, quan tâm nắm bắt tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của đoàn viên, hội viên. Tuyên truyền vận động đoàn viên, hội viên và động viên nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính trị của địa phương. Trong nhiệm kỳ, MTTQ và các đoàn thể từ huyện đến cơ sở đã thực hiện nghiêm chủ trương của cấp ủy về công tác nhân sự đại hội đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định. Các cuộc vận động, phong trào thi đua do MTTQ và các đoàn thể phát động gắn với xây dựng nông thôn mới được đông đảo các tầng lớp nhân dân hưởng ứng, đem lại hiệu quả thiết thực. Quan tâm củng cố, kiện toàn tổ chức, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; tỷ lệ tập hợp đoàn viên, hội viên được nâng lên: Đoàn Thanh niên đạt 62,8%, Hội Nông dân đạt 85,9%; Hội Phụ nữ đạt 86%; Hội Cựu chiến binh đạt 98%; Liên đoàn Lao động đạt 94,0%. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân triển khai thực hiện việc giám sát và phản biện xã hội, tham gia đóng góp ý kiến đối với Đảng và chính quyền thiết thực và hiệu quả.

Phần thứ hai PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHIỆM KỲ 2015 – 2020 A. PHƯƠNG HƯỚNG, PHƯƠNG CHÂM, MỤC TIÊU VÀ CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRỌNG TÂM

I. PHƯƠNG HƯỚNG CHUNG

Tranh thủ tối đa cơ hội và điều kiện thuận lợi, chủ động khắc phục khó khăn; đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới gắn với thực hiện có hiệu quả tái cơ cấu ngành nông nghiệp; đột phá về ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; tích cực thu hút đầu tư, đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ, tăng cường xuất khẩu, tăng thu ngân sách; nâng cao chất lượng lĩnh vực văn hóa, xã hội; tăng cường công tác bảo vệ môi trường; giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo quốc phòng – an ninh; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy và các tổ chức Đảng, hiệu lực, hiệu quả của các cấp chính quyền. Phấn đấu đến năm 2018, huyện đạt chuẩn nông thôn mới và sớm trở thành một trong những huyện dẫn đầu toàn tỉnh.

II. PHƯƠNG CHÂM HÀNH ĐỘNG

“Đoàn kết, dân chủ, sáng tạo, phát triển”

III. CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU

* Về kinh tế:

1. Tốc độ tăng GTSX bình quân giai đoạn 2016 – 2020 đạt 17,5%/năm

+ Nông lâm, thuỷ sản 4,8%;

+ Công nghiệp – xây dựng 20,6%;

+ Dịch vụ 19,1%.

2. Cơ cấu các ngành kinh tế trong giá trị sản xuất đến năm 2020: nông, lâm, thuỷ sản chiếm 13,8%; công nghiệp – xây dựng chiếm 61,9%; dịch vụ chiếm 24,3%.

3.Sản lượng lương thực bình quân hàng năm giữ ổn định 52.500 tấn.

4. Giá trị sản phẩm trên một ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản năm 2020 đạt 120 triệu đồng; có nhiều mô hình sản xuất có giá trị sản xuất 350- 500 triệu đồng.

5. Giá trị xuất khẩu năm 2020 đạt 45 triệu USD trở lên.

6. Tổng vốn đầu tư phát triển thời kỳ 2016- 2020 đạt 11.500 tỷ đồng trở lên.

7. Thu nhập bình quân đầu người năm 2020 đạt 54,5 triệu đồng (tương đương 2.600 USD).

8. Tỷ lệ tăng thu ngân sách hàng năm đạt 12% trở lên.

10. Tỷ lệ dân số đô thị năm 2020 đạt 32% trở lên.

11. Tỷ lệ đường giao thông trên địa bàn (không tính quốc lộ, tỉnh lộ) được cứng hóa đến năm 2020 đạt 90%.

* Về văn hóa – xã hội:

12.Tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm duy trì ở mức 0,56%.

14. Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động năm 2020 đạt 23%.

15. Tỷ lệ xã, thị trấn đạt tiêu chí quốc gia về y tế năm 2020 đạt 100%, trên 80% dân số tham gia BHYT.

16. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng đến năm 2020 dưới 9,8%.

17.Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân hàng năm từ 1,5 – 2%.

18. Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2020 đạt 75%; trong đó có bằng cấp và chứng chỉ nghề đạt trên 25%.

20. Tỷ lệ nhà kiên cố đến năm 2020 đạt 90%.

21. Tỷ lệ xã, thị trấn, cơ quan, đơn vị đạt tiêu chí kiểu mẫu theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 2020 đạt trên 30%.

* Về môi trường:

22. Tỷ lệ dân số đô thị được dùng nước sạch năm 2020 đạt 95%.

23. Tỷ lệ dân số nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh năm 2020 đạt 100%.

* Về an ninh trật tự:

24. Tỷ lệ khu dân cư đạt tiêu chuẩn an toàn về an ninh trật tự năm 2020 đạt 85%.

* Về xây dựng Đảng

25.Hàng năm có trên 45% tổ chức, cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh; không có tổ chức cơ sở đảng yếu kém.

26. Bình quân hàng năm kết nạp mới 120 đảng viên trở lên.

IV. CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRỌNG TÂM 1. Chương trình phát triển đô thị 2. Chương trình phát triển hạ tầng nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Mục tiêu đến năm 2020, tỷ lệ đường giao thông nông thôn các xã, thôn được cứng hóa đạt 90%; giao thông, thủy lợi nội đồng vùng sản xuất tập trung đạt tiêu chí 100%. Tập trung phát triển hạ tầng giao thông, hạ tầng sản xuất nông nghiệp vùng sản xuất tập trung quy mô lớn thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa. Ưu tiên phát triển hạ tầng: Giao thông, thủy lợi nội đồng; hạ tầng kỹ thuật vùng sản xuất rau an toàn, vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, khu trang trại, khu vực chế biến bảo quản nông sản. Tập trung thu hút các nguồn lực để xây dựng cơ sở hạ tầng như hệ thống điện, đường giao thông, nước sinh hoạt, mạng lưới chợ, trường học, trạm y tế, thiết chế văn hóa, thể thao, công sở; phát triển mạng lưới dịch vụ cung ứng vật tư, kỹ thuật và hỗ trợ ứng dụng tiến bộ khoa học, dịch vụ thu mua, chế biến và tiêu thụ sản phẩm trên địa bàn nông thôn, mở rộng dịch vụ tài chính, tín dụng nông thôn. Đẩy mạnh cơ giới hóa đồng bộ trong sản xuất nông nghiệp. Tập trung xây dựng cơ sở vững mạnh, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đảm bảo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tốt dân chủ xã hội, bảo vệ môi trường. Phấn đấu hoàn thành 100% các xã đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2020 (huyện nông thôn mới vào năm 2018).

3. Chương trình phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn

Mục tiêu đến năm 2020, tỷ lệ lấp đầy cụm công nghiệp, cụm nghề đạt 70%; thu hút vào làm việc tại khu này từ 8.000 lao động trở lên; hàng năm du nhập 1-2 nghề mới vào địa bàn huyện. Ưu tiên những ngành, nghề thu hút nhiều lao động, thân thiện với môi trường. Xây dựng và hoàn thiện hạ tầng Cụm công nghiệp Đông Tiến, Cụm nghề Đông Hoàng, Đông Phú; hình thành thêm cụm công nghiệp tại tiểu vùng phía Nam và cụm tại tiểu vùng phía Tây (trung tâm là (trung tâm là Đông Khê) và 3 cụm nghề mới tại Đông Quang, Đông Nam, Đông Thịnh nhằm thu hút đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến, bảo quản nông sản thực phẩm, trung chuyển hàng hóa, kho vận, cơ khí, điện tử, điện lạnh góp phần đảm bảo tốc độ tăng trưởng công nghiệp – xây dựng hàng năm đạt mục tiêu đại hội đề ra.

4. Chương trình xây dựng con người, cơ quan, đơn vị kiểu mẫu

Mục tiêu đến năm 2020, xây dựng được 5 xã và 8 cơ quan, đơn vị đạt tiêu chí kiểu mẫu; trung bình hàng năm có từ 15 – 20 thôn, khối phố trở lên đạt kiểu mẫu. Tập trung thực hiện kế hoạch xây dựng con người, cơ quan, đơn vị kiểu mẫu. Các xã, thị trấn tổ chức thực hiện kế hoạch đăng ký và công nhận “công dân gương mẫu” và “gia đình kiểu mẫu” để hoàn thiện thôn, khối phố kiểu mẫu và hoàn thành tiêu chí xã, thị trấn kiểu mẫu. Các xã, thôn đạt chuẩn nông thôn mới khẩn trương tiến hành thực hiện kế hoạch hoàn thiện các tiêu chí kiểu mẫu để được công nhận xã, thôn kiểu mẫu.

V. CÁC ĐỘT PHÁ TRONG NHIỆM KỲ

1. Phát triển nhanh kết cấu hạ tầng; tập trung nguồn lực đầu tư có trọng điểm các công trình hạ tầng quan trọng như giao thông, thủy lợi, cấp nước sạch. Tập trung phát triển hạ tầng thị trấn Rừng Thông, cụm công nghiệp Đông Tiến và các cụm nghề và tụ điểm kinh tế để sớm hình thành các thị trấn.

2. Tập trung công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng, điều động, luân chuyển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý huyện và cơ sở. Trước mắt tập trung vào nâng cao năng lực lãnh đạo phát triển kinh tế – xă hội đối với cán bộ cấp cő sở.

3. Nâng cao chất lượng, tạo sự chuyển biến rõ rệt trong hoạt động của hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở; nhất là nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của chính quyền xã, thị trấn.

B. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

I. VỀ KINH TẾ – XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG – AN NINH

, 1. Rà soát, bổ sung, xây dựng mới các quy hoạch phù hợp với đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế tăng cường quản lý quy hoạch

Trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2020, rà soát, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của huyện; điều chỉnh bổ sung quy hoạch chuyên ngành: giao thông, thuỷ lợi, quy hoạch phát triển hạ tầng thương mại. Khẩn t rương h oàn thiện quy hoạch chi tiết t hị trấn Rừng Thông ; lập quy hoạch xây dựng thị trấn Rủn (Đông Khê),Văn Thắng (Đông Văn), Bôn (Đông Thanh), tụ điểm kinh tế Mộc Nhuận (Đông Yên), Thiều (Đông Hoàng); từng bước đầu tư phát triển thành các thị trấn . R à soát, xây dựng các quy hoạch chuyên ngành.

Tăng cường quản lý đầu tư theo quy hoạch, đảm bảo quá trình phát triển phù hợp với quy hoạch đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế – xã hội, nâng cao hiệu quả đầu tư. Tăng cường quản lý các cụm công nghiệp, cụm nghề đã có, lập quy hoạch bổ sung các cụm công nghiệp phía Nam và phía Tây, các cụm nghề Đông Nam, Đông Quang , tạo điều kiện thu hút các doanh nghiệp đầu tư sản xuất, sắp xếp các cơ sở sản xuất phân tán vào khu tập trung gắn với xử lý ô nhiễm môi trường.

2. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng để phát triển với tốc độ cao và bền vững; phát triển doanh nghiệp, đội ngũ doanh nhân; tăng cường thu hút đầu tư

2.1. Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng tái cơ cấu, hình thành vùng sản xuất quy mô lớn; kết hợp xây dựng nông thôn mới với từng bước đô thị hóa nông thôn; phấn đấu giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân hàng năm tăng 4,8%. Tập trung chỉ đạo phát triển các cây trồng, vật nuôi có lợi thế cạnh tranh, giá trị, hiệu quả cao, an toàn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân và phục vụ cho thị trường thành phố Thanh Hóa, các khu công nghiệp và thị trường trong nước; đẩy mạnh sản xuất hàng hóa và dịch vụ sản xuất nông nghiệp . Tích cực thu hút các nguồn lực đầu tư vào sản xuất nông nghiệp theo hướng liên kết từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ sản phẩm giữa hộ nông dân với với doanh nghiệp, Hợp tác xã, chủ trang trại. Thực hiện chính sách khuyến nông, hỗ trợ vốn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuất có hiệu quả; t iếp tục hoàn thiện hạ tầng nông nghiệp; dồn điền, đổi thửa để hình thành vùng, cơ sở sản xuất nông nghiệp quy mô lớn. Phấn đấu đưa tỷ trọng giá trị sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao chiếm hơn 30% giá trị sản phẩm nông, lâm, thủy sản.

Xây dựng vùng lúa chất lượng cao 3.500 ha, hình thành 12 cánh đồng mẫu lớn; xây dựng 4 cơ sở trồng trọt công nghệ cao (nhà lưới, nhà kính) để sản xuất rau, đậu, củ, quả, hoa tươi năng suất, chất lượng cao và giá trị hàng hóa lớn (tại các xã Đông Tiến, Đông Yên, Đông Anh, Đông Hoàng); hoàn thiện 6 vùng rau an toàn. Xây dựng và hình thành 5 cơ sở sản xuất kinh doanh hoa, cây cảnh tại thị trấn Rừng Thông, Đông Anh, Đông Quang, Đông Hoàng. Chuyển 1.000 ha đất trồng 2 vụ lúa kém hiệu quả sang trồng các loại cây ăn quả, cây làm thức ăn chăn nuôi, xây dựng trang trại sản xuất tổng hợp hoặc sản xuất phi nông nghiệp có hiệu quả .

Kết hợp xây dựng nông thôn mới với từng bước đô thị hóa nông thôn. Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên cơ sở phát huy, tham gia của cộng đồng, lồng ghép các nguồn vốn đầu tư cho xây dựng các xã nông thôn mới và xây dựng cơ sở hạ tầng cho các xã tiến tới hình thành tụ điểm kinh tế, tránh lãng phí trong đầu tư. Nâng cấp nhà máy nước tại thị trấn Rừng Thông đủ cung cấp nước sạch cho thị trấn và các xã lân cận; xây dựng hệ thống cấp nước sinh hoạt tập trung cho các xã phía Nam và phía Tây của huyện. Phấn đấu đến năm 2020, có trên 50% số hộ trên địa bàn huyện được dùng nước sạch.

Việc xây dựng, nâng cấp hạ tầng thiết yếu phải gắn với sắp xếp và tổ chức lại các khu chức năng cấp xã (khu dân cư, đồng ruộng, khu trung tâm xã,…). Hình thành khu dân cư nông thôn theo hướng đô thị dưới hình thức khu dân cư làng nghề, khu dân cư phi nông nghiệp.

2.2. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp – xây dựng; phấn đấu tăng giá trị sản xuất bình quân hàng năm đạt 20,6%. T ranh thủ mọi nguồn vốn đầu tư phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, phù hợp với xu thế phát triển chung của cả tỉnh. Khuyến khích phát triển các ngành có giá trị gia tăng cao và phục vụ nông nghiệp; phát triển công nghiệp với nhiều loại hình, quy mô và thành phần kinh tế; phát triển tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp nông thôn, nghề thủ công truyền thống, công nghiệp khai thác, chế biến. Đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp, các cụm nghề hiện có, xúc tiến thu hút đầu tư lấp đầy diện tích đất cho thuê. Bổ sung quy hoạch thêm các cụm công nghiệp, cụm nghề mới phía Nam và phía Tây của huyện. Tập trung phát triển một số ngành công nghiệp về sản xuất gạch không nung, chế biến nông sản, thực phẩm (chế biến gạo; hoa, củ, quả; giết mổ gia súc, gia cầm), sản xuất phân bón, chế biến lâm sản. K huyến khích phát triển công nghiệp về sản xuất cấu kiện vật liệu xây dựng, chế biến thức ăn gia súc, cơ khí sửa chữa, điện máy, máy nông nghiệp, may công nghiệp, hàng gia dụng, công nghiệp hỗ trợ. Tập trung thu hút đầu tư phát triển hạ tầng, thu hút cơ chế chính sách của Trung ương, của tỉnh để p hát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống và nghề mới có sản phẩm xuất khẩu, ưu tiên các ngành có lợi thể về nguyên liệu, khả năng cạnh tranh, thu hút nhiều lao động như: dệt may, nghề chế biến sản phẩm địa phương; nghề gắn với phát triển các sản phẩm du lịch như chế tác đá mỹ nghệ, chế tác đồng mỹ nghệ, nghề mộc mỹ nghệ và các nghề tiểu thủ công nghiệp khác tại các cụm nghề trong huyện. Thu hút đầu tư x ây dựng các cơ sở công nghiệp công nghệ cao, sạch: điện tử, điện lạnh, công nghệ sinh học.

Khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng đầu tư trang thiết bị để có thể thực hiện được các dự án với quy mô lớn, rút ngắn thời gian thi công, yêu cầu kỹ thuật phức tạp; nâng cao chất lượng, thẩm mỹ và kiến trúc công trình; tạo điều kiện thuận lợi để phát triển doanh nghiệp, làng nghề, Hợp tác xã xây dựng, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của sự phát triển kinh tế – xã hội của huyện.

2.3. Phát triển nhanh và đa dạng các ngành dịch vụ, nhất là các dịch vụ có lợi thế; phấn đấu tốc độ tăng giá trị các ngành dịch vụ đạt 19,1% trở lên. Thu hút đầu tư phát triển mạnh các loại dịch vụ đi đôi với việc nâng cao chất lượng sản phẩm để có các dịch vụ chất lượng cao. Ưu tiên phát triển dịch vụ ngân hàng, thương mại, khoa học công nghệ, vận tải; nâng cao chất lượng các dịch vụ thông tin và truyền thông; tổ chức, sắp xếp lại mạng lưới thương mại gắn với quy hoạch đô thị. Phát triển thương mại theo hướng đưa huyện thành đầu mối trung chuyển một số luồng hàng giữa các huyện phía Tây với thành phố Thanh Hóa. Khuyến khích phát triển thương mại tư nhân, chợ đầu mối, chợ kinh doanh tổng hợp, gắn với chuyển đổi mô hình quản lý chợ; mạng lưới dịch vụ cung ứng vật tư, kỹ thuật và khoa học công nghệ; dịch vụ các khâu sản xuất trong nông nghiệp; mạng lưới dịch vụ thu mua, chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm; mở rộng dịch vụ tài chính, tín dụng nông thôn; phát triển dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi, giải trí, dịch vụ cung ứng xăng dầu. Khuyến khích, hỗ trợ các dịch vụ quảng bá thương hiệu sản phẩm địa phương, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại và xuất khẩu lao động; xây dựng văn minh thương mại ở khu vực đô thị và nông thôn.

2.4. Đẩy mạnh áp dụng các tiến bộ khoa học – công nghệ vào tất cả các lĩnh vực sản xuất và đời sống. Tập trung vào xây dựng các mô hình sản xuất mới tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao; chú trọng đẩy mạnh ứng dụng các giống, cây, con mới để tạo ra sản phẩm có tính cạnh tranh trên thị trường. Xây dựng các mô hình liên kết trong sản xuất nhất là trong sản xuất nông nghiệp; nâng cao chất lượng công tác khuyến nông. Tập trung đưa công nghệ mới vào trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và năng lực, hiệu quả sản xuất. Tăng cường thu hút các dịch vụ tư vấn về khoa học – công nghệ vào địa bàn.

2.5. Phát triển doanh nghiệp, đội ngũ doanh nhân, giám đốc Hợp tác xã và chủ trang trại lớn mạnh. Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội doanh nghiệp huyện, Hội làm vườn và trang trại. Đẩy mạnh tuyên truyền phát huy vai trò và x ây dựng đội ngũ doanh nhân, giám đốc Hợp tác xãvà chủ trang trại; tăng cường mối liên kết, hợp tác giữa doanh nhân, giám đốc HTX, chủ trang trại với công nhân, xã viên, nông dân dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng. Hỗ trợ đội ngũ doanh nhân, giám đốc HTX, chủ trang trại mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh; đồng thời, tạo điều kiện để và đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao đạo đức, văn hóa kinh doanh, dịch vụ nhằm nâng cao trách nhiệm xã hội của đội ngũ doanh nhân, giám đốc HTX và chủ trang trại. Động viên và khơi dậy tiềm năng, trách nhiệm của doanh nhân trong phát triển kinh tế – xã hội của huyện. Phấn đấu đến năm 2020 trên địa bàn huyện có 500 doanh nghiệp, 5000 hộ kinh doanh, 30 HTX, 300 trang trại (22 trang trại đạt tiêu chí theo Thông tư số 27 – TT/BNN&PTNT).

2.6. Tập trung cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo sức hấp dẫn về thu hút đầu tư vào địa bàn huyện. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, đột phá về môi trường đầu tư kinh doanh; tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, giải quyết kịp thời các đề xuất, kiến nghị của doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn. Công khai các thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian giải quyết cho các doanh nghiệp, tổ chức và công dân .

2.7. Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên, môi trường. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của huyện đến năm 2020; quản lý đất đai theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; hoàn thành công tác cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gắn với việc đo đạc bản đồ, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý đất đai; quản lý chặt chẽ các hoạt động khai thác, tập kết, vận chuyển, chế biến tài nguyên, phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm. Tăng cường kiểm tra đối với công tác giao đất, cho thuê đất. Xử lý nghiêm các vi phạm về môi trường trong sản xuất; tập trung khắc phục các tồn tại ô nhiễm môi trường trong các cụm công nghiệp, cụm nghề, trong chăn nuôi, chất thải có hại ngoài đồng ruộng; xây dựng cảnh quan môi trường trong khu dân cư sạch đẹp.

3. Phát triển nhanh kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội đồng bộ, thúc đẩy quá trình đô thị hóa

3.1. Huy động tối đa các nguồn lực đầu tư, xây dựng và hoàn thiện hệ thống giao thông. Tham gia tích cực các phần việc được phân công trong các dự án đầu tư theo nguồn vốn Trung ương, nguồn vốn của tỉnh đi qua địa bàn huyện, gắn với phát triển đô thị và cơ sở sản xuất công nghiệp, dịch vụ dọc các tuyến như: Đường sắt và đường bộ cao tốc Bắc Nam, đường vành đai phía Tây thành phố Thanh Hóa, đường Nghi Sơn – Sao Vàng, Quốc lộ 45, 47, tỉnh lộ 517. Đề xuất đầu tư nâng cấp các tuyến đường huyện quản lý thành tuyến đường tỉnh quản lý như: Thiệu Giao – Đông Thanh – Đông Nam; thị trấn Rừng Thông – Đông Văn – Đông Vinh. Đầu tư nâng cấp một số tuyến đường cấp huyện theo quy hoạch.

3.2. Phát triển mạng lưới điện, nhất là hệ thống điện hạ áp, đáp ứng nhu cầu cho phát triển kinh tế và sinh hoạt của nhân dân để 100% hộ dân được sử dụng điện lưới thường xuyên vào năm 2020. Đầu tư hoàn thiện hệ thống truyền tải và phân phối điện trong huyện, nâng cấp hệ thống truyền tải ở thị trấn, thị tứ và khu vực nông thôn, đảm bảo an toàn và hiệu quả, giảm tổn thất điện năng. Đề xuất cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới hệ thống truyền dẫn 10 KV và 35 KV, đảm bảo cung cấp điện cho sinh hoạt và sản xuất của các xã, hoàn thành đầu tư 100% tuyến đường dây và xây dựng các trạm biến áp đảm bảo tiêu chuẩn nông thôn mới.

3.3. Tập trung huy động các nguồn lực xây dựng hệ thống thủy lợi đủ năng lực phục vụ tưới, tiêu chủ động. Tu bổ, bồi trúc 85,8 km kênh đã được kiên cố hoá; đến năm 2020 kiên cố hoá 31,7 km kênh mương để nâng cao năng lực hệ thống phục vụ tưới, tiêu khoa học. Cải tạo nâng cao năng lực tiêu kênh Cầu Ê – Trường Tuế; kênh Tân Thành – Chiếu Thượng, Sông Mơ; kiên cố hoá 100 km hệ thống sông, kênh tiêu chính trên địa bàn.

3.4. Đầu tư xây dựng các tuyến cáp quang đến thôn; phát triển mạng thông tin di động băng thông rộng, mạng internet. Xây dựng Trung tâm bưu chính Đông Sơn thành trung tâm đầu mối của huyện, phát huy các điểm bưu điện văn hóa xã trong vận chuyển thư báo, dịch vụ thông tin và truyền thông.

3.5. Tiếp tục huy động xã hội hóa các nguồn lực xây dựng cơ sở vật chất cho giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao. Phấn đấu đến năm 2020, đủ các phòng bộ môn và phòng học chức năng, củng cố nâng cao chất lượng Trung tâm Giáo dục cộng đồng ở các xã. Hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, được đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế; xây dựng mới Trung tâm Y tế dự phòng huyện; tiếp tục nâng cấp cơ sở vật chất Bệnh viện đa khoa huyện. Đầu tư xây dựng các công trình văn hóa, thể thao trên địa bàn các xã, thôn đạt tiêu chí nông thôn mới trước năm 2020; nâng cấp Trung tâm Văn hóa Thể thao huyện đạt tiêu chuẩn cấp III; xây dựng mới thư viện, sân vận động, nhà truyền thống của huyện. Huy động các nguồn vốn để đ ầu tư, tu bổ, tôn tạo: Địa điểm di tích lịch sử danh thắng Rừng Thông, khu di tích Hàm Hạ, khu nghỉ dưỡng tâm linh Hồ Rủn, đền thờ Nguyễn Văn Nghi, đền thờ Nguyễn Chích , khu du lịch văn hóa lịch sử Thành Hoàng Ngưu, đầu tư một số hạng mục khu văn hoá – lịch sử Đông Khê.

3.7. Tập trung đầu tư x ây dựng nhanh kết cấu hạ tầng thị trấn Rừng Thông và các tụ điểm kinh tế của huyện. Ư u tiên xúc tiến đầu tư xây dựng khu trung tâm hành chính mới của huyện, đồng thời là nơi tập trung các trụ sở công ty, ngân hàng, văn phòng giao dịch; xây dựng phát triển khu đô thị nhằm đáp ứng nhu cầu nhà ở cho nhân dân… Đẩy mạnh thu hút đầu tư một số dự án xây dựng điểm dân cư theo hướng đô thị, đi trước một bước về hạ tầng kỹ thuật và quỹ nhà ở đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, thúc đẩy đô thị hóa. T ập trung phát triển các cụm dân cư, trung tâm cụm xã, tạo hạt nhân phát triển hệ thống ðô thị, tãng tốc ðộ ðô thị hóa, xây dựng các ðiểm dân cý theo nông thôn mới, thực hiện di dân phục vụ xây dựng các dự án lớn. Tập trung huy động các nguồn lực từ ngân sách nhà nước, nguồn từ cơ chế xây dựng nông thôn mới để chỉnh trang, nâng cấp và đầu tư mới công sở các xã, thị trấn; phấn đấu đến năm 2020 tất cả các xã, thị trấn đều có trụ sở làm việc đạt tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng quy định

4. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa – xã hội, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân

4.1. Hoàn thiện mạng lưới trường lớp phù hợp với thực tiễn, củng cố vững chắc kết quả phổ cập giáo dục các bậc học. T iếp tục đổi mới công tác quản lí giáo dục, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ; tập trung xây dựng trường THCS Nguyễn Chích thành trường chất lượng cao; tạo sự chuyển biến tích cực chất lượng giáo dục trung học phổ thông, chất lượng học sinh giỏi cấp tỉnh, từng bước xây dựng trường THPT Đông Sơn I thành trường trọng điểm chất lượng cao; quan tâm đúng mức và tạo được sự chuyển biến rõ nét việc dạy học ngoại ngữ ở các bậc học; thực hiện có hiệu quả chương trình hành động đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo; đẩy mạnh phong trào xã hội hoá giáo dục, phong trào khuyến học, phát triển hoạt động của Trung tâm Giáo dục cộng đồng; tiếp tục thực hiện mục tiêu xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia; phấn đấu t ỷ lệ xã, thị trấn đạt chuẩn xã hội học tập 90% trở lên vào năm 2020.

ẩy mạnh phong trào Quan tâm phát triển sự nghiệp thể dục thể thao, phát triển các loại hình hoạt động thể dục – thể thao; tăng cường đầu tư xã hội hóa xây dựng sân thể thao, nhà tập đa năng phục vụ các hoạt động thể thao quần chúng. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào 4.3. Nâng cao chất lượng hoạt động văn hoá, huy động các nguồn lực xã hội, xây dựng các thiết chế văn hoá. Tạo điều kiện thuận lợi để đời sống văn hoá ở cơ sở phát triển, khôi phục những nét đặc sắc truyền thống văn hoá Đông Sơn; d uy trì, phục hồi và phát triển dân ca Đông Anh kết hợp với xây dựng các sản phẩm du lịch trên cơ sở phát huy các giá trị di tích và tinh hoa văn hóa “Trống đồng Đông Sơn”. Đ ; “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với xây dựng nông thôn mới, xây dựng cơ quan, đơn vị, địa phương kiểu mẫu phấn đấu đến năm 2020 có 90% số gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá, 10 xã đạt chuẩn văn hoá nông thôn mới, 90% cơ quan đạt chuẩn văn hóa, n âng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hoá. Quan tâm trùng tu tôn tạo, phát huy các giá trị di tích lịch sử – văn hóa gắn với phát triển du lịch ở các khu di tích trọng điểm, di tích quốc gia; tăng cường quảng bá tiềm năng du lịch của huyện gắn với các điểm du lịch vùng phụ cận trong tỉnh; kêu gọi và tranh thủ các nguồn lực để đầu tư vào các điểm du lịch. Củng cố, nâng cao chất lượng công tác thông tin tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông đại chúng góp phần phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Từng bước hiện đại hóa cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng phát thanh, mở rộng diện phủ sóng để tất cả hộ gia đình được tiếp cận và sử dụng các dịch vụ thông tin , truyền thông. “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”; hình thành ý thức tự rèn luyện TDTT trong nhân dân; phấn đấu đến năm 2020, tỷ lệ người dân luyện tập thể dục thể thao thường xuyên đạt 40%.

4.4. Tăng cường công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền lựa chọn các doanh nghiệp có uy tín để triển khai đưa lao động xuất khẩu sang các thị trường có thu nhập cao và ổn định. Thực hiện tốt chương trình giảm nghèo bền vững, huy động các nguồn lực hỗ trợ các gia đình, cá nhân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Thực hiện đúng chế độ với người có công và đối tượng bảo trợ xã hội. Tiếp tục thực hiện tốt đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn; thực hiện việc tháp nhập Trung tâm Giáo dục thường xuyên và Trung tâm Dạy nghề nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục thường xuyên và dạy nghề. Đảm bảo các chính sách an sinh xã hội; phấn đấu đến năm 2020, có trên 50% trở lên người lao động tham gia bảo hiểm xã hội, 30% tham gia bảo hiểm thất nghiệp, trên 80% trở lên dân số tham gia bảo hiểm y tế.

5. Tăng cường củng cố quốc phòng – an ninh, giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, nâng cao chất lượng hoạt động các ngành nội chính tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế – xã hội

Xây dựng lực lượng công an, quân sự vững mạnh toàn diện; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên đảm bảo chất lượng; hoàn thành kế hoạch tuyển quân hàng năm; thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, xây dựng huyện là khu vực phòng thủ vững chắc, các xã, thị trấn là cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu. Tăng cường củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, coi trọng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng – an ninh, không để xảy ra tình huống đột xuất, bất ngờ. Tiếp tục giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện; thực hiện có hiệu quả chương trình quốc gia về phòng chống tội phạm; đảm bảo an toàn giao thông; phòng chống cháy, nổ; tăng cường xây dựng, củng cố các mô hình, tổ chức tự quản về an ninh trật tự; nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, xây dựng 85% khu dân cư đạt tiêu chí an toàn về an ninh trật tự. Củng cố xây dựng các cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động theo yêu cầu của cải cách tư pháp . Đảm bảo các cơ quan tư pháp thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, không để xảy ra oan sai, hạn chế tối đa việc bỏ lọt tội phạm . Thực hiện nghiêm các quy định về phòng chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí từ huyện đến cơ sở.

II. VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

1. Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng; xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạn

Tăng cường và đổi mới công tác dân vận của cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể để thu hút, tập hợp đoàn kết hội viên, nhân dân; phối hợp chặt chẽ các lực lượng trong hệ thống chính trị làm tốt công tác dân vận. Hệ thống dân vận phải sâu sát cơ sở, tăng cường đối thoại và lắng nghe ý kiến của nhân dân; chú trọng nắm bắt tình hình nhân dân để chủ động thực hiện tốt nhiệm vụ thuyết phục, vận động nhân dân đạt hiệu quả. Tiếp tục triển khai sâu rộng phong trào 1.4. Tăng cường công tác dân vận trong tình hình mới. Thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác vận động quần chúng. Các cấp ủy đảng cần xác định rõ công tác dân vận là nhiệm vụ quan trọng của Đảng và cả hệ thống chính trị. “Dân vận khéo”; thực hiện tốt quy chế dân chủ và xây dựng cơ sở; tiếp tục tập trung thực hiện có hiệu quả đề án “Tăng cường công tác dân vận trong xây dựng nông thôn mới” của Ban Thường vụ Huyện ủy khóa XXIII.

1.6. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và Chỉ thị 03- CT/TW của Bộ Chính trị. Tăng cường lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với thực hiện kế hoạch sửa chữa, khắc phục hạn chế, khuyết điểm của tập thể cấp ủy, cấp ủy viên; của tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị và của cá nhân đã được chỉ ra sau kiểm điểm và những thiếu sót, khuyết điểm mới phát sinh sau kiểm điểm một cách thường xuyên, liên tục. Tiếp tục nâng cao nhận thức, quán triệt sâu sắc tầm quan trọng, ý nghĩa thiết thực lâu dài của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong toàn Đảng bộ và các tầng lớp nhân dân, trước hết là đối với cấp ủy và lãnh đạo chính quyền, đoàn thể các cấp. Gắn việc thực hiện Chỉ thị với thực hiện đạt hiệu quả cao nhiệm vụ xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh và xây dựng nông thôn mới với các phong trào thi đua yêu nước khác.

1.7. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Huyện ủy, các cấp ủy, tổ chức đảng. Các cấp ủy đảng tiếp tục cải tiến việc quán triệt, triển khai học tập chủ trương, nghị quyết của Đảng đảm bảo thiết thực, hiệu quả, chú trọng xây dựng các chương trình, kế hoạch hành động cụ thể để tổ chức thực hiện; tăng cường kỷ cương, kỷ luật, giữ vững đoàn kết thống nhất trong Đảng, nâng cao uy tín của Đảng trong các tầng lớp nhân dân. Phát huy vai trò của người đứng đầu cấp ủy trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Xây dựng quy chế làm việc và giữ nghiêm sự điều hành hoạt động của cấp ủy theo quy chế, nhất là hoạt động của Thường trực, Ban Thường vụ cấp ủy, đảm bảo sự lãnh đạo của cấp ủy một cách toàn diện. Cải tiến lề lối làm việc, bám sát cơ sở, nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo. Phát huy dân chủ, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ và chế độ tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng. Thực hiện nghiêm túc chế độ kiểm tra, giám sát việc sơ kết, tổng kết các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, phát hiện những nhân tố mới, mô hình mới, biểu dương gương người tốt, việc tốt; uốn nắn những sai lệch, thiếu sót; xử lý nghiêm minh những cá nhân, tổ chức vi phạm.

– Nâng cao năng lực chỉ đạo, điều hành của UBND huyện và các xã, thị trấn và khả năng cụ thể hóa các nghị quyết của cấp ủy, HĐND vào thực tiễn. Nâng cao chất lượng tham mưu của chính quyền cho cấp ủy trong việc đề ra chủ trương, cơ chế, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh trên địa bàn; đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là thủ tục hành chính; nâng cao chất lượng và tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ của cán bộ công chức, viên chức; nghiêm túc thực hiện trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị; xây dựng hệ thống chính quyền trong sạch, minh bạch, thượng tôn pháp luật, vì lợi ích của người dân. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kỷ luật, kỷ cương hành chính, các biện pháp thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí.

ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

HUYỆN UỶ ĐÔNG SƠN Đông Sơn, ngày 10 tháng 7 năm 2015

BÁO CÁO CHÍNH TRỊ

Phần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ HUYỆN LẦN THỨ XXIII, NHIỆM KỲ 2010 – 2015

Năm năm qua, Đảng bộ và nhân dân huyện nhà thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XXIII trong điều kiện chính trị, xã hội ổn định; nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ban hành đã thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển; được sự quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ của tỉnh, cùng kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành kinh tế – xã hội của cấp ủy đảng từ huyện đến cơ sở được phát huy; sự vào cuộc mạnh mẽ của các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội đã tác động tích cực đến phát triển sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân.

Bên cạnh đó, chúng ta cũng gặp không ít khó khăn, thách thức do thời tiết diễn biến phức tạp, kinh tế thế giới chậm phục hồi; giá cả hàng hóa, vật tư tăng cao; việc điều chỉnh địa giới hành chính, chuyển 5 xã, thị trấn về thành phố Thanh Hóa làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế – xã hội, song cũng là cơ hội tạo ra tư duy mới, đột phá trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy và chính quyền huyện.

Trong tình hình đó, Đảng bộ và nhân dân trong huyện đã phát huy truyền thống cách mạng, đoàn kết, vượt qua khó khăn, nỗ lực phấn đấu, đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực. Kết quả thực hiện cụ thể như sau:

A- NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

I- VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI, BẢO ĐẢM QUỐC PHÒNG – AN NINH

1- Kinh tế tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao và phát triển tương đối toàn diện; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực; hoạt động KH&CN được quan tâm

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm giai đoạn 2011-2015 ước đạt 15,7%, vượt mục tiêu đại hội 0,2%GRDP bình quân đầu người năm 2015 ước đạt 37,43 triệu đồng, vượt 10,73 triệu đồng so với mục tiêu đại hội.

1.1. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản phát triển theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 3,2%; cơ cấu cây trồng, vật nuôi và phát triển kinh tế trang trại, gia trại có sự chuyển dịch tích cực. Diện tích vùng lúa thâm canh, năng suất, chất lượng, hiệu quả cao đạt 4.000 ha, vượt 300 ha so với kế hoạch ; cơ cấu lại bộ giống lúa phù hợp với từng vùng sản xuất, nhiều loại giống lúa cũ được thay bằng giống mới, đem lại hiệu quả cao ; cơ giới hoá đồng bộ trong sản xuất lúa được áp dụng ở hầu hết các địa phương; hình thành một số vùng sản xuất rau an toàn, mô hình trồng hoa cao cấp; sản lượng lương thực có hạt bình quân hàng năm đạt 58.647 tấn, dự kiến sản lượng năm 2015 cao hơn năm 2010 là 1.614 tấn; giá trị sản phẩm thu được trên 1 ha đất sản xuất nông nghiệp năm 2015 ước đạt 85 triệu đồng/ha, tăng 20 triệu đồng so với năm 2010, vượt mục tiêu đại hội. Chăn nuôi phát triển theo hướng chăn nuôi trang trại, gia trại; tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm ước đạt 3,6%; con nuôi đặc sản như chim trĩ, chim bồ câu pháp, vịt trời, lợn rừng được nuôi ở nhiều địa phương. Duy trì bảo vệ tốt diện tích 65 héc ta rừng trồng, công tác phòng chống cháy rừng được thực hiện nghiêm ngặt, không để xảy ra vụ cháy lớn. Giá trị sản xuất thủy sản hàng năm bình quân tăng 5,8%/năm; mô hình nuôi các loại thủy sản hiệu quả cao được phát triển ở nhiều địa phương.

Sản xuất công nghiệp – xây dựng tăng trưởng khá. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 21 % , vượt mục tiêu đại hội; giá trị sản xuất năm 2015 ước đạt 721,526 tỷ đồng. Năm 2015, dự kiến có 250 doanh nghiệp, tăng 3,8 lần so với năm 2010, bình quân 315 dân/1 doanh nghiệp . Trong 5 năm, đã hình thành thêm 190 cơ sở sản xuất mới ; c ác sản phẩm chủ lực như đá ốp lát, đá xây dựng, đồ gỗ, thức ăn gia súc, gạch nung … vẫn duy trì được mức độ tăng trưởng khá; sản phẩm có lợi thế cạnh tranh như gạch lát đường, đá ốp lát, sản phẩm từ nghề đúc đồng thủ công, các sản phẩm chế biến từ nông sản, thực phẩm truyền thống phát triển ổn định ; c ác sản phẩm mới được tạo ra như gạch Tezazzo; các sản phẩm bê tông, cấu kiện xây dựng đúc sẵn, thức ăn gia súc; du nhập mới một số ngành nghề nông thôn như sửa chữa máy móc cơ, điện nông nghiệp .

Hoạt động xây dựng phát triển khá ; c ó 20 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, thu hút và tạo việc làm cho 585 lao động, doanh thu trên 147 tỷ đồng; năng lực chuyên môn và trình độ kỹ thuật từng bước được nâng lên, một số doanh nghiệp có khả năng thi công nhà cao tầng và công trình có yêu cầu kỹ thuật cao ; g óp phần đáng kể vào đẩy nhanh tiến độ xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, xây dựng nông thôn mới của huyện trong những năm qua.

T hu ngân sách Nhà nước trên địa bàn được quan tâm chỉ đạo; có 4 năm thu ngân sách vượt dự toán tỉnh giao , bình quân vượt 12%/năm Chi ngân sách cơ bản kịp thời, đáp ứng yêu cầu hoạt động thường xuyên và một số chương trình, dự án (không tính tiền cấp quyền sử dụng đất phát triển kinh tế – xã hội ; công tác quản lý ngân sách đảm bảo chặt chẽ, đúng quy định.

1.4. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, gắn với tiềm năng thế mạnh của từng vùng và địa phương. Tỷ trọng ngành nông, lâm, thuỷ sản trong GRDP giảm từ 43,4% năm 2010 xuống còn 26,5% năm 2015; tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng tăng từ 31,6% lên 47,7%; tỷ trọng các ngành dịch vụ tăng từ 25,0% lên 25,8%. Trong nội bộ ngành nông nghiệp, tỷ trọng trong trồng trọt giảm dần, tỷ trọng chăn nuôi và dịch vụ trong nông nghiệp tăng dần. Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành công nghiệp trong nền kinh tế tăng từ 20,3% năm 2010 lên 61,8% năm 2015; sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông sản chiếm tỷ trọng lớn trong ngành công nghiệp; giá trị sản xuất ngành dịch vụ ước tính năm 2015 tăng 2,4 lần so với năm 2010; cơ cấu kinh tế tiểu vùng được định hướng phát triển gắn với lợi thế từng tiểu vùng và địa phương.

Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực , gắn liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tỷ lệ l ao động trong lĩnh vực nông nghiệp , thuỷ sản giảm 16,4% (từ 71,4% năm 2010 xuống còn 55 % năm 2015 ); tỷ lệ lao động trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng tăng 8,4% ( từ 14,6% lên 23 %) ; tỷ lệ lao động trong các ngành dịch vụ tăng 8% ( từ 14% lên 2 2%); tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 28% lên 40,98%, vượt mục tiêu đại hội.

ây dựng nông thôn mới thực hiện đúng kế hoạch và đạt kết quả toàn diện

S au 4 năm thực hiện đã đạt được những kết quả quan trọng: Cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội được đầu tư, nâng cấp, mở rộng ngày càng khang trang; nhiều mô hình sản xuất mới trong nông thôn được hình thành; đời sống người dân có nhiều tiến bộ; dân chủ xã hội được mở rộng; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; hệ thống chính trị cơ sở ngày c à ng được củng cố. Đ ến hết năm 2014, t ổng nguồn vốn thực hiện đạt 1.452 tỷ đồng; có 3 xã đạt chuẩn nông thôn mới, bình quân toàn huyện đạt 14,2 tiêu chí (tăng 9 tiêu chí so với năm 2010). Dự kiến đến hết năm 2015 có 5 xã đạt chuẩn nông thôn mới, bình quân mỗi xã đạt 16,5 tiêu chí, đạt mục tiêu kế hoạch đề ra.

3. Công tác quản lý sử dụng đất, tài nguyên môi trường được quan tâm chỉ đạo thực hiện từng bước đi vào nề nếp

H oàn thành việc quy hoạch đất đai và số hóa bản đồ địa chính; thực hiện q uản lý theo qui hoạch, nâng cao hiệu quả sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Trong 5 năm đã giao đất ở 32,78 ha, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất sản xuất kinh doanh, dịch vụ 28,53 ha; việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất đã có nhiều chuyển biến tiến bộ. Quản lý nhà nước về tài nguyên, khoáng sản được tăng cường, hạn chế hiện tượng khai thác khoáng sản trái phép.

Công tác quản lý môi trường được quan tâm, từng bước thực hiện các biện pháp phòng ngừa, kiểm soát, xử lý khắc phục ô nhiễm trong sản xuất và các hoạt động dễ phát thải ô nhiễm môi trường; công tác tuyên truyền và kiểm tra thực hiện cam kết bảo vệ môi trường được đẩy mạnh. Các địa phương đã chủ động hợp đồng với doanh nghiệp để thu gom chất thải rắn; nhận thức và hành vi bảo vệ môi trường của nhân dân đã được nâng lên, bộ mặt nông thôn ngày càng khang trang, sạch đẹp hơn.

4. Thu hút vốn cho đầu tư phát triển được tăng cường, chú trọng cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh

Công tác thông tin, tuyên truyền, quảng bá giới thiệu hình ảnh của huyện và cung cấp thông tin kêu gọi, thu hút đầu tư được chú trọng và mang lại hiệu quả; huyện đã ban hành cơ chế khuyến khích tạo điều kiện để các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn; hoàn thành việc lập quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của huyện đến năm 2020, quy hoạch điều chỉnh mở rộng trung tâm thị trấn Rừng Thông, qui hoạch phát triển mạng lưới giao thông và các quy hoạch khu văn hóa, thể thao xã, thị trấn và nhà văn hóa, khu thể thao thôn, khối phố, quy hoạch các khu dân cư nông thôn… Mở rộng và thu hút thêm được 6 doanh nghiệp vào Cụm công nghiệp Đông Tiến; 3 doanh nghiệp vào Khu công nghiệp Vức; thành lập mới Cụm nghề Đông Hoàng, Đông Phú; đang khẩn trương chuẩn bị đầu tư một số nhà máy may do nhà đầu tư Hàn Quốc vào địa bàn xã Đông Ninh, Tổng công ty may 10 vào địa bàn xã Đông Tiến; Công ty Tiên Sơn vào xã Đông Yên, dự kiến thu hút, sử dụng trên 8000 lao động địa phương.

Trong 5 năm, dự kiến t ổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 4.393 tỷ đồng, vượt chỉ tiêu đại hội (9,8%); đầu tư trên 300 tỷ đồng vào cụm công nghiệp, cụm nghề, xây dựng trang trại, khu sản xuất hoa; hạ tầng giao thông, thủy lợi nội đồng có bước phát triển, kiên cố hóa được 87,1km đường giao thông và 28,6 km kênh mương nội đồng ; ngân sách tỉnh và các doanh nghiệp hỗ trợ đầu tư trên 100 tỷ đồng để xây dựng các công trình hạ tầng như đường giao thông 5 xã phía Nam, dự án nước sạch 3 xã (Đông Nam, Đông Quang, Đông Phú), trường THPT Đông Sơn I, trường TH và trường THCS Đông Ninh; các công trình, dự án quan trọng đã được đầu tư nâng cấp, cải tạo quốc lộ 47, đường vành đai phía Tây thành phố Thanh Hóa, nâng cấp cải tạo tỉnh lộ 517 , kênh Cầu Ê – Trường Tuế, đê tả sông Hoàng.

5. Văn hóa – xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ; an sinh xã hội được chăm lo; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tiếp tục được nâng lên

5.1. Hoạt động giáo dục đạt được những thành tựu quan trọng. Tập trung vào đổi mới công tác lãnh đạo, quản lý; chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, xây dựng trường chuẩn quốc gia, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục các bậc học; tỷ lệ trường chuẩn quốc gia ước đạt 78,4%, vượt mục tiêu đại hội 8,4%; giải quyết giáo viên dôi dư đạt được kết quả bước đầu, cơ bản khắc phục tình trạng lạm thu trong các nhà trường . C hất lượng giáo dục đại trà tăng, chất lượng mũi nhọn có chuyển biến rõ nét, hàng năm số giáo viên giỏi, học sinh giỏi cấp tỉnh đều tăng, chất lượng giáo dục mầm non, tiểu học, THCS luôn trong tốp đầu của tỉnh. H oạt động của Trung tâm Giáo dục thường xuyên, Trung tâm học tập cộng đồng và Hội Khuyến học ngày càng tốt hơn, công tác xây dựng xã hội học tập được chú trọng. X ây dựng thêm 115 phòng học kiên cố, đầu tư 167,12 tỷ đồng để xây dựng cơ sở vật chất và mua sắm trang thiết bị phục vụ công tác dạy và học ngày càng tốt hơn.

5.2. Hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao tiếp tục được phát triển; đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện. Tập trung thông tin, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ chính trị của địa phương. Chất lượng hoạt động của thôn, khối phố văn hoá, nếp sống văn minh trong các khu dân cư được nâng lên; phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được đẩy mạnh. Trong 5 năm, đã công nhận hơn 17.000 gia đình văn hóa, có 2 mô hình phòng chống bạo lực gia đình, mở 10 câu lạc bộ “Gia đình phát triển bền vững”; đăng ký, khai trương xây dựng 52 đơn vị văn hóa, nâng tổng số lên 206 đơn vị, vượt mục tiêu đại hội. Phong trào văn nghệ, thể dục, thể thao ngày càng phát triển; hoạt động văn nghệ quần chúng, trò chơi, trò diễn được duy trì và phát triển ở nhiều địa phương; có trên 27.000 người tập luyện thể thao thường xuyên, 5.859 gia đình được công nhận gia đình thể thao; trên địa bàn có 153 CLB thể dục, thể thao, 05 sân bóng đá, 83 sân thể thao. Di tích lịch sử, văn hoá, cách mạng trên địa bàn được quan tâm trùng tu, tôn tạo, góp phần nâng cao giá trị giáo dục truyền thống, đạo đức, lối sống tốt đẹp, tinh thần đoàn kết trong nhân dân.

5.3. Hoạt động y tế và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân có nhiều tiến bộ. C ơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế được đầu tư theo hướng ngày càng hiện đại, nhiều kỹ thuật cao đưa vào áp dụng; đội ngũ cán bộ y tế từ huyện đến cơ sở được nâng cao trình độ chuyên môn và y đức; công tác y tế dự phòng, vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường; số xã, thị trấn được công nhận chuẩn quốc gia về y tế là 11/16 (đạt 68,8%); các chỉ tiêu về y tế, chăm sóc sức khỏe đều đạt và vượt mục tiêu đại hội đề ra; tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên bình quân duy trì 0,57%/năm, tỷ lệ sinh con thứ 3 còn 6,46%.

5.4. Giải quyết việc làm, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội được triển khai tích cực, đời sống nhân dân được cải thiện. Giải quyết được việc làm cho 6.300 lao động, vượt mục tiêu đề ra. Công tác xuất khẩu lao động được chỉ đạo tích cực, trong 5 năm xuất khẩu được 2.500 lao động, đem lại nguồn thu nhập trong nhân dân khoảng 285 tỷ đồng. Các ban, ngành, đoàn thể đã thực hiện tốt chương trình phối hợp trong công tác giảm nghèo; phong trào giúp nhau làm kinh tế được triển khai rộng rãi, thiết thực như hỗ trợ tín dụng, kỹ thuật, kiến thức quản lý kinh doanh, lao động, giống cây con; nhiều hộ đã thoát nghèo, một số hộ trở nên khá; tỷ lệ giảm nghèo bình quân đạt 3,69%/năm, vượt 0,69% so với mục tiêu đại hội, giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 22,1% năm 2010 xuống còn 3,64% năm 2015.

Thực hiện chính sách người có công và an sinh xã hội được chỉ đạo triển khai nghiêm túc, đúng đối tượng; số người tham gia các loại bảo hiểm ngày càng tăng, BHYT đạt 61,2% trên tổng số dân; công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em, phòng chống tệ nạn xã hội được tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả.

6. Quốc phòng – an ninh được tăng cường, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội

Tập trung xây dựng, củng cố quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc, tiềm lực quốc phòng – an ninh của huyện được tăng cường; lực lượng vũ trang được xây dựng vững mạnh hơn, duy trì nghiêm túc chế độ trực sẵn sàng chiến đấu; hoàn thành tốt kế hoạch bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, huấn luyện chiến đấu, diễn tập quân sự; tuyển quân đủ số lượng, đảm bảo chất lượng theo chỉ tiêu được giao; lực lượng dân quân, tự vệ được củng cố, lực lượng dự bị động viên thường xuyên được rà soát, bổ sung; tổ chức diễn tập tại các cụm đúng kế hoạch, chất lượng được nâng lên; công tác hậu phương quân đội và giải quyết chính sách tồn đọng sau chiến tranh được triển khai kịp thời, đạt kết quả tốt.

Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật được tăng cường quan tâm lãnh đạo đối với công tác tư pháp, công tác nội chính; công tác điều tra, truy tố, xét xử đảm bảo đúng pháp luật, không xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm; công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện đúng qui định ; phát hiện và giải quyết kịp thời, không để xảy ra tình trạng khiếu kiện tập trung đông người, phức tạp kéo dài, góp phần tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

7. Kết quả lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các chương trình trọng tâm

7.1. Chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Các cơ sở đào tạo nghề của huyện đã mở được 28 lớp cho 967 lao động nông thôn; cùng với đào tạo nghề của các doanh nghiệp và tự đào tạo của người lao động đã có 2.296 người lao động nông thôn được đào tạo nghề (đạt 148% so với kế hoạch); tập huấn kỹ thuật nông nghiệp cho 72.678 lượt lao động, đào tạo nghề phi nông nghiệp cho 5.451 lao động nông thôn (đạt 109% kế hoạch), chương trình cũng đã gián tiếp đào tạo nghề thông qua xuất khẩu lao động 3.215 người (đạt 107% kế hoạch). Kết quả thực hiện chương trình đã nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo trên địa bàn huyện đạt 40,98 %, vượt 0,98% mục tiêu đại hội.

7.2. Chương trình phát triển ngành nghề nông thôn: H uyện đã ban hành cơ chế hỗ trợ duy trì các nghề may công nghiệp, đúc đồng mỹ nghệ, sản xuất đá ốp lát, mộc dân dụng, cơ khí… ; đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp du nhập thêm các nghề mới , công nghệ mới như nghề sản xuất gạch lát không nung Tezazzo, gạch nhẹ không nung, đá mỹ nghệ, sửa chữa vận hành máy nông nghiệp, nghề trồng nấm…T hu hút đầu tư một số dự án vào cụm công nghiệp Đông Tiến như sản xuất thức ăn gia súc, sản xuất đá ốp lát, sản xuất cấu kiện bê tông đúc sẵn, chế biến lâm sản, sản xuất máy nông nghiệp; thu hút vào cụm nghề Đông Hoàng, Đông Phú các nghề sửa chữa cơ khí , dệt may, sản xuất phân bón, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất thức ăn gia súc .

Cấp ủy, chính quyền các cấp tập trung chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ các giải pháp để triển khai thực hiện đạt và vượt mục tiêu đề ra. Tổng ngân sách huyện, xã và nguồn đóng góp của nhân dân đầu tư cho Chương trình là 54,769 tỷ đồng 7.3. Chương trình đầu tư, xây dựng, hoàn thiện nhà văn hoá – khu thể thao thôn, trung tâm văn hóa – thể thao xã, thị trấn: (trong đó: xây dựng hoàn thiện 5 trung tâm văn hóa thể thao xã 30 tỷ đồng; xây mới và nâng cấp sửa chữa 83 nhà văn hóa thôn 24,769 tỷ đồng), nâng tổng số nhà văn hóa thôn trong huyện lên 128/142, đạt 90,14%. Quy hoạch, đầu tư khu thể thao của xã, thị trấn và thôn, khối phố làm cơ sở phát triển thiết chế văn hóa, thể thao đồng bộ, đạt chuẩn, góp phần thực hiện mục tiêu văn hóa, thể thao lâu dài của huyện.

II. CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

1. Công tác xây dựng Đảng có một số mặt chuyển biến tích cực, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ được nâng lên

1.1. Công tác chính trị, tư tưởng được quan tâm đúng mức và đạt được kết quả thiết thực. Các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể đã nghiêm túc tổ chức học tập, quán triệt chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, gắn với xây dựng chương trình, kế hoạch hành động thực hiện nghị quyết ; tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động trong Đảng và nhân dân ; tổ chức nhiều đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng cổ vũ các nhân tố mới, các phong trào thi đua yêu nước; công tác báo cáo viên, tuyên truyền viên được quan tâm; công tác sơ kết, tổng kết việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết được chú trọng, gắn phổ biến kinh nghiệm hay với nhân rộng điển hình tiên tiến. Tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân ổn định, tin tưởng, phấn khởi và đồng thuận với sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành của các cấp ủy đảng, chính quyền và sự phát triển của đất nước và địa phương.

Công tác cán bộ được triển khai đồng bộ, đảm bảo nguyên tắc, đúng quy trình, thủ tục ở tất cả các khâu; ban hành 2 nghị quyết chuyên đề về công tác tổ chức cán bộ, cụ thể hóa các chủ trương của Trung ương, của Tỉnh ủy về công quy hoạch và đào tạo cán bộ; ban hành quy định, đề án về công tác luân chuyển, điều động cán bộ lãnh đạo, quản lý; đã thực hiện luân chuyển 14 đồng chí thuộc diện Ban Thường vụ Huyện ủy quản lý. Trong nhiệm kỳ, mặc dù có thời điểm cán bộ chủ chốt của huyện biến động nhưng việc lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy vẫn đảm bảo hoạt động bình thường.

Chỉ đạo thực hiện chặt chẽ công tác đánh giá cán bộ hàng năm gắn với việc xây dựng, rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ. Cấp ủy các cấp thường xuyên chăm lo đến đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, thực hiện chuẩn hóa và trẻ hóa cán bộ các cấp trong hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở. Trong nhiệm kỳ đã cử đi đào tạo 12 thạc sỹ, 120 đại học và 25 cao cấp lý luận chính trị; nâng cao nhận thức về Đảng cho 1 .330 quần chúng ưu tú ; bồi dưỡng đảng viên mới cho 9 52 đ ồng chí; bồi dưỡng nghiệp vụ công tác đảng cho 940 đồng chí B í thư chi bộ, cấp ủy viên cơ sở; bồi dưỡng chuyên đề giáo dục đạo đức cách mạng cho 952 cán bộ chính quyền, đoàn thể cơ sở; cử đi đào tạo trung cấp lý luận chính trị cho 272 đồng chí .

Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã tập trung lãnh đạo xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng; chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; tăng cường kiểm tra, giám sát, hướng dẫn cơ sở thực hiện tốt các quy định của Trung ương về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và chất lượng của đảng viên, qua đánh giá xếp loại hàng năm 100% TCCS Đảng hoàn thành nhiệm vụ, 75 – 80% hoàn thành tốt nhiệm vụ và trong sạch vững mạnh, không có tổ chức Đảng yếu kém. Quy định 76 của Bộ Chính trị cũng như những quy định khác trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ được chỉ đạo thực hiện nghiêm túc.

Cấp ủy thường xuyên quan tâm về mọi mặt đối với công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở. Công tác phát triển đảng viên được quan tâm cả về số lượng và chất lượng, tỷ lệ đảng viên mới trẻ, nữ, trình độ chuyên môn ngày càng tăng. Trong 5 năm đã kết nạp được 764 đảng viên mới, vượt chỉ tiêu đại hội đề ra, góp phần nâng cao chất lượng của tổ chức Đảng.

Cấp ủy và UBKT các cấp đã kịp thời triển khai, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, qui định, hướng dẫn của cấp trên về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng; xây dựng qui chế làm việc của UBKT; xây dựng chương trình kiểm tra, giám sát của cấp ủy và UBKT theo Điều 30, Điều 32 của Điều lệ Đảng; triển khai thực hiện Đề án 1.3. Công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường. “Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy huyện và cơ sở”. Trong nhiệm kỳ, đã tiến hành kiểm tra 7 tổ chức Đảng và 20 đảng viên, cấp ủy viên có dấu hiệu vi phạm; giải quyết kịp thời 58 đơn thư tố cáo của đảng viên. Các tổ chức Đảng có thẩm quyền đã thi hành kỷ luật 67 đảng viên, cấp ủy viên (khiển trách 46, cảnh cáo 17, cách chức 02, khai trừ 02). Cấp ủy các cấp và UBKT Huyện ủy đã giám sát 605 lượt tổ chức Đảng và 244 đảng viên. Công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo được thực hiện nghiêm túc, kịp thời. Kết quả công tác kiểm tra, giám sát đã góp phần tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên.

1.4. Công tác dân vận được đổi mới theo hướng gần dân, sát cơ sở và nâng cao hiệu quả hoạt động. H ệ thống dân vận từ huyện đến cơ sở có nhiều cố gắng, sâu sát cơ sở, nắm chắc tình hình nhân dân, tăng cường tiếp xúc, đối thoại, giải quyết các kiến nghị của nhân dân. Các tổ chức trong hệ thống chính trị đã có nhiều chủ trương, giải pháp và chú trọng hơn đến công tác dân vận; ban hành các đề án, chương trình, kế hoạch; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thực hiện nhiệm vụ công tác dân vận; chỉ đạo tăng cường xây dựng các điển hình “Dân vận khéo”; đẩy mạnh công tác dân vận chính quyền, lực lượng vũ trang và các chương trình phối hợp về công tác dân vận; thực hiện có hiệu quả quy chế dân chủ cơ sở, huy động tốt các nguồn lực đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh; gắn các phong trào thi đua, các cuộc vận động với các hoạt động kinh tế – xã hội trong huyện.

1.5. Công tác nội chính, phòng chống tham nhũng, lãng phí được quan tâm chỉ đạo và đạt được một số kết quả bước đầu. Các cấp ủy, chính quyền, các tổ chức,cơ quan, đơn vị đã quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, lãng phí; chỉ đạo hoạt động của các cơ quan Nhà nước thực hiện ngày càng chặt chẽ, công khai, minh bạch theo quy định của pháp luật; đã kịp thời ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, ph òng ngừa, ngăn chặn không để xảy ra vụ việc tham nhũng , lãng phí có tính nghiêm trọng , góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

1.6. Nghiêm túc triển khai và đạt được một số kết quả bước đầu trong việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị. Cấp ủy từ huyện đến cơ sở đã tiến hành quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) nghiêm túc, kịp thời, đúng kế hoạch. Công tác chuẩn bị và tiến hành kiểm điểm được cấp trên đánh giá đạt yêu cầu. Việc xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch sửa chữa, khắc phục thiếu sót, khuyết điểm được Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo theo dõi sâu sát. Kết quả kiểm tra, giám sát của cấp ủy và UBKT các cấp cho thấy các tổ chức cơ sở Đảng, đảng viên từ huyện đến cơ sở đã cơ bản hoàn thành việc khắc phục, sửa chữa những thiếu sót, khuyết điểm; nhờ đó đã có tác dụng rõ nét đến việc phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống, củng cố sức mạnh đoàn kết, góp phần xây dựng hệ thống chính trị của địa phương ngày càng trong sạch, vững mạnh.

2. Hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp có bước đổi mới; công tác quản lý nhà nước, hiệu lực, hiệu quả điều hành của Ủy ban nhân dân các cấp được nâng lên

Hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp tiếp tục được đổi mới, nâng cao chất lượng, Hội đồng nhân dân các cấp duy trì và tổ chức các kỳ họp theo đúng luật định; chất lượng các kỳ họp HĐND được nâng lên; ban hành các quyết định sát với tình hình của địa phương; tăng cường hoạt động giám sát UBND và các cơ quan thuộc UBND các cấp, tập trung vào các lĩnh vực xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, quản lý sử dụng ngân sách, cải cách hành chính. Thường trực Hội đồng nhân dân các cấp đã phối hợp chặt chẽ với UBND, MTTQ chuẩn bị tốt nội dung các kỳ họp.

3. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân có nhiều đổi mới, góp phần tích cực cùng Đảng bộ thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đã chú trọng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động theo hướng thiết thực và hiệu quả; thực hiện đa dạng các hình thức tập hợp quần chúng nhân dân và hội viên; chăm lo đời sống, quan tâm nắm bắt tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của đoàn viên, hội viên. Tuyên truyền vận động đoàn viên, hội viên và động viên nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính trị của địa phương. Trong nhiệm kỳ, MTTQ và các đoàn thể từ huyện đến cơ sở đã thực hiện nghiêm chủ trương của cấp ủy về công tác nhân sự đại hội đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định. Các cuộc vận động, phong trào thi đua do MTTQ và các đoàn thể phát động gắn với xây dựng nông thôn mới được đông đảo các tầng lớp nhân dân hưởng ứng, đem lại hiệu quả thiết thực. Quan tâm củng cố, kiện toàn tổ chức, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; tỷ lệ tập hợp đoàn viên, hội viên được nâng lên: Đoàn Thanh niên đạt 62,8%, Hội Nông dân đạt 85,9%; Hội Phụ nữ đạt 86%; Hội Cựu chiến binh đạt 98%; Liên đoàn Lao động đạt 94,0%. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân triển khai thực hiện việc giám sát và phản biện xã hội, tham gia đóng góp ý kiến đối với Đảng và chính quyền thiết thực và hiệu quả.

Phần thứ hai PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHIỆM KỲ 2015 – 2020 A. PHƯƠNG HƯỚNG, PHƯƠNG CHÂM, MỤC TIÊU VÀ CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRỌNG TÂM

I. PHƯƠNG HƯỚNG CHUNG

Tranh thủ tối đa cơ hội và điều kiện thuận lợi, chủ động khắc phục khó khăn; đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới gắn với thực hiện có hiệu quả tái cơ cấu ngành nông nghiệp; đột phá về ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; tích cực thu hút đầu tư, đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ, tăng cường xuất khẩu, tăng thu ngân sách; nâng cao chất lượng lĩnh vực văn hóa, xã hội; tăng cường công tác bảo vệ môi trường; giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo quốc phòng – an ninh; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy và các tổ chức Đảng, hiệu lực, hiệu quả của các cấp chính quyền. Phấn đấu đến năm 2018, huyện đạt chuẩn nông thôn mới và sớm trở thành một trong những huyện dẫn đầu toàn tỉnh.

II. PHƯƠNG CHÂM HÀNH ĐỘNG

“Đoàn kết, dân chủ, sáng tạo, phát triển”

III. CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU

* Về kinh tế:

1. Tốc độ tăng GTSX bình quân giai đoạn 2016 – 2020 đạt 17,5%/năm

+ Nông lâm, thuỷ sản 4,8%;

+ Công nghiệp – xây dựng 20,6%;

+ Dịch vụ 19,1%.

2. Cơ cấu các ngành kinh tế trong giá trị sản xuất đến năm 2020: nông, lâm, thuỷ sản chiếm 13,8%; công nghiệp – xây dựng chiếm 61,9%; dịch vụ chiếm 24,3%.

3.Sản lượng lương thực bình quân hàng năm giữ ổn định 52.500 tấn.

4. Giá trị sản phẩm trên một ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản năm 2020 đạt 120 triệu đồng; có nhiều mô hình sản xuất có giá trị sản xuất 350- 500 triệu đồng.

5. Giá trị xuất khẩu năm 2020 đạt 45 triệu USD trở lên.

6. Tổng vốn đầu tư phát triển thời kỳ 2016- 2020 đạt 11.500 tỷ đồng trở lên.

7. Thu nhập bình quân đầu người năm 2020 đạt 54,5 triệu đồng (tương đương 2.600 USD).

8. Tỷ lệ tăng thu ngân sách hàng năm đạt 12% trở lên.

10. Tỷ lệ dân số đô thị năm 2020 đạt 32% trở lên.

11. Tỷ lệ đường giao thông trên địa bàn (không tính quốc lộ, tỉnh lộ) được cứng hóa đến năm 2020 đạt 90%.

* Về văn hóa – xã hội:

12.Tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm duy trì ở mức 0,56%.

14. Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động năm 2020 đạt 23%.

15. Tỷ lệ xã, thị trấn đạt tiêu chí quốc gia về y tế năm 2020 đạt 100%, trên 80% dân số tham gia BHYT.

16. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng đến năm 2020 dưới 9,8%.

17.Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân hàng năm từ 1,5 – 2%.

18. Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2020 đạt 75%; trong đó có bằng cấp và chứng chỉ nghề đạt trên 25%.

20. Tỷ lệ nhà kiên cố đến năm 2020 đạt 90%.

21. Tỷ lệ xã, thị trấn, cơ quan, đơn vị đạt tiêu chí kiểu mẫu theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 2020 đạt trên 30%.

* Về môi trường:

22. Tỷ lệ dân số đô thị được dùng nước sạch năm 2020 đạt 95%.

23. Tỷ lệ dân số nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh năm 2020 đạt 100%.

* Về an ninh trật tự:

24. Tỷ lệ khu dân cư đạt tiêu chuẩn an toàn về an ninh trật tự năm 2020 đạt 85%.

* Về xây dựng Đảng

25.Hàng năm có trên 45% tổ chức, cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh; không có tổ chức cơ sở đảng yếu kém.

26. Bình quân hàng năm kết nạp mới 120 đảng viên trở lên.

IV. CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRỌNG TÂM 1. Chương trình phát triển đô thị 2. Chương trình phát triển hạ tầng nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Mục tiêu đến năm 2020, tỷ lệ đường giao thông nông thôn các xã, thôn được cứng hóa đạt 90%; giao thông, thủy lợi nội đồng vùng sản xuất tập trung đạt tiêu chí 100%. Tập trung phát triển hạ tầng giao thông, hạ tầng sản xuất nông nghiệp vùng sản xuất tập trung quy mô lớn thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa. Ưu tiên phát triển hạ tầng: Giao thông, thủy lợi nội đồng; hạ tầng kỹ thuật vùng sản xuất rau an toàn, vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, khu trang trại, khu vực chế biến bảo quản nông sản. Tập trung thu hút các nguồn lực để xây dựng cơ sở hạ tầng như hệ thống điện, đường giao thông, nước sinh hoạt, mạng lưới chợ, trường học, trạm y tế, thiết chế văn hóa, thể thao, công sở; phát triển mạng lưới dịch vụ cung ứng vật tư, kỹ thuật và hỗ trợ ứng dụng tiến bộ khoa học, dịch vụ thu mua, chế biến và tiêu thụ sản phẩm trên địa bàn nông thôn, mở rộng dịch vụ tài chính, tín dụng nông thôn. Đẩy mạnh cơ giới hóa đồng bộ trong sản xuất nông nghiệp. Tập trung xây dựng cơ sở vững mạnh, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đảm bảo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tốt dân chủ xã hội, bảo vệ môi trường. Phấn đấu hoàn thành 100% các xã đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2020 (huyện nông thôn mới vào năm 2018).

3. Chương trình phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn

Mục tiêu đến năm 2020, tỷ lệ lấp đầy cụm công nghiệp, cụm nghề đạt 70%; thu hút vào làm việc tại khu này từ 8.000 lao động trở lên; hàng năm du nhập 1-2 nghề mới vào địa bàn huyện. Ưu tiên những ngành, nghề thu hút nhiều lao động, thân thiện với môi trường. Xây dựng và hoàn thiện hạ tầng Cụm công nghiệp Đông Tiến, Cụm nghề Đông Hoàng, Đông Phú; hình thành thêm cụm công nghiệp tại tiểu vùng phía Nam và cụm tại tiểu vùng phía Tây (trung tâm là (trung tâm là Đông Khê) và 3 cụm nghề mới tại Đông Quang, Đông Nam, Đông Thịnh nhằm thu hút đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến, bảo quản nông sản thực phẩm, trung chuyển hàng hóa, kho vận, cơ khí, điện tử, điện lạnh góp phần đảm bảo tốc độ tăng trưởng công nghiệp – xây dựng hàng năm đạt mục tiêu đại hội đề ra.

4. Chương trình xây dựng con người, cơ quan, đơn vị kiểu mẫu

Mục tiêu đến năm 2020, xây dựng được 5 xã và 8 cơ quan, đơn vị đạt tiêu chí kiểu mẫu; trung bình hàng năm có từ 15 – 20 thôn, khối phố trở lên đạt kiểu mẫu. Tập trung thực hiện kế hoạch xây dựng con người, cơ quan, đơn vị kiểu mẫu. Các xã, thị trấn tổ chức thực hiện kế hoạch đăng ký và công nhận “công dân gương mẫu” và “gia đình kiểu mẫu” để hoàn thiện thôn, khối phố kiểu mẫu và hoàn thành tiêu chí xã, thị trấn kiểu mẫu. Các xã, thôn đạt chuẩn nông thôn mới khẩn trương tiến hành thực hiện kế hoạch hoàn thiện các tiêu chí kiểu mẫu để được công nhận xã, thôn kiểu mẫu.

V. CÁC ĐỘT PHÁ TRONG NHIỆM KỲ

1. Phát triển nhanh kết cấu hạ tầng; tập trung nguồn lực đầu tư có trọng điểm các công trình hạ tầng quan trọng như giao thông, thủy lợi, cấp nước sạch. Tập trung phát triển hạ tầng thị trấn Rừng Thông, cụm công nghiệp Đông Tiến và các cụm nghề và tụ điểm kinh tế để sớm hình thành các thị trấn.

2. Tập trung công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng, điều động, luân chuyển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý huyện và cơ sở. Trước mắt tập trung vào nâng cao năng lực lãnh đạo phát triển kinh tế – xă hội đối với cán bộ cấp cő sở.

3. Nâng cao chất lượng, tạo sự chuyển biến rõ rệt trong hoạt động của hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở; nhất là nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của chính quyền xã, thị trấn.

B. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

I. VỀ KINH TẾ – XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG – AN NINH

, 1. Rà soát, bổ sung, xây dựng mới các quy hoạch phù hợp với đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế tăng cường quản lý quy hoạch

Trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2020, rà soát, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của huyện; điều chỉnh bổ sung quy hoạch chuyên ngành: giao thông, thuỷ lợi, quy hoạch phát triển hạ tầng thương mại. Khẩn t rương h oàn thiện quy hoạch chi tiết t hị trấn Rừng Thông ; lập quy hoạch xây dựng thị trấn Rủn (Đông Khê),Văn Thắng (Đông Văn), Bôn (Đông Thanh), tụ điểm kinh tế Mộc Nhuận (Đông Yên), Thiều (Đông Hoàng); từng bước đầu tư phát triển thành các thị trấn . R à soát, xây dựng các quy hoạch chuyên ngành.

Tăng cường quản lý đầu tư theo quy hoạch, đảm bảo quá trình phát triển phù hợp với quy hoạch đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế – xã hội, nâng cao hiệu quả đầu tư. Tăng cường quản lý các cụm công nghiệp, cụm nghề đã có, lập quy hoạch bổ sung các cụm công nghiệp phía Nam và phía Tây, các cụm nghề Đông Nam, Đông Quang , tạo điều kiện thu hút các doanh nghiệp đầu tư sản xuất, sắp xếp các cơ sở sản xuất phân tán vào khu tập trung gắn với xử lý ô nhiễm môi trường.

2. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng để phát triển với tốc độ cao và bền vững; phát triển doanh nghiệp, đội ngũ doanh nhân; tăng cường thu hút đầu tư

2.1. Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng tái cơ cấu, hình thành vùng sản xuất quy mô lớn; kết hợp xây dựng nông thôn mới với từng bước đô thị hóa nông thôn; phấn đấu giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân hàng năm tăng 4,8%. Tập trung chỉ đạo phát triển các cây trồng, vật nuôi có lợi thế cạnh tranh, giá trị, hiệu quả cao, an toàn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân và phục vụ cho thị trường thành phố Thanh Hóa, các khu công nghiệp và thị trường trong nước; đẩy mạnh sản xuất hàng hóa và dịch vụ sản xuất nông nghiệp . Tích cực thu hút các nguồn lực đầu tư vào sản xuất nông nghiệp theo hướng liên kết từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ sản phẩm giữa hộ nông dân với với doanh nghiệp, Hợp tác xã, chủ trang trại. Thực hiện chính sách khuyến nông, hỗ trợ vốn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuất có hiệu quả; t iếp tục hoàn thiện hạ tầng nông nghiệp; dồn điền, đổi thửa để hình thành vùng, cơ sở sản xuất nông nghiệp quy mô lớn. Phấn đấu đưa tỷ trọng giá trị sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao chiếm hơn 30% giá trị sản phẩm nông, lâm, thủy sản.

Xây dựng vùng lúa chất lượng cao 3.500 ha, hình thành 12 cánh đồng mẫu lớn; xây dựng 4 cơ sở trồng trọt công nghệ cao (nhà lưới, nhà kính) để sản xuất rau, đậu, củ, quả, hoa tươi năng suất, chất lượng cao và giá trị hàng hóa lớn (tại các xã Đông Tiến, Đông Yên, Đông Anh, Đông Hoàng); hoàn thiện 6 vùng rau an toàn. Xây dựng và hình thành 5 cơ sở sản xuất kinh doanh hoa, cây cảnh tại thị trấn Rừng Thông, Đông Anh, Đông Quang, Đông Hoàng. Chuyển 1.000 ha đất trồng 2 vụ lúa kém hiệu quả sang trồng các loại cây ăn quả, cây làm thức ăn chăn nuôi, xây dựng trang trại sản xuất tổng hợp hoặc sản xuất phi nông nghiệp có hiệu quả .

Kết hợp xây dựng nông thôn mới với từng bước đô thị hóa nông thôn. Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên cơ sở phát huy, tham gia của cộng đồng, lồng ghép các nguồn vốn đầu tư cho xây dựng các xã nông thôn mới và xây dựng cơ sở hạ tầng cho các xã tiến tới hình thành tụ điểm kinh tế, tránh lãng phí trong đầu tư. Nâng cấp nhà máy nước tại thị trấn Rừng Thông đủ cung cấp nước sạch cho thị trấn và các xã lân cận; xây dựng hệ thống cấp nước sinh hoạt tập trung cho các xã phía Nam và phía Tây của huyện. Phấn đấu đến năm 2020, có trên 50% số hộ trên địa bàn huyện được dùng nước sạch.

Việc xây dựng, nâng cấp hạ tầng thiết yếu phải gắn với sắp xếp và tổ chức lại các khu chức năng cấp xã (khu dân cư, đồng ruộng, khu trung tâm xã,…). Hình thành khu dân cư nông thôn theo hướng đô thị dưới hình thức khu dân cư làng nghề, khu dân cư phi nông nghiệp.

2.2. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp – xây dựng; phấn đấu tăng giá trị sản xuất bình quân hàng năm đạt 20,6%. T ranh thủ mọi nguồn vốn đầu tư phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, phù hợp với xu thế phát triển chung của cả tỉnh. Khuyến khích phát triển các ngành có giá trị gia tăng cao và phục vụ nông nghiệp; phát triển công nghiệp với nhiều loại hình, quy mô và thành phần kinh tế; phát triển tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp nông thôn, nghề thủ công truyền thống, công nghiệp khai thác, chế biến. Đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp, các cụm nghề hiện có, xúc tiến thu hút đầu tư lấp đầy diện tích đất cho thuê. Bổ sung quy hoạch thêm các cụm công nghiệp, cụm nghề mới phía Nam và phía Tây của huyện. Tập trung phát triển một số ngành công nghiệp về sản xuất gạch không nung, chế biến nông sản, thực phẩm (chế biến gạo; hoa, củ, quả; giết mổ gia súc, gia cầm), sản xuất phân bón, chế biến lâm sản. K huyến khích phát triển công nghiệp về sản xuất cấu kiện vật liệu xây dựng, chế biến thức ăn gia súc, cơ khí sửa chữa, điện máy, máy nông nghiệp, may công nghiệp, hàng gia dụng, công nghiệp hỗ trợ. Tập trung thu hút đầu tư phát triển hạ tầng, thu hút cơ chế chính sách của Trung ương, của tỉnh để p hát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống và nghề mới có sản phẩm xuất khẩu, ưu tiên các ngành có lợi thể về nguyên liệu, khả năng cạnh tranh, thu hút nhiều lao động như: dệt may, nghề chế biến sản phẩm địa phương; nghề gắn với phát triển các sản phẩm du lịch như chế tác đá mỹ nghệ, chế tác đồng mỹ nghệ, nghề mộc mỹ nghệ và các nghề tiểu thủ công nghiệp khác tại các cụm nghề trong huyện. Thu hút đầu tư x ây dựng các cơ sở công nghiệp công nghệ cao, sạch: điện tử, điện lạnh, công nghệ sinh học.

Khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng đầu tư trang thiết bị để có thể thực hiện được các dự án với quy mô lớn, rút ngắn thời gian thi công, yêu cầu kỹ thuật phức tạp; nâng cao chất lượng, thẩm mỹ và kiến trúc công trình; tạo điều kiện thuận lợi để phát triển doanh nghiệp, làng nghề, Hợp tác xã xây dựng, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của sự phát triển kinh tế – xã hội của huyện.

2.3. Phát triển nhanh và đa dạng các ngành dịch vụ, nhất là các dịch vụ có lợi thế; phấn đấu tốc độ tăng giá trị các ngành dịch vụ đạt 19,1% trở lên. Thu hút đầu tư phát triển mạnh các loại dịch vụ đi đôi với việc nâng cao chất lượng sản phẩm để có các dịch vụ chất lượng cao. Ưu tiên phát triển dịch vụ ngân hàng, thương mại, khoa học công nghệ, vận tải; nâng cao chất lượng các dịch vụ thông tin và truyền thông; tổ chức, sắp xếp lại mạng lưới thương mại gắn với quy hoạch đô thị. Phát triển thương mại theo hướng đưa huyện thành đầu mối trung chuyển một số luồng hàng giữa các huyện phía Tây với thành phố Thanh Hóa. Khuyến khích phát triển thương mại tư nhân, chợ đầu mối, chợ kinh doanh tổng hợp, gắn với chuyển đổi mô hình quản lý chợ; mạng lưới dịch vụ cung ứng vật tư, kỹ thuật và khoa học công nghệ; dịch vụ các khâu sản xuất trong nông nghiệp; mạng lưới dịch vụ thu mua, chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm; mở rộng dịch vụ tài chính, tín dụng nông thôn; phát triển dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi, giải trí, dịch vụ cung ứng xăng dầu. Khuyến khích, hỗ trợ các dịch vụ quảng bá thương hiệu sản phẩm địa phương, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại và xuất khẩu lao động; xây dựng văn minh thương mại ở khu vực đô thị và nông thôn.

2.4. Đẩy mạnh áp dụng các tiến bộ khoa học – công nghệ vào tất cả các lĩnh vực sản xuất và đời sống. Tập trung vào xây dựng các mô hình sản xuất mới tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao; chú trọng đẩy mạnh ứng dụng các giống, cây, con mới để tạo ra sản phẩm có tính cạnh tranh trên thị trường. Xây dựng các mô hình liên kết trong sản xuất nhất là trong sản xuất nông nghiệp; nâng cao chất lượng công tác khuyến nông. Tập trung đưa công nghệ mới vào trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và năng lực, hiệu quả sản xuất. Tăng cường thu hút các dịch vụ tư vấn về khoa học – công nghệ vào địa bàn.

2.5. Phát triển doanh nghiệp, đội ngũ doanh nhân, giám đốc Hợp tác xã và chủ trang trại lớn mạnh. Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội doanh nghiệp huyện, Hội làm vườn và trang trại. Đẩy mạnh tuyên truyền phát huy vai trò và x ây dựng đội ngũ doanh nhân, giám đốc Hợp tác xãvà chủ trang trại; tăng cường mối liên kết, hợp tác giữa doanh nhân, giám đốc HTX, chủ trang trại với công nhân, xã viên, nông dân dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng. Hỗ trợ đội ngũ doanh nhân, giám đốc HTX, chủ trang trại mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh; đồng thời, tạo điều kiện để và đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao đạo đức, văn hóa kinh doanh, dịch vụ nhằm nâng cao trách nhiệm xã hội của đội ngũ doanh nhân, giám đốc HTX và chủ trang trại. Động viên và khơi dậy tiềm năng, trách nhiệm của doanh nhân trong phát triển kinh tế – xã hội của huyện. Phấn đấu đến năm 2020 trên địa bàn huyện có 500 doanh nghiệp, 5000 hộ kinh doanh, 30 HTX, 300 trang trại (22 trang trại đạt tiêu chí theo Thông tư số 27 – TT/BNN&PTNT).

2.6. Tập trung cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo sức hấp dẫn về thu hút đầu tư vào địa bàn huyện. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, đột phá về môi trường đầu tư kinh doanh; tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, giải quyết kịp thời các đề xuất, kiến nghị của doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn. Công khai các thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian giải quyết cho các doanh nghiệp, tổ chức và công dân .

2.7. Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên, môi trường. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của huyện đến năm 2020; quản lý đất đai theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; hoàn thành công tác cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gắn với việc đo đạc bản đồ, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý đất đai; quản lý chặt chẽ các hoạt động khai thác, tập kết, vận chuyển, chế biến tài nguyên, phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm. Tăng cường kiểm tra đối với công tác giao đất, cho thuê đất. Xử lý nghiêm các vi phạm về môi trường trong sản xuất; tập trung khắc phục các tồn tại ô nhiễm môi trường trong các cụm công nghiệp, cụm nghề, trong chăn nuôi, chất thải có hại ngoài đồng ruộng; xây dựng cảnh quan môi trường trong khu dân cư sạch đẹp.

3. Phát triển nhanh kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội đồng bộ, thúc đẩy quá trình đô thị hóa

3.1. Huy động tối đa các nguồn lực đầu tư, xây dựng và hoàn thiện hệ thống giao thông. Tham gia tích cực các phần việc được phân công trong các dự án đầu tư theo nguồn vốn Trung ương, nguồn vốn của tỉnh đi qua địa bàn huyện, gắn với phát triển đô thị và cơ sở sản xuất công nghiệp, dịch vụ dọc các tuyến như: Đường sắt và đường bộ cao tốc Bắc Nam, đường vành đai phía Tây thành phố Thanh Hóa, đường Nghi Sơn – Sao Vàng, Quốc lộ 45, 47, tỉnh lộ 517. Đề xuất đầu tư nâng cấp các tuyến đường huyện quản lý thành tuyến đường tỉnh quản lý như: Thiệu Giao – Đông Thanh – Đông Nam; thị trấn Rừng Thông – Đông Văn – Đông Vinh. Đầu tư nâng cấp một số tuyến đường cấp huyện theo quy hoạch.

3.2. Phát triển mạng lưới điện, nhất là hệ thống điện hạ áp, đáp ứng nhu cầu cho phát triển kinh tế và sinh hoạt của nhân dân để 100% hộ dân được sử dụng điện lưới thường xuyên vào năm 2020. Đầu tư hoàn thiện hệ thống truyền tải và phân phối điện trong huyện, nâng cấp hệ thống truyền tải ở thị trấn, thị tứ và khu vực nông thôn, đảm bảo an toàn và hiệu quả, giảm tổn thất điện năng. Đề xuất cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới hệ thống truyền dẫn 10 KV và 35 KV, đảm bảo cung cấp điện cho sinh hoạt và sản xuất của các xã, hoàn thành đầu tư 100% tuyến đường dây và xây dựng các trạm biến áp đảm bảo tiêu chuẩn nông thôn mới.

3.3. Tập trung huy động các nguồn lực xây dựng hệ thống thủy lợi đủ năng lực phục vụ tưới, tiêu chủ động. Tu bổ, bồi trúc 85,8 km kênh đã được kiên cố hoá; đến năm 2020 kiên cố hoá 31,7 km kênh mương để nâng cao năng lực hệ thống phục vụ tưới, tiêu khoa học. Cải tạo nâng cao năng lực tiêu kênh Cầu Ê – Trường Tuế; kênh Tân Thành – Chiếu Thượng, Sông Mơ; kiên cố hoá 100 km hệ thống sông, kênh tiêu chính trên địa bàn.

3.4. Đầu tư xây dựng các tuyến cáp quang đến thôn; phát triển mạng thông tin di động băng thông rộng, mạng internet. Xây dựng Trung tâm bưu chính Đông Sơn thành trung tâm đầu mối của huyện, phát huy các điểm bưu điện văn hóa xã trong vận chuyển thư báo, dịch vụ thông tin và truyền thông.

3.5. Tiếp tục huy động xã hội hóa các nguồn lực xây dựng cơ sở vật chất cho giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao. Phấn đấu đến năm 2020, đủ các phòng bộ môn và phòng học chức năng, củng cố nâng cao chất lượng Trung tâm Giáo dục cộng đồng ở các xã. Hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, được đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế; xây dựng mới Trung tâm Y tế dự phòng huyện; tiếp tục nâng cấp cơ sở vật chất Bệnh viện đa khoa huyện. Đầu tư xây dựng các công trình văn hóa, thể thao trên địa bàn các xã, thôn đạt tiêu chí nông thôn mới trước năm 2020; nâng cấp Trung tâm Văn hóa Thể thao huyện đạt tiêu chuẩn cấp III; xây dựng mới thư viện, sân vận động, nhà truyền thống của huyện. Huy động các nguồn vốn để đ ầu tư, tu bổ, tôn tạo: Địa điểm di tích lịch sử danh thắng Rừng Thông, khu di tích Hàm Hạ, khu nghỉ dưỡng tâm linh Hồ Rủn, đền thờ Nguyễn Văn Nghi, đền thờ Nguyễn Chích , khu du lịch văn hóa lịch sử Thành Hoàng Ngưu, đầu tư một số hạng mục khu văn hoá – lịch sử Đông Khê.

3.7. Tập trung đầu tư x ây dựng nhanh kết cấu hạ tầng thị trấn Rừng Thông và các tụ điểm kinh tế của huyện. Ư u tiên xúc tiến đầu tư xây dựng khu trung tâm hành chính mới của huyện, đồng thời là nơi tập trung các trụ sở công ty, ngân hàng, văn phòng giao dịch; xây dựng phát triển khu đô thị nhằm đáp ứng nhu cầu nhà ở cho nhân dân… Đẩy mạnh thu hút đầu tư một số dự án xây dựng điểm dân cư theo hướng đô thị, đi trước một bước về hạ tầng kỹ thuật và quỹ nhà ở đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, thúc đẩy đô thị hóa. T ập trung phát triển các cụm dân cư, trung tâm cụm xã, tạo hạt nhân phát triển hệ thống ðô thị, tãng tốc ðộ ðô thị hóa, xây dựng các ðiểm dân cý theo nông thôn mới, thực hiện di dân phục vụ xây dựng các dự án lớn. Tập trung huy động các nguồn lực từ ngân sách nhà nước, nguồn từ cơ chế xây dựng nông thôn mới để chỉnh trang, nâng cấp và đầu tư mới công sở các xã, thị trấn; phấn đấu đến năm 2020 tất cả các xã, thị trấn đều có trụ sở làm việc đạt tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng quy định

4. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa – xã hội, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân

4.1. Hoàn thiện mạng lưới trường lớp phù hợp với thực tiễn, củng cố vững chắc kết quả phổ cập giáo dục các bậc học. T iếp tục đổi mới công tác quản lí giáo dục, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ; tập trung xây dựng trường THCS Nguyễn Chích thành trường chất lượng cao; tạo sự chuyển biến tích cực chất lượng giáo dục trung học phổ thông, chất lượng học sinh giỏi cấp tỉnh, từng bước xây dựng trường THPT Đông Sơn I thành trường trọng điểm chất lượng cao; quan tâm đúng mức và tạo được sự chuyển biến rõ nét việc dạy học ngoại ngữ ở các bậc học; thực hiện có hiệu quả chương trình hành động đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo; đẩy mạnh phong trào xã hội hoá giáo dục, phong trào khuyến học, phát triển hoạt động của Trung tâm Giáo dục cộng đồng; tiếp tục thực hiện mục tiêu xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia; phấn đấu t ỷ lệ xã, thị trấn đạt chuẩn xã hội học tập 90% trở lên vào năm 2020.

ẩy mạnh phong trào Quan tâm phát triển sự nghiệp thể dục thể thao, phát triển các loại hình hoạt động thể dục – thể thao; tăng cường đầu tư xã hội hóa xây dựng sân thể thao, nhà tập đa năng phục vụ các hoạt động thể thao quần chúng. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào 4.3. Nâng cao chất lượng hoạt động văn hoá, huy động các nguồn lực xã hội, xây dựng các thiết chế văn hoá. Tạo điều kiện thuận lợi để đời sống văn hoá ở cơ sở phát triển, khôi phục những nét đặc sắc truyền thống văn hoá Đông Sơn; d uy trì, phục hồi và phát triển dân ca Đông Anh kết hợp với xây dựng các sản phẩm du lịch trên cơ sở phát huy các giá trị di tích và tinh hoa văn hóa “Trống đồng Đông Sơn”. Đ ; “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với xây dựng nông thôn mới, xây dựng cơ quan, đơn vị, địa phương kiểu mẫu phấn đấu đến năm 2020 có 90% số gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá, 10 xã đạt chuẩn văn hoá nông thôn mới, 90% cơ quan đạt chuẩn văn hóa, n âng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hoá. Quan tâm trùng tu tôn tạo, phát huy các giá trị di tích lịch sử – văn hóa gắn với phát triển du lịch ở các khu di tích trọng điểm, di tích quốc gia; tăng cường quảng bá tiềm năng du lịch của huyện gắn với các điểm du lịch vùng phụ cận trong tỉnh; kêu gọi và tranh thủ các nguồn lực để đầu tư vào các điểm du lịch. Củng cố, nâng cao chất lượng công tác thông tin tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông đại chúng góp phần phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Từng bước hiện đại hóa cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng phát thanh, mở rộng diện phủ sóng để tất cả hộ gia đình được tiếp cận và sử dụng các dịch vụ thông tin , truyền thông. “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”; hình thành ý thức tự rèn luyện TDTT trong nhân dân; phấn đấu đến năm 2020, tỷ lệ người dân luyện tập thể dục thể thao thường xuyên đạt 40%.

4.4. Tăng cường công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền lựa chọn các doanh nghiệp có uy tín để triển khai đưa lao động xuất khẩu sang các thị trường có thu nhập cao và ổn định. Thực hiện tốt chương trình giảm nghèo bền vững, huy động các nguồn lực hỗ trợ các gia đình, cá nhân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Thực hiện đúng chế độ với người có công và đối tượng bảo trợ xã hội. Tiếp tục thực hiện tốt đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn; thực hiện việc tháp nhập Trung tâm Giáo dục thường xuyên và Trung tâm Dạy nghề nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục thường xuyên và dạy nghề. Đảm bảo các chính sách an sinh xã hội; phấn đấu đến năm 2020, có trên 50% trở lên người lao động tham gia bảo hiểm xã hội, 30% tham gia bảo hiểm thất nghiệp, trên 80% trở lên dân số tham gia bảo hiểm y tế.

5. Tăng cường củng cố quốc phòng – an ninh, giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, nâng cao chất lượng hoạt động các ngành nội chính tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế – xã hội

Xây dựng lực lượng công an, quân sự vững mạnh toàn diện; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên đảm bảo chất lượng; hoàn thành kế hoạch tuyển quân hàng năm; thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, xây dựng huyện là khu vực phòng thủ vững chắc, các xã, thị trấn là cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu. Tăng cường củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, coi trọng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng – an ninh, không để xảy ra tình huống đột xuất, bất ngờ. Tiếp tục giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện; thực hiện có hiệu quả chương trình quốc gia về phòng chống tội phạm; đảm bảo an toàn giao thông; phòng chống cháy, nổ; tăng cường xây dựng, củng cố các mô hình, tổ chức tự quản về an ninh trật tự; nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, xây dựng 85% khu dân cư đạt tiêu chí an toàn về an ninh trật tự. Củng cố xây dựng các cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động theo yêu cầu của cải cách tư pháp . Đảm bảo các cơ quan tư pháp thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, không để xảy ra oan sai, hạn chế tối đa việc bỏ lọt tội phạm . Thực hiện nghiêm các quy định về phòng chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí từ huyện đến cơ sở.

II. VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

1. Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng; xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạn

Tăng cường và đổi mới công tác dân vận của cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể để thu hút, tập hợp đoàn kết hội viên, nhân dân; phối hợp chặt chẽ các lực lượng trong hệ thống chính trị làm tốt công tác dân vận. Hệ thống dân vận phải sâu sát cơ sở, tăng cường đối thoại và lắng nghe ý kiến của nhân dân; chú trọng nắm bắt tình hình nhân dân để chủ động thực hiện tốt nhiệm vụ thuyết phục, vận động nhân dân đạt hiệu quả. Tiếp tục triển khai sâu rộng phong trào 1.4. Tăng cường công tác dân vận trong tình hình mới. Thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác vận động quần chúng. Các cấp ủy đảng cần xác định rõ công tác dân vận là nhiệm vụ quan trọng của Đảng và cả hệ thống chính trị. “Dân vận khéo”; thực hiện tốt quy chế dân chủ và xây dựng cơ sở; tiếp tục tập trung thực hiện có hiệu quả đề án “Tăng cường công tác dân vận trong xây dựng nông thôn mới” của Ban Thường vụ Huyện ủy khóa XXIII.

1.6. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và Chỉ thị 03- CT/TW của Bộ Chính trị. Tăng cường lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với thực hiện kế hoạch sửa chữa, khắc phục hạn chế, khuyết điểm của tập thể cấp ủy, cấp ủy viên; của tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị và của cá nhân đã được chỉ ra sau kiểm điểm và những thiếu sót, khuyết điểm mới phát sinh sau kiểm điểm một cách thường xuyên, liên tục. Tiếp tục nâng cao nhận thức, quán triệt sâu sắc tầm quan trọng, ý nghĩa thiết thực lâu dài của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong toàn Đảng bộ và các tầng lớp nhân dân, trước hết là đối với cấp ủy và lãnh đạo chính quyền, đoàn thể các cấp. Gắn việc thực hiện Chỉ thị với thực hiện đạt hiệu quả cao nhiệm vụ xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh và xây dựng nông thôn mới với các phong trào thi đua yêu nước khác.

1.7. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Huyện ủy, các cấp ủy, tổ chức đảng. Các cấp ủy đảng tiếp tục cải tiến việc quán triệt, triển khai học tập chủ trương, nghị quyết của Đảng đảm bảo thiết thực, hiệu quả, chú trọng xây dựng các chương trình, kế hoạch hành động cụ thể để tổ chức thực hiện; tăng cường kỷ cương, kỷ luật, giữ vững đoàn kết thống nhất trong Đảng, nâng cao uy tín của Đảng trong các tầng lớp nhân dân. Phát huy vai trò của người đứng đầu cấp ủy trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Xây dựng quy chế làm việc và giữ nghiêm sự điều hành hoạt động của cấp ủy theo quy chế, nhất là hoạt động của Thường trực, Ban Thường vụ cấp ủy, đảm bảo sự lãnh đạo của cấp ủy một cách toàn diện. Cải tiến lề lối làm việc, bám sát cơ sở, nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo. Phát huy dân chủ, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ và chế độ tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng. Thực hiện nghiêm túc chế độ kiểm tra, giám sát việc sơ kết, tổng kết các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, phát hiện những nhân tố mới, mô hình mới, biểu dương gương người tốt, việc tốt; uốn nắn những sai lệch, thiếu sót; xử lý nghiêm minh những cá nhân, tổ chức vi phạm.

– Nâng cao năng lực chỉ đạo, điều hành của UBND huyện và các xã, thị trấn và khả năng cụ thể hóa các nghị quyết của cấp ủy, HĐND vào thực tiễn. Nâng cao chất lượng tham mưu của chính quyền cho cấp ủy trong việc đề ra chủ trương, cơ chế, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh trên địa bàn; đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là thủ tục hành chính; nâng cao chất lượng và tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ của cán bộ công chức, viên chức; nghiêm túc thực hiện trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị; xây dựng hệ thống chính quyền trong sạch, minh bạch, thượng tôn pháp luật, vì lợi ích của người dân. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kỷ luật, kỷ cương hành chính, các biện pháp thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí.

Huyện Lạng Giang: Bế Mạc Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Lần Thứ Xxii, Nhiệm Kỳ 2022

Quang cảnh Đại hội

Trước đó, tại phiên họp thứ nhất Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa XXII, nhiệm kỳ 2020-2025, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã tín nhiệm cao bầu Ban Thường vụ Huyện ủy gồm 13 đồng chí, Bầu chức danh Bí thư, Phó Bí thư Huyện ủy. Kết quả đồng chí Tạ Huy Cần, Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy khóa XXI tái cử chức danh Bí thư Huyện ủy khóa XXII. Đồng chí Đặng Đình Hoan và Ngô Thanh Linh tiếp tục được bầu giữ chức Phó Bí thư Huyện ủy. BCH Đảng bộ cũng đã bầu bầu 7 ủy viên Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy và Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Huyện ủy, đồng chí Trần Xuân Cường, Ủy viên BTV Huyện ủy được bầu làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy.

Với kết quả biểu quyết, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Lạng Giang đề ra mục tiêu tổng quát đó là: Tăng cường xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội đồng bộ, nhất là hạ tầng giao thông, đô thị, công nghiệp. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ; tiếp tục phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, ứng dụng công nghệ cao. Phát triển toàn diện các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội; cải thiện mạnh mẽ môi trường sống; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân. Củng cố vững chắc quốc phòng- an ninh; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đưa huyện Lạng Giang phát triển nhanh, bền vững. Và 12 chỉ tiêu cụ thể với các nhóm giải pháp chủ yếu và 3 nhiệm vụ trọng tâm.

Sau khi thông qua Nghị quyết Đại hội, đồng chí Ngô Thanh Linh, Phó Bí thư Huyện ủy thay mặt Đoàn Chủ tịch đã thông qua Chương trình phát động thi đua thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXII. Trong đó, để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội, đồng chí nhấn mạnh tới các giải pháp đó là: Tập trung tuyên truyền, phổ biến, quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XXII, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XIX, Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Tích cực, khẩn trương xây dựng kế hoạch, đề án cụ thể để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp, đưa Nghị quyết của Đảng sớm đi vào cuộc sống. Xây dựng cơ chế hỗ trợ phù hợp, hiệu quả. Hàng năm xây dựng chương trình thi đua gắn với thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội theo hướng tích cực, phù hợp với xu thế phát triển.

Bế mạc Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Lạng Giang lần thứ XXII, nhiệm kỳ 2020-2025

Mỗi cơ quan, đơn vị phải đề ra những biện pháp cụ thể, sáng tạo, trong đó cần chú trọng đổi mới nội dung, hình thức thi đua; xây dựng phong trào thi đua phát triển đều khắp trên các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, văn hoá- xã hội, an ninh, quốc phòng để khơi dậy khát vọng, ý chí vươn lên và sự sáng tạo không ngừng của cán bộ, chiến sỹ và đông đảo quần chúng Nhân dân. Trong chỉ đạo, cần chú trọng kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết phong trào thi đua, biểu dương, khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân; quan tâm bồi dưỡng, phát hiện, xây dựng và nhân rộng các điển hình tiên tiến, các nhân tố mới trong các ngành, các lĩnh vực, tôn vinh những tập thể, cá nhân có thành tích trong sự nghiệp xây dựng quê hương Lạng Giang giàu mạnh.

Tiếp tục quán triệt, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, tư tưởng về thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng”, Chỉ thị số 35/CT-TTg ngày 19/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước chào mừng các sự kiện lớn của đất nước, địa phương. Từ đó nâng cao nhận thức của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, MTTQ, các tổ chức đoàn thể, của cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò của công tác thi đua trong giai đoạn cách mạng hiện nay.

Thực hiện tốt công tác khen thưởng, chú trọng khen thưởng các tập thể, cá nhân ở cơ sở, các tập thể, cá nhân trực tiếp lao động, sản xuất nhằm phát huy tác dụng thực chất trong công tác thi đua, khen thưởng. Để động viên phong trào thi đua cần đảm bảo tính toàn diện khi xét khen thưởng, gắn việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị, chuyên môn với thực hiện tốt đoàn kết nội bộ, lãnh đạo gương mẫu chấp hành kỷ cương, kỷ luật; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo, hội họp đầy đủ, kịp thời. Tiếp tục củng cố về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thi đua Khen thưởng từ huyện tới cơ sở; bố trí, phân công hợp lý công việc cho cán bộ làm công tác thi đua khen thưởng ở các xã, thị trấn để nâng cao chất lượng tham mưu chỉ đạo và tổ chức thực hiện các phong trào thi đua yêu nước.

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Đại hội

Sau 2 ngày làm việc, với phương châm “Đoàn kết – Dân chủ – Sáng tạo – Phát triển”, Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Lạng Giang khóa XXII, nhiệm kỳ 2020-2025 đã bế mạc và thành công tốt đẹp. Thành công của Đại hội đã tạo không khí phấn khởi và một niềm tin vững chắc để Đảng bộ, quân và dân các dân tộc trong huyện quyết tâm thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ đã đề ra, tiếp tục đưa Lạng Giang phát triển nhanh, bền vững.

Diệp Bắc

Bạn đang đọc nội dung bài viết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Sơn Hà Lần Thứ Xxiv, Nhiệm Kỳ 2022 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!