Đề Xuất 11/2022 # Công Thức Định Giá Sản Phẩm: 5 Bước Để Đặt Giá Bán Sỉ Và Lẻ Luôn Thu Được Lợi Nhuận / 2023 # Top 16 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 11/2022 # Công Thức Định Giá Sản Phẩm: 5 Bước Để Đặt Giá Bán Sỉ Và Lẻ Luôn Thu Được Lợi Nhuận / 2023 # Top 16 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Công Thức Định Giá Sản Phẩm: 5 Bước Để Đặt Giá Bán Sỉ Và Lẻ Luôn Thu Được Lợi Nhuận / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Làm thế nào để đặt được một mức giá sản phẩm phù hợp vừa đảm bảo thu được lợi nhuận cao vừa không khiến cho khách hàng của bạn “chạy mất dép” vì giá quá “chát”. Giá như thế nào mới là hợp lý đây? Khi mới bắt đầu kinh doanh hay chuẩn bị ra mắt một sản phẩm mới, vấn đề này có thể sẽ làm bạn cảm thấy khó khăn. Đừng lo, SUNO sẽ hướng dẫn bạn công thức định giá sản phẩm chỉ với 5 bước đơn giản. Với công thức này, bạn có thể áp dụng đặt cho giá bán lẻ hoặc giá bán sỉ hay cả hai.

Bước 1: Tính giá vốn (giá gốc) cho sản phẩm của bạn

Giá vốn (giá gốc) của sản phẩm (còn được gọi là Cost of goods sold – COGS) là tổng chi phí bao gồm phí sản xuất hoặc nhập sản phẩm (còn được gọi là giá thành của sản phẩm) và bất kỳ chi phí bổ sung nào cần thiết, chẳng hạn như phí nhân công, vận chuyển, xử lý, marketing,… để hàng được sẵn sàng bán. Hiểu một cách đơn giản hơn là giá vốn (giá gốc) của sản phẩm có thể được xác định với công thức tính như sau:

Giá gốc (giá vốn) = Giá thành sản phẩm (Chi phí sản xuất/nhập sản phẩm) + Chi phí phát sinh khác nếu có (chi phí nhân công, đóng gói, vận chuyển, marketing,…)

Bước 2: Nghiên cứu thị trường, phân khúc khách hàng của bạn

Trước khi bạn muốn đặt giá bán cho bất kỳ sản phẩm bán lẻ nào, hãy xác định rõ phân khúc thị trường mà bạn đang nhắm đến. Ví dụ: hàng của bạn thuộc lĩnh vực nào, là hàng cao cấp, hướng đến khách hàng giàu có? Hay hàng của bạn là hàng bình dân, phù hợp với khách hàng có thu nhập trung bình – khá?

Nên nhớ, chỉ khi nắm bắt được khách hàng tiềm năng cụ thể thì bạn mới có thể dựa theo đó để đưa ra mức giá lợi thế cạnh tranh cho bản thân. Tùy vào khách hàng của bạn có những hành vi tiêu dùng ra sao, ví dụ như chỉ quan tâm về giá cả hay về chất lượng sản phẩm. Khả năng ngân sách chi trả của họ cho việc mua sắm là bao nhiêu?

Hãy tổng kết tất cả những dữ liệu đó lại, bạn sẽ có thể đưa ra được mức giá phù hợp, đánh trúng tâm lý khách hàng.

Bước 3: Xác định mức lợi nhuận mà bạn mong muốn

Có một mẹo nhỏ và đơn giản mà có lẽ ai cũng thường áp dụng vào công thức định giá sản phẩm. Đó chính là bắt đầu lấy từ giá gốc của bạn rồi nhân gấp đôi lên để ra giá bán. Đây là cách làm an toàn và phổ biến nhất. Nó đảm bảo mức lợi nhuận bán hàng của bạn luôn thu về được là 100%.

Tuy nhiên, trong phân khúc bán lẻ, còn tùy vào từng ngành hàng và mô hình kinh doanh của bạn để tùy chỉnh giá bán mang về lợi nhuận bao nhiêu là phù hợp. Thường với các nhà sản xuất trực tiếp hay các thương hiệu lớn, họ sẽ nhắm đến mức lợi nhuận vào khoảng 30 – 50%. Họ có thể chấp nhận mức lợi nhuận thấp để đạt được những mục tiêu khác.

Trong khi các nhà bán lẻ trực tiếp cho người tiêu dùng thì sẽ luôn nhắm đến mức lợi nhuận cao nhất có thể, vào khoảng 55 – 100%. Vậy nên, để có được giá bán sau cùng cho sản phẩm dù là bán sỉ hay bán lẻ thì bạn cần xác định mức lợi nhuận bạn mong muốn thu về được.

Bước 4: Đặt giá bán lẻ (giá niêm yết)

Sau khi xác định được lợi nhuận mong muốn thì bạn sẽ tính ra được giá bán sau cùng với công thức như sau:

Giá bán lẻ = [Giá gốc/vốn + (Giá gốc X  % lợi nhuận mong muốn)] 

Ví dụ như 1 sản phẩm giá gốc của bạn là 50.000 VND, bạn muốn thu lợi nhuận 100%, vậy thì bạn sẽ có giá bán là: [50.000 + (50.000 X 100%)] = 100.000 VND

Ở bước này, chúng ta vừa áp dụng công thức định giá sản phẩm để ra được giá bán sau cùng theo như mức lợi nhuận mà bạn kỳ vọng. Nếu như bạn đơn thuần chỉ là bán lẻ, mua đi bán lại và giá bán sau cùng bạn đưa ra đã hợp lý, phù hợp và đủ sức cạnh tranh trên thị trường thì bạn có thể bắt đầu bán hàng rồi đấy.

Tốt nhất, để chắc chắn, bạn cần nghiên cứu xem các đối thủ, các nhà bán lẻ khác đang bán với mức giá bao nhiêu. Từ đó, bạn có thể so sánh và xem lại giá bán sản phẩm sau cùng của mình có khả thi hay không. Nếu như mức giá bạn đưa ra quá cao so với mặt bằng chung trên thị trường hay vượt quá khả năng chi trả của phân khúc khách hàng bạn đang nhắm đến. Bạn nên xem xét, điều chỉnh lại, chấp nhận một mức lợi nhuận thấp hơn để bán được hàng.

Lưu ý:

Bạn cũng nên lưu ý, đừng nhầm lẫn giá gốc (giá vốn) với giá thành để tính ra giá bán. Đã có nhiều trường hợp, chủ kinh doanh dùng giá thành nhân lên gấp đôi, gấp 3 hoặc gấp 4 lần để ra giá bán. Họ nghĩ rằng mình đang có mức lời rất “khủng”. tuy nhiên, đó chỉ là sự ngộ nhận. Trên thực tế, doanh thu bán hàng sau khi thu về, phần lợi nhuận trong đó vẫn tiếp tục bị trừ thêm các khoản chi phí khác dẫn đến bạn không lời như bạn tưởng.

Bước 5: Đặt giá bán sỉ

Nếu bạn là nhà sản xuất trực tiếp và cùng một lúc bạn vừa bán lẻ vừa bán sỉ thì bạn sẽ làm tiếp bước này. Vấn đề khi đặt giá sỉ là làm sao để không ảnh hưởng lợi nhuận giữa giá bán sỉ và bán lẻ. Đồng thời, giá bán lẻ của bạn cũng không gây ảnh hưởng về sự xung đột lợi ích với các đối tác bán lẻ khác đang lấy hàng của bạn về bán.

Tất nhiên, khi bạn bán sỉ, số lượng sản phẩm trong mỗi đơn hàng sẽ rất nhiều. Điều này cho phép bạn có thể bán sản phẩm với giá thấp hơn. Lúc này, để đặt được giá sỉ, bạn nên chia theo khung số lượng sản phẩm để có nhiều mức giá sỉ. Tùy theo số lượng sản phẩm trên đơn hàng mà đối tác đặt, họ sẽ được hưởng mức giá chiết khấu khác nhau, lấy càng nhiều giá càng rẻ. Như vậy bạn cũng sẽ có được chính sách giá sỉ đa dạng cho nhiều đối tác. Dù là vốn ít hay vốn nhiều thì họ vẫn có thể lấy hàng từ bạn.

Gợi ý cho bạn là khi vừa bán lẻ và bán sỉ thì bạn có thể đẩy giá bán lẻ lên cao để tránh gây ảnh hưởng xung đột về giá cho các đối tác của bạn khi lấy hàng về bán. Giả sử bạn muốn mức lợi nhuận thu về trên giá bán lẻ là 80%. Vậy bạn có thể chia ra các mức lợi nhuận còn lại cho giá sỉ dựa trên số lượng sản phẩm đặt mua như sau:

Ví dụ:

Một sản phẩm của bạn có giá gốc là 30.000 VND, lợi nhuận bạn mong muốn là 80%. Vậy giá bán lẻ là [30.000 + (30.000 X 80%)]  = 54.000 VND. Các mức giá bán sỉ theo số lượng sản phẩm mà đối tác đặt mua sẽ được tính như sau:

Cứ theo công thức lũy tiến này thì cứ đối tác mua càng nhiều thì giá càng giảm. Đồng thời, bạn vẫn luôn kiểm soát được lợi nhuận tối thiểu bạn thu về là bao nhiêu khi bán sỉ. Tất nhiên không nhất thiết bạn phải rập khuôn theo khung số lượng sản phẩm và mức lợi nhuận như trên mà hoàn toàn có thể tùy biến sao cho hợp lý.

Miễn bạn luôn lấy mức lợi nhuận trên giá bán lẻ làm điểm xuất phát. Và mức giá bán lẻ đề xuất của bạn cũng đảm bảo không làm ảnh hưởng, gây xung đột về lợi ích đối với các đối tác nhập hàng của bạn. Như vậy, bạn sẽ có thêm nhiều khách hàng hơn.

Lời kết:

Lợi Nhuận Bình Quân Và Giá Cả Sản Xuất / 2023

a) Cạnh tranh trong nội bộ ngành và sự hình thành giá trị thị trường

Cạnh tranh xuất hiện và gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa những người sản xuất, kinh doanh hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, để thu lợi nhuận cao nhất.

Trong sản xuất tư bản chủ nghĩa, tồn tại hai loại cạnh tranh là: cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành.

Cạnh tranh trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa có lợi hơn để thu lợi nhuận siêu ngạch.

Biện pháp cạnh tranh: các nhà tư bản thường xuyên cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa xí nghiệp sản xuất ra thấp hơn giá trị xã hội của hàng hóa đó để thu được lợi nhuận siêu ngạch.

Kết quả của cạnh tranh nội bộ ngành là hình thành nên giá trị xã hội (giá tri thị trường) của từng loại hàng hóa. Điều kiện sản xuất trung bình trong một ngành thay đổi do kỹ thuật sản xuất phát triển, năng suất lao động tăng lên, giá trị xã hội (giá trị thị trường) của hàng hóa giảm xuống.

Như đã biết, trong các đơn vị sản xuất khác nhau, do điều kiện sản xuất (điều kiện kỹ thuật, tổ chức sản xuất, trình độ tay nghề công nhân…) khác nhau, cho nên hàng hóa có giá trị cá biệt khác nhau, nhưng trên thị trường các hàng hóa phải bán theo giá trị xã hội – giá trị thị trường.

Theo C.Mác, “Một mặt phải coi giá trị thị trường là giá trị trung bình của những hàng hóa được sản xuất ra trong một khu vực sản xuất nào đó; mặt khác, lại phải coi giá trị thị trường là giá trị cá biệt của những hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện trung bình của khu vực đó và chiếm một khối lượng lớn trong số những sản phẩm của khu vực này”.

b) Cạnh tranh giữa các ngành và sự hình thành lợi nhuận bình quân

Cạnh tranh giữa các ngành là sự cạnh tranh giữa các ngành sản xuất khác nhau, nhằm mục đích tìm nơi đầu tư có lợi hơn, tức là nơi có tỷ suất lợi nhuận cao hơn.

Biện pháp cạnh tranh: tự do di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác, tức là phân phối tư bản (c và v) vào các ngành sản xuất khác nhau.

Kết quả của cuộc cạnh tranh này là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân, và giá trị hàng hóa chuyển thành giá cả sản xuất.

Chúng ta đều biết, ở các ngành sản xuất có những điêu kiện tự nhiên, kinh tế, kỹ thuật và tổ chức quản lý khác nhau, nên tỷ suất lợi nhuận khác nhau.

Giả sử có ba ngành sản xuất khác nhau, tư bản của mỗi ngành đều bằng 100, tỷ suất giá trị thặng dư đều bằng 100% tốc độ chu chuyển của tư bản ở các ngành đều như nhau. Nhưng do cấu tạo hữu cơ của tư bản ở từng ngành khác nhau, nên tỷ suất lợi nhuận khác nhau Ví dụ:

Như vậy, cùng một lượng tư bản đầu tư, nhưng do cấu tạo” hữu cơ khác nhau nên tỷ suất lợi nhuận khác nhau. Nhà tư bản ở ngành có tỷ suất, lợi nhuận thấp không thể bằng lòng, đứng yên trong khi những ngành khác có tỷ suất lợi nhuận cao hơn. Trong ví dụ trên, ngành da là ngành cỏ cấu tạo hữu cơ của tư bản thấp nhất nhưng tỷ suất lợi nhuận lại là cao nhất, ngược lại, ngành cơ khí, ngành có cấu tạo hữu cơ của tư bản cao nhất nhưng tỷ suất lợi nhuận lại thấp nhất. Vì vậy, tư bản ở ngành cơ khí, ngành dệt sẽ tự phát di chuyển sang ngành da, làm cho sản phảm của ngành da nhiều lên (cung lớn hơn cầu), do đo giá cả hàng hóa ở ngành da sẽ hạ xuống thấp hơn giá trị của nó, và tỷ suất lợi nhuận ngành này giảm xuống. Ngược lại, ngành cơ khí là ngành mà cả xã hội đều muốn né tránh vì tỷ suất lợi nhuận thấp nhất nên sản phẩm của ngành cơ khí sẽ giảm đi (cung thấp hơn cầu), nên giá cả sẽ cao hơn giá trị, và do đó tỷ suất lợi nhuận ở ngành cơ khí sẽ tăng lên. Như vậy, do hiện tượng di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác, làm cho ngành có cung (hàng hóa) lớn hơn cầu (hàng hóa) thì giá cả giảm xuống, còn ngành có cầu (hàng hóa) lớn hơn cung ( hàng hóa) thì giá cả tăng lên. Sự tự do di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác làm thay đổi cả tỷ suất lợi nhuận cá biệt vốn có của các ngành. Sự tự do di chuyển tư bản này chỉ tạm dừng lại khi tỷ suất lợi nhuận ở tất cả các ngành đều xấp xỉ bằng nhau. Kết quả là hình thành nên tỷ suất lợi nhuận bình quân.

Tỷ suất lợi nhuận bình quân là tỷ số tính theo phần trăm giữa tổng giá trị thặng dư và tổng số tư bản xã hội đầu tư vào các ngành của nền sản xuất hiệu là (overline {p’} )

(overline {p’} = dfrac{{sum m }}{{sum {left( {c + v} right)} }} times 100left( % right))

(overline {p’} = dfrac{{90}}{{300}} times 100left( % right) = 30% )

C.Mác cho rằng: Những tỷ suất lợi nhuận hình thành trong những ngành sản xuất khác nhau, lúc đầu rất khác nhau. Do ảnh hưởng của cạnh tranh, những tỷ suất lợi nhuận khác nhau đó san bằng cho thành tỷ suất lợi nhuận chung, đó là con số trung bình của tất cả những tỷ suất lợi nhuận khác nhau.

Khi hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân thì lượng lợi nhuận của tư bản ở các ngành sàn xuất khác nhau đều tính theo tỷ suất lợi nhuận bình quân, và do đó, nếu lượng tư bản ứng ra bằng nhau, dù đầu tư vào ngành nào cũng đều thu được lợi nhuận bằng nhau, gọi là lợi nhuận bình quân.

Vậy, lợi nhuận bình quân là so lợi nhuận bằng nhau của những tư bản bằng nhau, đầu rư vào những ngành khác nhau, bất kể cấu tạo hữu cơ của tư bản như thế nào, ký hiệu là ( overline {p} )

(overline p = overline {p’} times k)

Theo ví dụ trên thì lợi nhuận bình quân của cả ba ngành đều tính được như sau:

(overline p = 30% times 100 = 30)

Như vậy, trong giai đoạn cạnh tranh tự do của chủ nghĩa tư bản, giá trị thặng dư biểu hiện thành lợi nhuận bình quân và quy luật giá trị thặng dư cũng biểu hiện thành quy luật lợi nhuận bình quân.

Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và lợi nhuận bình quân đã che giấu hơn nữa thực chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân ( overline {p’} )và lợi nhuận bình quân ( overline {p} )

góp phần vào điều tiết nền kinh tế, chứ không làm chấm dứt quá trình cạnh tranh trong xã hội tư bản, trái lại cạnh tranh vẫn tiếp diễn.

c) Sự chuyển hóa của giá trị hàng hóa thành giá cả sản xuất

Cùng với sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và lợi nhuận bình quân thì giá trị hàng hóa chuyển hóa thành giá cả sản xuất.

Giá cả sản xuất bằng chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận bình quân.

Giá cả sản xuất = (k + overline p )

Tiền đề của giá cả sản xuất là sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân. Điều kiện để iá trị hàng hóa chuyển đổi thành giá cả sản xuất gồm có: đại công nghiệp cơ khí tư bản chủ nghĩa phát triển: sự liên hệ rộng rãi giữa các ngành sản xuất; quan hệ tín dụng phát triển, tư bản tự do di chuyển từ ngành này sang ngành khác.

Trong sản xuất hàng hóa giản đơn thì giá cả hàng hóa xoay quanh giá trị hàng hóa. Giờ đây, giá cả hàng hóa sẽ xoay quanh giá cả sản xuất. Xét về mặt lượng, ở mỗi ngành, giá cả sản xuất và giá trị hàng hóa có thế không bằng nhau, nhưng đứng trên phạm vi toàn xã hội thì tổng giá cả sản xuất luôn bằng tổng giá trị hàng hóa. Trong mối quan hệ này thì giá trị vẫn là cơ sở, là nội dung bên trong giá cả sản xuất; giá cả sản xuất là cơ sở của giá cả thị trường, và giá cả thị trường xoay quanh giá cả sản xuất.

Như vậy, trong giai đoạn cạnh tranh tự do của chủ nghĩa tư bản, khi giá trị thặng dư chuyển hóa thành lợi nhuận bình quân thì giá trị hàng hóa chuyển hóa thành giá cả sản xuất và quy luật giá trị cũng biểu hiện thành quy luật giá cả sản xuất.

Thông Tin Chi Phí Trong Định Giá Bán Sản Phẩm Của Doanh Nghiệp / 2023

Giá cả dựa trên sự hiểu biết chi phí và định một mức giá là đủ lớn để tạo ra lợi nhuận và đủ nhỏ để thực hiện bán.. Nguồn: Internet.

Phương pháp định giá dựa trên chi phí

Thông thường, doanh thu phải đủ bù đắp chi phí để tạo lợi nhuận, nên nhiều doanh nghiệp (DN) bắt đầu từ chi phí để định giá. Phương pháp này sử dụng các chi phí của sản phẩm để hình thành các cơ sở mà từ đó một mức giá có thể được thiết lập. Phần cộng thêm được tính toán không chỉ bao gồm các chi phí của sản phẩm, mà còn cung cấp một mức lợi nhuận cho DN. Giá bán sản phẩm được thể hiện qua công thức:

Giá bán = Chi phí cơ bản + Phần tiền công thêm Phương pháp định giá theo chi phí biến đổi cộng thêm

Giá của sản phẩm được tính theo chi phí biến đổi. Có thể lựa chọn chi phí biển đổi gồm biến đổi sản xuất hoặc gồm cả biến đổi sản xuất và biến đổi bán hàng, quản lý DN. Định giá bán theo chi phí biến đổi giúp cho nhà quản trị đưa ra những mức giá, phạm vị linh hoạt hơn nhưng vẫn đảm bảo tính bí mật của thông tin cạnh tranh. Đây chính là tính mềm dẻo, linh hoạt của phương pháp xác lập giá theo chi phí biến đổi.

Chẳng hạn, từ bảng 1, nếu chi phí cơ bản là chi phí biến đổi thì để có mức giá yêu cầu 45$, phần tiền cộng thêm (100% tổng chi phí biến đổi) bù đắp toàn bộ chi phí cố định và tạo lợi nhuận. Khi chi phí cơ bản chỉ gồm chi phí sản xuất biến đổi thì để có mức giá yêu cầu 45$, phần tiền cộng thêm (125% tổng chi phí sản xuất biến đổi) bù đắp toàn bộ chi phí cố định, chi phí bán hàng – quản lý DN biến đổi và tạo lợi nhuận.

Phương pháp định giá theo chi phí đầy đủ cộng thêm

Theo cách tính đầy đủ, chi phí cơ bản được xác định là chi phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm hoặc toàn bộ chi phí. Nếu chi phí cơ bản chỉ gồm chi phí sản xuất thì chi phí bán hàng và quản lý không bao gồm trong chi phí cơ bản mà chúng được tính trong phần tiền cộng thêm. Như vậy, phần tiền cộng thêm phải đủ lớn để bao gồm được các chi phí này và tạo ra cho DN một phần lợi nhuận.

Định giá theo phương pháp toàn bộ cho thấy kết cấu thông tin của các thành phần giá phù hợp với thông tin trên hệ thống kế toán tài chính. Tuy nhiên, phương pháp này thiếu hẳn tính linh hoạt và mềm dẻo trong điều chỉnh giá. Trong thành phần của chi phí cơ bản và phần tiền cộng thêm đều bao gồm hỗn hợp cả chi phí biến đổi và chi phí cố định, nên khi mức độ sản xuất kinh doanh thay đổi thì khó xác định, dự báo chi phí cơ bản và phần tiền cộng thêm. Mặt khác, trong điều kiện cạnh tranh, muốn hạ thấp giá đến mức tối thiểu sẽ không xác định được mức giá tối thiểu.

Chẳng hạn từ bảng 2, chi phí cơ bản là chi phí sản xuất thì để có mức giá yêu cầu 45$, phần tiền cộng thêm (50% tổng chi phí sản xuất) bù đắp chi phí bán hàng – quản lý DN và tạo lợi nhuận. Khi chi phí cơ bản là toàn bộ chi phí thì để có mức giá yêu cầu 45$, phần tiền cộng thêm (36,3% tổng chi phí) để tạo lợi nhuận.

Như vậy, chi phí là cơ sở đầu tiên trong định giá. Nhà quản trị điều chỉnh giá bán sản phẩm phụ thuộc vào môi trường, vị thế cạnh tranh và cầu sản phẩm. Phần cộng thêm chỉ là hướng dẫn để tính toán, mà không có nguyên tắc tuyệt đối. Tỷ lệ cộng thêm khác nhau cho các sản phẩm khác nhau phụ thuộc vào môi trường, vị thế cạnh tranh và cầu sản phẩm.

Sử dụng thông tin chi phí trong quyết định giá bán của DN

Thông thường các DN có thị phần lớn có thể quyết định giá nào được định ra cho các sản phẩm của họ (Còn gọi là những người lập giá), còn DN nhỏ sẽ trở thành “DN chấp nhận giá” và phải chịu theo giá do các DN lớn định ra.

Sử dụng thông tin chi phí trong ngắn hạn

Thông tin chi phí của một DN chấp nhận giá được sử dụng rộng rãi để tìm ra kết hợp sản phẩm tối đa hóa lợi nhuận và xác định các sản phẩm làm ăn thua lỗ. Chi phí biến đổi là cơ sở quan trọng để ra quyết định về cơ cấu mặt hàng và sản lượng tiêu thụ trong điều kiện phải chấp nhận giá và điều kiện nguồn lực có hạn.

Trong ngắn hạn, khi DN có dư thừa công suất, dòng tiền tăng thêm từ việc chấp nhận thêm đơn hàng là chênh lệnh giữa doanh thu và chi phí biến đổi. Giá theo chi phí biến đổi được sử dụng trong trường hợp này. Khi DN không dư thừa công suất, giá tối thiểu có thể chấp nhận sẽ phải bù đắp được chi phí tăng thêm.

Sử dụng thông tin chi phí trong dài hạn

Nếu là DN chấp nhận giá, DN sẽ đưa ra quyết định về cơ cấu sản phẩm dài hạn. Các quyết định bổ sung sản phẩm mới, loại bỏ sản phẩm cũ sẽ làm thay đổi cấu trúc chi phí của DN, đặc biệt là chi phí duy trì sản phẩm như chi phí thiết kế và chế tạo sản phẩm, chi phí bán hàng…

Khi ra quyết định về cơ cấu sản phẩm trong dài hạn, nhà quản trị phải sử dụng thông tin chi phí đầy đủ. Việc so sánh chi phí sản phẩm với giá thị trường của chúng bộc lộ sản phẩm nào không có lãi trong dài hạn. Nếu sản phẩm có chi phí đầy đủ lớn hơn giá thị trường, nhà quản trị phải cần xem xét loại bỏ.

Các DN thiết lập giá sử dụng phương pháp giá cộng thêm với chi phí cơ bản là chi phí đầy đủ. Nhờ có khả năng định giá trên thị trường nên nhà quản trị thường điều chỉnh mức giá bán thông qua các chính sách chiết khấu để giải phóng hàng tồn kho, tối ưu hóa công suất máy móc thiết bị thay vì áp dụng một cách cứng nhắc một giá cố định dựa trên chi phí đầy đủ…

Kết luận

Giá cả dựa trên sự hiểu biết chi phí và định một mức giá là đủ lớn để tạo ra lợi nhuận và đủ nhỏ để thực hiện bán. Sử dụng chi phí để định giá là phương pháp nhanh, đơn giản và cần thiết. Chi phí là điểm khởi đầu của giá, và chi phí là mức thấp nhất mà giá không thể giảm đến trong dài hạn. Các thông tin chi phí là thông tin quan trọng, mặc dù không có nghĩa là các thông tin duy nhất mà nên được sử dụng khi quyết định giá cuối cùng. Vì vậy, nhà quản trị nên sử dụng các thông tin này, cùng với kiến thức của họ về thị trường và chiến lược giá, trước khi giá được thiết lập.

Ứng Dụng Kế Toán Quản Trị Chiến Lược Trong Các Quyết Định Về Giá Bán Sản Phẩm / 2023

Các nguyên tắc thực hiện kế toán quản trị chiến lược

Kế toán quản trị chiến lược là một nội dung của kế toán quản trị, nó tạo ra giá trị cho tổ chức bằng cách hỗ trợ sự hình thành, lựa chọn, thực hiện và đánh giá các chiến lược của tổ chức với việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực, thu thập thông tin tài chính và phi tài chính của cả môi trường bên trong và bên ngoài tổ chức. Để vận hành kế toán quản trị một cách hiệu quả nhất cần chuyên viên kế toán có chuyên môn cao. Những chuyên viên này phải đảm bảo áp dụng các nguyên tắc kế toán quản trị chiến lược vào hoạt động hàng ngày với mục đích duy trì tính liêm chính, đồng thời tận dụng những quan điểm này nhằm nuôi dưỡng và phát triển hoạt động kinh doanh. Cụ thể:

Thứ nhất, sự giao tiếp truyền đạt tầm nhìn có ảnh hưởng

Thứ hai, thông tin thích hợp

Thứ ba, phân tích tác động đến giá trị

Thứ tư, giá trị tạo lập niềm tin

Ưu tiên hàng đầu của chuyên viên kế toán quản trị chính là đảm bảo mọi hoạt động và quyết định kinh doanh đều tuân thủ đúng theo luật pháp và quy tắc ứng xử kế toán địa phương. Bảo toàn tính liêm chính và đạo đức nghề nghiệp chính là phương thức giúp các chuyên viên viên kế toán bảo toàn giá trị và trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp.

Ứng dụng kế toán quản trị chiến lược về giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

– Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: 9.000 đồng/sản phẩm

– Chi phí nhân công trực tiếp: 8.000 đồng/sản phẩm

– Biến phí bán hàng và quản lý: 3.000 đồng/sản phẩm

– Tổng định phí sản xuất chung: 70.000.000 đồng

– Tổng định phí bán hàng và quản lý: 20.000.000 đồng

– Tỷ lệ hoàn vốn mong muốn (ROI): 20%

– Vốn hoạt động bình quân: 500.000.000 đồng

– Biến phí nguyên vật liệu trực tiếp: 10.000 đồng/ sản phẩm

– Biến phí nhân công trực tiếp: 5.000 đồng/sản phẩm.

– Biến phí sản xuất chung: 3.000 đồng/sản phẩm.

– Chi phí hoa hồng bán hàng: 1.000 đồng/sản phẩm.

– Khấu hao tài sản cố định dung sản xuất: 12.000.000 đồng

– Khấu hao tài sản cố định dùng để bán hàng: 10.000.000 đồng

– Chi phí giao tế, tiếp khách : 8.000.000 đồng

Năng lực sản xuất của công ty 1000 sản phẩm. Hiện thời, công ty đang sản xuất và tiêu thụ bình quân trong kỳ 800 sản phẩm với giá bán 60.000 đồng/sản phẩm. Một khách hàng yêu cầu công ty bán 100 sản phẩm (ngoài số sản phẩm kinh doanh hằng kỳ) với giá bán 40.000 đồng/sản phẩm. Công ty có nên bán hay không ?

Khi doanh nghiệp có dư thừa công suất, dòng tiền tăng thêm từ việc chấp nhận thêm đơn hàng là chênh lệnh giữa doanh thu và chi phí biến đổi. Giá theo chi phí biến đổi được sử dụng trong trường hợp này. Khi doanh nghiệp không dư thừa công suất, giá tối thiểu có thể chấp nhận sẽ phải bù đắp được chi phí tăng thêm.

Nếu áp dụng mô hình tính giá đặc biệt trong trường hợp công ty còn thừa năng lực:

Vậy, với giá bán 40.000đồng/sản phẩm công ty vẫn thực hiện được vì mức giá này giúp công ty gia tăng thêm một khoản lợi nhuận.

Ba là, phân tích các thông tin tác động đến việc xác lập giá bán

Về nhu cầu thị trường, trước khi nhà quản trị đưa ra quyết định sản xuất sản phẩm gì, cần xác định phân khúc khách hàng, số lượng các sản phẩm cùng loại trên thị trường. Doanh nghiệp cũng cần dự đoán xu hướng vận động nhu cầu của thị trường để đưa ra các quyết định định giá sản phẩm đúng thời điểm nhằm tối đa hóa lợi nhuận.

Tính cạnh tranh của các sản phẩm cùng loại trên thị trường: Đối với các sản phẩm cạnh tranh doanh nghiệp nên đưa ra giá bán phù hợp vì nếu giá bán cao quá sẽ không tiêu thụ được, hoặc giá bán thấp quá, doanh nghiệp sẽ mất đi một mức lợi nhuận. Do vậy, các nhà quản trị cần nghiên cứu yếu tố cạnh tranh trên thị trường thông qua những yếu tố như: Uy tín và vị thế của doanh nghiệp, chiến lược dài hạn của doanh nghiệp…

Xem xét trường hợp của doanh nghiệp sản xuất sản phẩm A với tình hình đối thủ cạnh tranh giảm giá bán 10% và thị phần giảm 3%, doanh số hiện đang giảm và các đối thủ cạnh tranh khác đang mở rộng thị phần. Nếu doanh nghiệp tập trung vào đối thủ cạnh tranh hay lấy đối thủ cạnh tranh làm trung tâm là doanh nghiệp đề ra các giải pháp của mình cơ bản dựa vào những phản ứng và hành động của đối thủ cạnh tranh.

Bốn là, giá trị tạo lập niềm tin

Sự tín nhiệm là nền tảng của các mối quan hệ, là thứ sẽ thuyết phục người mua hàng chọn doanh nghiệp của mình thay vì đối thủ. Một phương thức xác lập giá dựa trên những nhân tố đáng tin cậy sẽ giúp doanh nghiệp bảo toàn tính liêm chính và đạo đức nghề nghiệp cũng mình. Đồng thời, giúp cho khách hàng cảm thấy tự tin vào quyết định mua sản phẩm.

ThS. Mai Thị Quỳnh Như – Khoa Kế toán – Đại học Duy Tân

Bạn đang đọc nội dung bài viết Công Thức Định Giá Sản Phẩm: 5 Bước Để Đặt Giá Bán Sỉ Và Lẻ Luôn Thu Được Lợi Nhuận / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!