Đề Xuất 12/2022 # Chủ Động Và Tích Cực Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Trong Giai Đoạn Mới / 2023 # Top 19 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Chủ Động Và Tích Cực Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Trong Giai Đoạn Mới / 2023 # Top 19 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Chủ Động Và Tích Cực Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Trong Giai Đoạn Mới / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng cộng sản Việt Nam diễn ra vào sáng ngày 22/01/2016, Ủy viên BCH Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương, Bí thư Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ Công Thương, Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương Trần Tuấn Anh đã có bài tham luận.

Thứ trưởng Trần Tuấn Anh tham luận tại Đại hội Đảng XII (ảnh: TTXVN)

Hội nhập kinh tế quốc tế là một chủ trương nhất quán và là nội dung trọng tâm trong chính sách đối ngoại và hợp tác kinh tế quốc tế của Đảng ta trong quá trình đổi mới đất nước. Thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng, đất nước chúng ta đã từng bước, chủ động hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

Những kết quả đạt được trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế.

Nhìn lại chặng đường hội nhập kinh tế quốc tế trong gần 30 năm đổi mới vừa qua, chúng ta thấy rõ hơn những thành tựu đạt được, cùng với những thuận lợi, khó khăn, những cơ hội, thách thức để từ đó phát huy các kết quả đã đạt được, tiếp tục chủ động và tích cực để đạt được những thành tựu mới, vững chắc hơn trong thời gian tới.

1. Nhân tố quan trọng nhất, quyết định sự thành công của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn vừa qua là hội nhập kinh tế quốc tế gắn liền với sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng

Hội nhập kinh tế quốc tế là một chủ trương lớn của Đảng ta, là nội dung trọng tâm của hội nhập quốc tế và là một bộ phận quan trọng, xuyên suốt của công cuộc đổi mới. Trong gần 30 năm đổi mới vừa qua, các chủ trương cơ bản về hội nhập kinh tế quốc tế được nêu tại các kỳ Đại hội Đảng; Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành ba Nghị quyết chuyên đề về hội nhập kinh tế quốc tế.

Đại hội VI mở đầu cho thời kỳ đổi mới đất nước

đã đưa ra chủ trương tranh thủ những điều kiện thuận lợi về hợp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật, tham gia ngày càng rộng rãi vào việc phân công và hợp tác quốc tế trong “Hội đồng tương trợ kinh tế và mở rộng với các nước khác”.

Đại hội VII

định hướng “đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ với các quốc gia, các tổ chức kinh tế quốc tế”.

Tại Đại hội VIII

, mở ra chủ trương “Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới”.

Đại hội IX nhấn mạnh “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Ngày 27/11/2001, Bộ Chính trị khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW “Về hội nhập kinh tế quốc tế”.

Đại hội X nhấn mạnh chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác”.

Ngày 05/02/2007, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW “Về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới”.

Đại hội XI đã đề ra đường lối đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới, trong đó có chủ trương rất quan trọng là “chủ động và tích cựchội nhập quốc tế”. Từ “hội nhập kinh tế quốc tế” của các kỳ đại hội trước, chuyển sang “hội nhập quốc tế” một cách toàn diện là một phát triển quan trọng về tư duy đối ngoại của Đảng ta.

Ngày 10/4/2013, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về hội nhập quốc tế. Đây là văn kiện quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, làm rõ và thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân về hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Nghị quyết đã xác định rõ hội nhập quốc tế sẽ được triển khai sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt, hội nhập kinh tế phải gắn với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế.

2. Thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng, Việt Nam đã hội nhập ngày càng sâu rộng, tham gia hầu hết các tổ chức, định chế quốc tế và khu vực chủ yếu trên thế giới

– Việt Nam gia nhập ASEAN vào tháng 7/1995. Sự kiện này được coi là một bước đột phá về hành động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Ngày 22/11/2015, các nhà Lãnh đạo ASEAN đã ký Tuyên bố Kua-la-Lum-pur chính thức thành lập Cộng đồng ASEAN, trong đó có Cộng đồng Kinh tế ASEAN vào ngày 31/12/2015. Việc tham gia ASEAN và thực hiện các cam kết nhằm xây dựng Cộng đồng ASEAN sẽ đóng góp thiết thực cho việc góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định cải thiện môi trường luật pháp trong nước, tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, cũng như làm cơ sở, tiền đề giúp Việt Nam tham gia các khuôn khổ hợp tác song phương và đa phương khác.

– Việt Nam là thành viên tham gia sáng lập và là một thành viên tích cực của Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM) năm 1996; Việt Nam được kết nạp vào Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) vào năm 1998. Việt Nam đã được đánh giá là một trong những thành viên năng động, đã có nhiều sáng kiến hợp tác và đóng góp tích cực cho các Diễn đàn hợp tác quốc tế quan trọng này.

– Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu WTO vào tháng 01/2007, đánh dấu sự hội nhập toàn diện của Việt Nam vào kinh tế thế giới. Với việc gia nhập WTO, Việt Nam đã tiến hành nhiều cải cách chính sách kinh tế, thương mại, đầu tư đồng bộ, theo hướng minh bạch và tự do hóa hơn, góp phần quan trọng cho vỉêc xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

– Phù hợp với xu hướng thiết lập các khu vực thương mại tự do trên thế giới, tính đến nay, Việt Nam đã tham gia thiết lập 12 hiệp định thương mại tự do (FTA) với 56 quốc gia và nền kinh tế trến thế giới, trong đó 6 FTA do ta chủ động tham gia ngoài khuôn khổ nội khối ASEAN hoặc với nước đối tác của ASEAN. (12 FTA Việt Nam đã tham gia gồm: WTO, TPP, Hiệp định thương mại tự do ASEAN (AFTA), ASEAN-Hàn Quốc, ASEAN-Nhật Bản, ASEAN-Úc-Niu-di-lân, ASEAN-Ấn Độ, Việt Nam-Chi-lê, Việt Nam-Nhật Bản, Việt Nam-EU, Việt Nam-Liên minh kinh tế Á-Âu, Việt Nam-Hàn Quốc).

– Việt Nam đã hoàn tất đàm phán để ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Đây là một Hiệp định được kỳ vọng sẽ trở thành một khuôn khổ thương mại toàn diện, có chất lượng cao và là khuôn mẫu cho các Hiệp định thế kỷ 21. Việc tham gia vào Hiệp định TPP sẽ giúp Việt Nam nắm bắt và tận dụng tốt hơn các cơ hội do quá trình hội nhập kinh tế khu vực đem lại, đồng thời Việt Nam có thêm điều kiện, tranh thủ hợp tác quốc tế để phục vụ chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, triển khai chiến lược hội nhập quốc tế nói chung và chiến lược đối ngoại ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nói riêng.

3. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế về cơ bản đã đạt được những kết quả tích cực và dài hạn trong những lĩnh vực sau:

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế gần 30 năm qua đã mở ra không gian phát triển mới cho nền kinh tế Việt Nam, mở rộng quan hệ hợp tác sâu, rộng với các quốc gia trong khu vực và thế giới, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế với một số tác động tích cực chủ yếu như sau:

– Tác động mạnh đến sự tăng trưởng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao năng lực sản xuất, mở rộng thị trường trong một số lĩnh vực cụ thể như: công nghiệp, thương mại, các ngành dịch vụ…; thúc đẩy tái cấu trúc nền kinh tế, đặc biệt là chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng tích cực, phù hợp với chủ trương công nghiệp hóa theo hướng hiện đại, theo đó tập trung nhiều hơn vào các mặt hàng chế biến, chế tạo có giá trị và hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn; thúc đẩy thương mại, tăng thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) và mở rộng quan hệ hợp tác phát triển (ODA).

– Góp phần «lan tỏa» tích cực trong nền kinh tế, nhất là tạo thêm việc làm, các ngành có tốc độ tăng việc làm cao nhất cũng là những ngành mở cửa nhanh hơn hoặc những ngành áp dụng công nghệ mới để cạnh tranh, tạo tài sản sản xuất và hạ tầng như công nghệ chế tạo, xây dựng, tài chính ngân hàng, khoa học công nghệ; tác động tích cực tới tiền lương và thu nhập của mọi tầng lớp cư dân, tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh (quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm).

– Tiếp thu được khoa học – công nghệ mới và kỹ năng quản lý tiên tiến trên nhiều lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, kỹ thuật, văn hóa – xã hội… Góp phần đào tạo cho Việt Nam có được đội ngũ nguồn nhân lực có trình độ và năng lực cả về chuyên môn lẫn quản lý.

– Góp phần hoàn thiện thể chế trong nước trên góc độ: pháp luật và tổ chức bộ máy, cùng với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tạo hiệu ứng tích cực thúc đẩy cải cách và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đầy đủ, hoàn thiện môi trường kinh doanh, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế nước ta trong dài hạn, tạo ra môi trường kinh doanh ngày càng bình đẳng, minh bạch, dễ dự đoán hơn và ngày càng phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế.

– Các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội tham gia chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất khu vực, chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng tích cực, tập trung nhiều hơn vào các mặt hàng chế biến, chế tạo có giá trị và hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn (Năm 2015, công nghiệp chế biến, chế tạo trở thành động lực chính cho tăng trưởng GDP).

4. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam vẫn còn những khó khăn và hạn chế, ảnh hưởng đến tiến trình cũng như hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

Mặc dù đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, hội nhập kinh tế quốc tế trong một số lĩnh vực vẫn còn một số hạn chế, như:

– Tăng trưởng xuất khẩu nhanh nhưng chưa thực sự vững chắc, chất lượng tăng trưởng và hiệu quả xuất khẩu còn thấp, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu tuy đã chuyển dịch mạnh sang hàng chế biến, chế tạo, nhưng vẫn còn phụ thuộc nhiều vào doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; nhập siêu vẫn là nguy cơ, còn không ít bất cập trong cơ cấu nhập khẩu. Về cơ bản nền kinh tế vẫn dựa chủ yếu vào tăng trưởng thương mại, vào khai thức tài nguyên, khoáng sản, xuất khẩu hàng nông sản thô với hàm lượng chế biến thấp và gia công hàng hóa ở công đoạn thấp của chuỗi giá trị (dệt may, da giày, điện tử…).

– Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung còn thấp, chịu sức cạnh tranh lớn từ doanh nghiệp nước ngoài, dẫn đến một số ngành trong nước bị ảnh hưởng do tác động của việc mở cửa thị trường, nhập khẩu tăng mạnh, song thu ngân sách từ thuế nhập khẩu bị giảm,… Năng suất lao động tăng chậm, thu hút đầu tư vẫn dựa vào lợi thế nhân công và chi phí mặt bằng rẻ, chi phí năng lượng thấp đã ảnh hướng nhiều đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế cũng như của doanh nghiệp, sản phẩm.

– Khả năng tích lũy vốn nhân lực và tiến bộ công nghệ của Việt Nam còn rất khiêm tốn, biểu hiện ở mức năng suất lao động thấp và trình độ công nghệ của đa số doanh nghiệp còn khá lạc hậu.

– Các hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng quan hệ trong các lĩnh vực chưa được triển khai đồng bộ, nhịp nhàng trong một chiến lược tổng thế.

– Chất lượng nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng chậm được cải thiện. Năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, doanh nhân chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập.

5. Đề xuất, kiến nghị về hội nhập kinh tế quốc tế cho giai đoạn tới

Trong thời gian tới, tình hình thế giới [và khu vực] còn nhiều diễn biến phức tạp, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh. Các quốc gia tham gia ngày càng sâu vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Xuất hiện nhiều hình thức liên kết kinh tế mới, các định chế tài chính quốc tế, khu vực, các hiệp định song phương, đa phương thế hệ mới. Trong khi đó, Việt Nam sẽ phải thực hiện đầy đủ các cam kết trong Cộng đồng kinh tế ASEAN và WTO, tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, hội nhập quốc tế với tầm mức sâu rộng hơn rất nhiều so với giai đoạn trước.

Trong giai đoạn vừa qua, thực hiện chủ trương của Đảng và chỉ đạo sát sao của Chính phủ, Bộ Công Thương đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương triển khai chủ trương của Đảng và Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế; tiến hành nghiên cứu, đàm phán và ký kết nhiều thỏa thuận kinh tế thương mại quốc tế. Từ năm 2010 đến nay, chúng ta đã chuyển sang giai đoạn chủ động đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) với nhiều nước trong khu vực và thế giới, tạo điều kiện quan trọng cho cải cách kinh tế trong nước và mở rộng thị trường cho các doanh nghiệp, nâng cao lợi thế cạnh tranh của hàng hóa. Hơn thế nữa, kết quả hội nhập kinh tế to lớn đó còn giúp Việt Nam thực hiện chiến lược cơ cấu lại thị trường xuất khẩu theo hướng cân bằng hơn, thúc đẩy cải cách và tái cơ cấu nền kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và sản phẩm. Do vậy, trong giai đoạn mới đòi hỏi chúng ta phải chủ động và tích cực hơn nữa trong việc tận dụng các cơ hội của hội nhập kinh tế quốc tế mang lại, vuợt qua các khó khăn thách thức, giảm thiểu các tác động tiêu cực của quá trình hội nhập, cụ thể:

Về quan điểm, đường lối

Quán triệt Nghị quyết Đại hội XI và Nghị quyết 22-NQ/TW, chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” phải là một nội dung trọng tâm trong các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, với mục tiêu thúc đẩy và tăng cường hiệu quả hội nhập quốc tế, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và phát triển bền vững; đổi mới mô hình tăng trưởng, thúc đẩy chuyển dịch và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao khả năng cạnh tranh; tích cực tham gia sâu và rộng vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Trong phát triển kinh tế và thương mại, cần chú trọng việc đổi mới công nghệ và bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng hàng hóa và dịch vụ nước ta trên trường quốc tế.

Về các giải pháp cụ thể

Một là,

các Bộ, ngành và địa phương cần chủ động xây dựng các chương trình, kế hoạch toàn diện và cụ thể thực hiện Nghị quyết 22-NQ/TW trong bối cảnh thế giới cũng như trong nước có nhiều thay đổi lớn. Đồng thời, cần quán triệt chủ trương đúng đắn và kịp thời của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ trong từng giai đoạn về hội nhập quốc tế, xác định vai trò trọng tâm của hội nhập kinh tế quốc tế trong tiến trình hội nhập trong quan điểm, nhận thức và hành động của tất cả các các cấp, các ngành, các ngành, địa phương, toàn dân và cộng đồng doanh nghiệp; cần có sự thống nhất mục tiêu hội nhập từ trung ương đến địa phương.

Hai là,

gắn kết giữa hội nhập kinh tế quốc tế với đẩy mạnh cải cách trong nước, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế trong tổng thể phát triển kinh tế – xã hôi đất nước; nhằm bảo đảm tầm nhìn dài hạn về các mục tiêu phát triển kinh tế, mục tiêu chính trị ngoại giao và mục tiêu chiến lược trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Ba là,

chú trọng thực thi cam kết hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh mức độ cam kết và tự do hóa thương mại ngày càng cao hơn, đồng thời có các điều chỉnh thương mại trên cơ sở cam kết với các tổ chức quốc tế và khu vực để đạt được hiệu quả cao nhất trong việc thực hiện các cam kết thương mại.

Bốn là,

hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách nhằm thực thi có hiệu quả các cam kết hội nhập, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch, ngày càng phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế, góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Năm là,

tận dụng tối đa các cơ hội của hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thị trường, thúc đẩy thương mại, đầu tư, tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội; tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp và sản phẩm.

Sáu là,

tăng cường chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời nâng cao năng lực nghiên cứu, đánh giá và dự báo các vấn đề mới, các xu thế vận động của hội nhập, đặc biệt trong việc thực hiện các cam kết thương mại, các FTA ở cấp độ cao hơn để có các điều chỉnh chính sách và biện pháp phù hợp; hoàn thiện hệ thống quản lý, điều hành thị trường đủ năng lực, hoạt động hiệu quả để bảo vệ trị trường trong nước, duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, gắn với bảo vệ môi trường.

Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá của Đảng, [trong đó] “chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế gắn liền với xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ” là chủ trương định hướng cơ bản, lâu dài cho những năm tiếp theo trong quá trình hội nhập quốc tế, góp phần quan trọng vào mục tiêu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới, góp phần thực hiện lời căn dặn và mong mỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh là Dân tộc Việt Nam sẽ bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu./.

Báo Cáo Tình Hình Kinh Tế Xã Hội, Quốc Phòng An Ninh Giai Đoạn 2022 / 2023

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh giai đoạn 2016-2020

phường Hòa Cường Bắc

Thực hiện Thông báo số 46/HĐND ngày 30 tháng 11 năm 2020 của HĐND phường Hòa Cường Bắc về việc chuẩn bị nội dung trình kỳ họp thứ 15 HĐND phường khóa XI, UBND phường báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh giai đoạn  2016-2020 trên địa bàn phường, cụ thể như sau

ĐÁNH GIÁ VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ

Trong giữa nhiệm kỳ qua, mặc dù gặp không ít khó khăn, thách thức do tác động của tình hình trong nước và thành phố có nhiều biến động, nhưng với sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ và nhân dân phường Hòa Cường Bắc đã đạt được những thành tựu quan trọng, tương đối toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Nổi bật là tình hình chính trị ổn định, nội bộ đoàn kết, nhân dân đồng thuận. Kinh tế phát triển; văn hoá – xã hội có nhiều tiến bộ: triển khai chương trình thành phố “4 an”, an sinh xã hội được bảo đảm, công tác giảm nghèo thực hiện tốt và bền vững, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao; các lĩnh vực giáo dục – đào tạo, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, thực hiện Chỉ thị 43 của Thành uỷ Đà Nẵng, công tác quản lý trật tự đô thị, vỉa hè có những bước tiến bộ đáng kể. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước được tăng cường.

Tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn còn một số tồn tại như: Công tác trật tự vỉa hè tuy đã được triển khai có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng nhìn chung việc lấn chiếm sử dụng vỉa hè tại các đường nhỏ vẫn còn xảy ra, ảnh hưởng đến cảnh quan đô thị, công tác vệ sinh môi trường, công tác phòng cháy chữa cháy vẫn còn nhiều bất cập, nhiều khu dân cư không đảm bảo công tác cứu nạn, cứu hộ khi có sự cố xảy ra, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản được ổn định nhưng còn tiềm ẩn những khó khăn và phức tạp, nhất là tệ nạn ma túy có chiều hướng gia tăng.

KINH TẾ

Là phường có địa bàn rộng nhất của quận Hải Châu, nên trong cơ cấu kinh tế của phường giai đoạn 2016-2021 được định hướng phát triển “Thương mại – Dịch vụ – Sản xuất tiểu thủ công nghiệp” trong đó chú trọng phát triển thương mại và dịch vụ với sự phát triển của dịch vụ tài chính, dịch vụ du lịch, sự phát triển của hệ thống hơn 20 khách sạn, trên 130 nhà hàng, cơ sở ăn uống. Bên cạnh đó, các tuyến phố như Núi Thành, Phan Đăng Lưu, Tiểu La, Lê Thanh Nghị, 30/4, Nguyễn Hữu Thọ… với sự phát triển của hệ thống các hộ kinh doanh cá thể lớn góp phần vào sự phát triển kinh tế, cũng như tạo cảnh quan đô thị trên địa bàn phường ngày một hiện đại, văn minh. Ngoài ra, nhiều hoạt động dịch vụ truyền thống như ẩm thực, thời trang… được phát huy và đem lại doanh thu cho người dân. Tiểu thủ công nghiệp đa số có quy mô vừa và nhỏ nhưng cũng phát huy hiệu quả trong góp phần ổn định kinh tế xã hội của địa phương.

Phường đã tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế trên địa bàn phường yên tâm phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn uống. Năm 2017, UBND phường đã tiến hành tổ chức khai trương đoạn đường chuyên doanh ẩm thực văn minh thương mại Lê Thanh Nghị. Cho đến nay, các hộ kinh doanh ẩm thực trên đoạn đường này đã thực hiện tốt nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước năm sau tăng hơn năm trước trung bình 20%/năm. Đây là một trong những hoạt động trọng tâm của địa phương nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế và tăng nguồn thu cho ngân sách phường.

Trong giai đoạn từ năm 2015 – 2020, UBND phường đã tập trung chỉ đạo công tác thu ngân sách, trong đó chú trọng công tác tuyên truyền phổ biến các chính sách về thuế trên địa bàn phường, công tác quản lý, điều hành thu chi ngân sách đáp ứng được yêu cầu hoạt động của phường, tiết kiệm và kiểm soát chặt chẽ các khoản chi, nên kết quả đạt được cụ thể như sau:

                                                                                          Đơn vị tính : đồng

Năm

Tổng thu ngân sách

Tổng chi ngân sách

Tuyết đối

Tương đối (% kế hoạch quận giao)

2016

17.861.579.204

139,7%

15.781.668.026

2017

20.552.436.099

126,3%

18.483.310.925

2018

21,559,035,203

114,9%

19,348,076,578

2019

23,311,020,000

107%

22,673,000,000

2020

13.489.000.000

71,7%

19.283.000.000

(Báo cáo số liệu thu – chi ngân sách từ năm 2016-2020)

Tổng thu ngân sách từ năm 2016-2020 bình quân tăng 25,14% so với dự toán quận giao, với số thu tăng 4.508.203.735 đồng, chi ngân sách tăng 32,5% với số tăng là 4.407.461.395 đồng.

Phường thực hiện tốt công khai thu, chi ngân sách, nhất là các khoản thu trong dân theo quy định của pháp luật; triển khai thực hiện có hiệu quả đề án khoán chi hành chính tại cơ quan phường; các loại quỹ huy động trong dân đều đạt và vượt kế hoạch giao. Chi ngân sách đúng quy định, bảo đảm phục vụ các hoạt động của địa phương.

III. XÂY DỰNG CƠ BẢN, QUẢN LÝ ĐÔ THỊ, VỆ SINH MÔI TRƯỜNG

Công tác quản lý đô thị, vệ sinh môi trường luôn được UBND phường quan tâm, lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả. UBND phường chỉ đạo các tổ dân phố tiếp tục thực hiện tuyến đường “An toàn – Trật tự – Văn minh”, triển khai văn hoá văn minh đô thị theo tinh thần của chỉ thị 43 của thành uỷ Đà Nẵng, chương trình “Thành phố 4 an” từng bước đảm bảo trật tự đô thị tại các tuyến đường chính, các hộ buôn bán gây ảnh hưởng đến giao thông các kiệt hẻm, cùng các trường học thực hiện “Cổng trường bình yên”, quản lý một số lô đất trống, nâng cao hoạt động của Tổ trật tự đô thị, thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa cây xanh, trong đó có việc làm các hàng rào và trồng hoa tại các gốc cây xanh, tổ chức kẻ vạch ở tuyến đường và các kiệt hẻm, kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trật tự đô thị, trật tự vỉa hè, trật tự xây dựng.

Thực hiện đề án 3 có của thành phố,  công tác đảm bảo vệ sinh môi trường là một trong những tiêu chí quan trọng trong việc thực hiện văn hoá, văn minh đô thị,  trong những năm qua UBND phường đã phối hợp cùng các ban ngành đoàn thể và các trường học thường xuyên tổ chức phát động ra quân tổng dọn vệ sinh trên địa bàn nhân “Ngày Chủ nhật xanh – sạch – đẹp”, ngày “Môi trường thế giới” qua đó đã vận động nhân dân hào hứng tham gia bảo vệ môi trường, làm đẹp nơi cư trú, góp phần tạo nét mỹ quan trên các tuyến đường này.

Xử phạt về trật tự đô thị, môi trường và xây dựng:

Năm 2016: xử phạt 109 trường hợp, với số tiền: 108.950.000 đồng

Năm 2017: xử phạt 156 trường hợp, với số tiền 117.300.000 đồng

Năm 2018: xử phạt 37 trường hợp, với số tiền 29.250.000 đồng

Năm 2019: xử phạt 21 trường hợp, với số tiền 12.000.000 đồng

Năm 2020: xử phạt 127 trường hợp, với số tiền 106.250.000 đồng

Thực hiện Nghị quyết 03 của Quận ủy về “Đảm bảo trật tự đô thị – môi trường” giai đoạn 2015-2017 và đề án quản lý trật tự vỉa hè giai đoạn 2017-2020. UBND phường đã có kế hoạch cụ thể phối hợp với đội kiểm tra quy tắc đô thị quận và công an phường ra quân kiểm tra xử lý trên các tuyến đường trên địa bàn phường và tập trung tại các chợ (Chợ Hòa Cường và chợ Nguyễn Tri Phương), các trường học, bảo đảm trật tự. Tổ chức ra quân, xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm hoặc tái vi phạm trong xây dựng sửa chữa nhà ở, lấn chiếm vỉa hè làm nơi kinh doanh buôn bán trái phép.  Phối hợp với các lực lượng trong công tác kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm trật tự xây dựng theo Nghị định số 139/NĐ-CP của Chính phủ và đảm bảo trật tự an toàn cho các đoàn khách du lịch đến tham quan, dự các sự kiện chính trị cuả thành phố trên địa bàn, do đó công tác quản lý trong lĩnh vực xây dựng và đô thị có những chuyển biến tích cực.

UBND phường đã phối hợp cùng UBMTTQVN phường ban hành Kế hoạch liên tịch số 02/KHLT-UBND-UBMT ngày 15 tháng 03 năm 2017 của UBND, UBMTTQVN phường Hòa Cường Bắc về việc triển khai thực hiện Đề án đường thoát hiểm. Mục đích chính là để nâng cao nhận thức, ý thức tự giác của các tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành các quy định về đảm bảo trật tự đô thị và phòng chống cháy nổ v..v. trên địa bàn phường. Đồng thời tăng cường kiểm tra, xử lý tình trạng nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Đã tổ chức lực lượng tháo dỡ các vật dụng, làm thông thoáng 37 đường thoát hiểm trên địa bàn phường.      

Trong thời gian qua bộ mặt của phường cũng đã khởi sắc, ngoài việc thành phố, quận đầu tư, nâng cấp các tuyến đường lớn, một số công trình có quy mô đầu tư hiện đại, đẹp thì địa phương cũng đã thực hiện hơn 38 công trình với tổng kinh phí trên 897 triệu đồng.

VĂN HOÁ, XÃ HỘI

Văn hóa – Thể thao

Phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao đóng một vai trò trung tâm trong việc xây dựng nếp sống văn hóa – văn minh đô thị, văn hóa chính là gốc để xây dựng một xã hội tiến bộ, nhận thức được tầm quan trọng của văn hóa – thể thao, lĩnh vực văn hóa thể thao được đẩy mạnh, từ công tác tuyên truyền vận động đến các nhiều hoạt động sôi nổi, cụ thể từ cơ quan UBND phường đến các khu dân cư và được duy trì thường xuyên và luôn được chú trọng đầu tư xây dựng, tập luyện chương trình để tham gia hội thi, hội diễn các cấp và tổ chức công diễn phục vụ nhân dân trong các dịp dễ tết, kỷ niệm các ngày lễ lớn và các sự kiện chính trị của đất nước, của địa phương. Nổi bật nhất trong lĩnh vực văn hóa đó chính là không khí phấn đầu xây dựng gia đình văn hóa, tổ dân phố văn hóa trong khu dân cư, mỗi cá nhân, mỗi hộ gia đình đều có ý thức xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh đô thị, xứng đáng với danh hiệu gia đình văn hóa, tổ dân phố văn hóa trong năm. Một số kết quả như sau: Trang trí cổ động trực quan chào mừng kỷ niệm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, ngày Thành lập Công an nhân dân,  ngày Quốc Khánh 2/9 và chào mừng Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng; bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021; tham gia lễ hội đình làng Hải Châu năm 2016-2020  đạt nhiều kết quả cao.

Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “xây dựng nếp sống văn hóa văn minh đô thị”, phong trào xây dựng “đoạn đường an toàn văn minh”, “Tổ dân phố không rác” được triển khai nhân rộng trên toàn địa bàn phường góp phần làm chuyển biến tích cực trong quá trình xây dựng các mô hình theo chủ trương của quận và thành phố. Bình quân hằng năm có 92% hộ gia đình đạt danh hiệu Văn hóa, trên 85% tổ dân phố đạt danh hiệu Văn hóa. Việc xây dựng “Gia đình văn hóa”,“Tổ dân phố văn hóa” tiếp tục đạt được một số kết quả thiết thực, có tác động tích cực đến tình hình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đời sống của các tầng lớp nhân dân địa phương.

Về Giáo dục

Phong trào thi đua trong sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo được phát triển mạnh mẽ, triển khai một cách toàn diện và được tổ chức chặt chẽ tiêu biểu là các phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt”, xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, “nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”…đã đưa chất lượng giáo dục của các trường ngày càng được nâng cao toàn diện. thực hiện cuộc vận động “Dân chủ – kỷ cương – tình thương – trách nhiệm” do ngành giáo dục phát động, các trường học trên địa bàn phường luôn đổi mới phương pháp dạy và học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, tăng cường nề nếp, kỷ cương kỷ luật trong nhà trường. Chú trọng đến tình trạng học sinh bỏ học và học lực yếu, tăng cường phụ đạo học sinh yếu kém, quan tâm bồi dưỡng học sinh giỏi, nên trong năm học số lượng học sinh giỏi được duy trì và hạn chế học sinh yếu kém. Các trường trên địa bàn phường tiếp tục duy trì đạt chuẩn quốc gia và tiếp tục được đề nghị danh hiệu trường tiên tiến xuất sắc cấp thành phố, quận.

Trong giai đoạn từ năm 2016-2020 , tại trường mầm non Hoa Ban, tiểu học Núi Thành, tiểu học Phan Đăng Lưu, THCS Tây Sơn không có học sinh bỏ học, tỷ lệ ra lớp đạt 100%. Trường THCS Tây Sơn có tỷ lệ học sinh tốt nghiệp luôn đạt trên 99%. Đội tuyển học sinh giỏi của trường luôn nằm ở vị trí dẫn đầu của Quận Hải Châu.

Các trường tiểu học có 100% học sinh lớp 5 được công nhận hoàn thành chương trình bậc tiểu học, nhiều học sinh đạt kết quả xuất sắc tại các kỳ thi, hội thi do thành phố tổ chức… công tác quan tâm, giúp đỡ học sinh nghèo luôn được chú trọng, tổ chức tiếp sức đến trường cho các em học sinh nghèo có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trở thành học sinh giỏi xuất sắc.

Trường Mầm non Hoa Ban luôn chú trọng đến nhiều biện pháp nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ thông qua các chuyên đề giáo dục an toàn giao thông, kỹ năng sống, phát triển thể chất, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ tài nguyên môi trường… 

Về công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, triển khai Đề án 281 về triển khai thí điểm về mô hình “Gia đình học tập”, “Dòng họ học tập”, “Công đồng học tập”, cộng đồng học tập cấp tổ dân phố. Đảng ủy, Ủy ban mặt trận và các hội đoàn thể Hội phụ nữ, khuyến học, chữ thập đỏ, từ thiện đã vận động các tổ chức, cá nhân, nhà hảo tâm trên địa bàn phường tổ chức “tiếp sức đến trường” tặng cho các em hộ thoát nghèo, khó khăn trên địa bàn phường.

Công tác Lao động – Thương binh – Xã hội

Công tác Giảm nghèo

Công tác chăm lo cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ khó khăn luôn được cả hệ thống chính trị phường chú trọng, được sự quan tâm của các cấp, các ngành và sự nỗ lực của nhân dân và cán bộ trong phường bằng các hoạt động như giải quyết cho vay vốn ngân hàng, hỗ trợ các phương tiện sinh kế, vốn làm ăn, xây dựng và sửa chữa nhà ở, hỗ trợ các cháu trong học tập, cấp thẻ BHYT cho người nghèo. Từ những hoạt động thiết thực đó góp phần cho địa phương giảm hộ nghèo từ 326 hộ xuống đến cuối năm 2017 còn 139 hộ nghèo, năm 2018 phường không còn hộ nghèo theo chuẩn cũ, năm 2020 hỗ trợ thoát nghèo cho 52 hộ nghèo theo chuẩn mới, hoàn thành tốt Nghị quyết Đảng uỷ và nhiệm vụ trọng tâm quận giao cho  phường.

Cuộc vận động “Vì người nghèo” được các tầng lớp nhân dân tham gia  hưởng ứng tích cực qua đó hỗ trợ xây dựng 24 nhà, sửa chữa 53 nhà, hỗ trợ sinh kế 57 hộ, học bổng cho 436 lượt con em hộ nghèo, hỗ trợ ốm đau, khó khăn đột xuất cho 527 lượt hộ… với tổng số tiền trên 2,6 tỷ đồng. 

Công tác giảm nghèo và an sinh xã hội, chính sách bảo trợ xã hội đối với người nghèo, người cao tuổi và trẻ em dưới 6 tuổi được quan tâm đúng mức, các hội đoàn thể có nhiều đóng góp, trong đó UBND phường phối hợp Hội Người cao tuổi tổ chức tốt công tác mừng thọ theo quy định, thăm đau viếng tử, vận động hàng trăm triệu đồng vào quỹ chăm sóc Người cao tuổi, vận động Quỹ “Vì người nghèo” đạt kết quả cao.

Tinh thần Chỉ thị 24/CT-TU ngày 10 tháng 8 năm 2009 của Ban thường vụ Thành ủy luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, thực hiện Nghị quyết của Đảng ủy phường đề ra về “Công tác giảm nghèo, giúp đỡ học sinh bỏ học và thiếu niên hư vi phạm pháp luật trên địa bàn phường giai đoạn”, UBND phường phối hợp với UBMT và các hội đoàn thể phường có kế hoạch giúp đỡ các hộ nghèo, tạo việc làm có thu nhập ổn định cuộc sống, không để học sinh bỏ học vì  hoàn cảnh gia đình khó khăn.

Y tế, Dân số, Gia đình, Trẻ em

Trạm y tế tham mưu cho UBND phường trong công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, y tế cộng đồng, vệ sinh phòng bệnh được đẩy mạnh, quản lý các bệnh xã hội, thực hiện chương trình y tế quốc gia, tiêm chủng mở rộng, chăm sóc bà mẹ mang thai tốt; công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình thực hiện đạt chỉ tiêu kế hoạch trên giao. Từ 2016 đến nay trạm đã lập hồ sơ theo dõi chăm sóc sức khỏe người cao tuổi và định kỳ mỗi năm khám tầm soát 2 lần.

Duy trì hoạt động của đội ngũ Cộng tác viên dân số và chăm sóc sức khỏe cộng đồng tại khu dân cư. Phối hợp đội Y tế dự phòng thực hiện tốt công tác phun thuốc phòng chống dịch bệnh Covid-19 đồng thời chỉ đạo Tổ trưởng các tổ dân phố tuyên truyền vận động nhân dân duy trì ra quân dọn vệ sinh, vào các sáng chủ nhật hằng tuần để đảm bảo vệ sinh môi trường không để phát sinh ổ dịch SXH cũng như làm tốt công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Tổ chức xét nghiệm cộng đồng trên diện rộng để kịp thời phát hiện và kiểm soát đại dịch Covid-19.

QUỐC PHÒNG – AN NINH

Tổ chức thực hiện nghiêm túc việc tuần tra theo quyết định 8394 của Ủy ban nhân dân thành phố phòng chống trộm cắp, đảm bảo ANTT. Qua đó, nhắc nhở nhân dân trong việc trông coi tài sản, các trường hợp ngủ quên không đóng cửa, ngăn chặn kịp thời các vụ mâu thẫn gia đình, các nhóm thanh niên tụ tập khuya dễ gây mất ANTT.

Tiếp tục thực hiện tốt chương trình “Thành phố 4 An”. Công an phường thực hiện tốt nhiệm vụ phối hợp với tổ trưởng tổ dân phố, lực lượng nòng cốt tại cơ sở trong việc theo dõi, quản lý nhân hộ khẩu; quản lý địa bàn, quản lý đối tượng gắn với việc thực hiện Chỉ thị số: 21-CT/TU ngày 30/10/2012 của Thành ủy Đà Nẵng. Lồng ghép tuyên truyền vận động nhân dân tích cực tham gia đấu tranh, tố giác tội phạm và nâng cao ý thức tự bảo quản tài sản của mình.

XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN, CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

Năm 2016, Hội đồng nhân dân được bầu với 29 đại biểu theo đúng quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, HĐND, các ban HĐND và các đại biểu HĐND phường đảm bảo thực hiện theo đúng quy định của pháp luật thực hiện tốt các chương trình, kế hoạch giám sát của từng năm, nội dung giám sát có trọng tâm, trọng điểm gắn với thực tế hoạt động tại UBND phường. Công tác tiếp công dân của thường trực, các ban của HĐND và đại biểu HĐND được thực hiện thường xuyên. Sự phối hợp giữa thường trực HĐND, UBND, UBMTTQVN phường với các Ban, Tổ đại biểu, Đại biểu HĐND phường được chú trọng thực hiện góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND phường. Đến nay HĐND phường tổ chức 14 kỳ họp, thường trực HĐND phường thường xuyên tổ chức các cuộc giám sát chuyên đề, bao gồm các vấn đề kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng tại địa phương. Tổ chức các buổi tiếp xúc cử tri báo cáo kết quả sau các kỳ họp của HĐND phường, tại các buổi tiếp xúc, các vị đại biểu đã ghi nhận, tiếp thu, giải trình các ý kiến, kiến nghị của cử tri, đồng thời phản ánh các kiến nghị lên cấp có thẩm quyền giải quyết kịp thời cho nhân dân.

Thực hiện tốt công tác xây dựng, ban hành, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn phường. Từng bước nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý đến cơ sở cho người dân. Lồng ghép các cuộc họp của Tổ dân phố để tổ chức tuyên truyền Luật giao thông đường bộ, đưa tiêu chí vi phạm Luật giao thông đường bộ vào bình xét “Gia đình văn hóa” cuối năm. Tuyên truyền về các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa văn minh đô thị bằng hình thức phát tờ rơi đến từng hộ gia đình.

Xác định công tác cải cách hành chính là một nhiệm vụ trọng tâm nên được phường chú trọng, quán triệt trong toàn thể cán bộ, công chức 100% hưởng ứng tham gia đăng ký cam kết thực hiện thực hiện Chỉ thị 29/CT-TU của Ban thường vụ Thành ủy với nội dung “5 xây – 3 chống”, Chỉ thị 03 của Chủ tịch UBND thành phố và cam kết thực hiện để nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức tại các cơ quan, đơn vị tại thành phố Đà Nẵng. Tiếp tục mô hình khai tử tận nhà khi gia đình có người thân qua đời, thực hiện đề án trao giấy khai sinh, thẻ BHYT, hộ khẩu tại gia đình trẻ em trên địa bàn phường theo chủ trương của UBND thành phố khi gia đình có thành viên mới ra đời. Tiếp tục tuyên truyền sâu rộng về dịch vụ công trực tuyến đến toàn dân, UBND phường đã triển khai thực hiện xây dựng “phường điện tử” đạt chuẩn mức độ 1, tổ chức tuyên truyền qua trang thông tin điện tử của phường chúng tôi qua hình thức phát tờ rơi, tuyên truyền tại Hội nghị giao ban tổ dân phố, khu dân cư. Cho đến nay, chưa có đơn thư tố cáo, khiếu nại cán bộ công chức thuộc Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả về tiếp nhận giải quyết công việc ở phường. Thực hiện nghiêm nguyên tắc công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan; phổ biến và niêm yết công khai quy chế, quy trình và các thủ tục hành chính tại trụ sở để nhân dân biết và giám sát các hoạt động của chính quyền.

Tổ chức kê khai và công khai về tài sản và thu nhập đối với các trường hợp cán bộ công chức thuộc diện phải kê khai và công khai về tài sản và thu nhập theo Nghị định 68/2011/NÐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ.

Chỉ đạo các Tổ dân phố tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị 21-CT/TU ngày 30/10/2012 của Ban thường vụ Thành ủy về “Tập trung lãnh đạo nâng cao chất lượng hoạt động của tổ dân phố,thôn trên địa bàn thành phố”. Triển khai đăng ký công dân điện tử đến các hộ dân đến nay hoàn thành 100%, áp dụng tiêu chuẩn ISO-2008 trong giải quyết thủ tục cải cách hành chính.Tổ chức Hội nghị Hướng dẫn và triển khai công tác nhân sự, Bầu cử Tổ trưởng, tổ phó TDP nhiệm kỳ 2017-2020, 2020-2022.

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Xã Hội Với Bảo Đảm Quốc Phòng, An Ninh Và Hội Nhập Quốc Tế Trong Tình Hình Mới / 2023

CNQP&KT – Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh (QP-AN) là quan điểm nhất quán của Đảng ta. Trong tình hình hiện nay, ngoài phát triển KT-XH gắn với bảo đảm QP-AN, chúng ta còn cần phải chú trọng đẩy mạnh công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế nhằm tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài để phát triển đất nước.

Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH 5 năm 2016-2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển KT-XH 5 năm 2021-2025, Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIII của Đảng có nêu: Tiềm lực QP-AN ngày càng được nâng cao, an ninh chính trị được giữ vững… Đã kiên quyết, kiên trì thực hiện, đấu tranh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Hội nhập quốc tế và ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển có những bước tiến quan trọng về chủ trương, chính sách cũng như triển khai trong thực tiễn, cùng với QP-AN đã củng cố môi trường hòa bình, ổn định, góp phần quan trọng vào phát triển KT-XH của đất nước, nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế.

Dự thảo Báo cáo Chính trị cũng thẳng thắn nhìn nhận, phân tích làm rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan và bài học kinh nghiệm của những hạn chế đối với tình hình phát triển KT-XH. Trên cơ sở đó đề ra phương hướng, nhiệm vụ kết hợp phát triển KT-XH với bảo đảm QP-AN trong 5 năm tới, đó là: “Tổ chức triển khai đồng bộ, thống nhất việc xây dựng, phát triển KT-XH gắn với xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và thế trận lòng dân vững mạnh… Điều chỉnh, bổ sung và nâng cao hiệu quả các khu kinh tế – quốc phòng ở các địa bàn chiến lược, biên giới, biển, đảo. Tiếp tục xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng (CNQP), an ninh theo hướng lưỡng dụng, ngày càng hiện đại, có trình độ khoa học, công nghệ cao. Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, tạo môi trường hòa bình và điều kiện thuận lợi để phát triển đất nước”.

Các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam chú trọng đầu tư nhiều thiết bị hiện đại phục vụ sản xuất.   Ảnh: CTV

Để thực hiện thắng lợi các nội dung nêu trên, thiết nghĩ chúng ta phải triển khai thực hiện đồng bộ nhiều nhiệm vụ và giải pháp, trong đó cần quan tâm, chú trọng một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý nhà nước của chính quyền các cấp. Cùng với đó, nâng cao nhận thức về sự kết hợp này thông qua việc tiếp tục bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kinh nghiệm kết hợp phát triển KT-XH với tăng cường củng cố QP-AN và công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế cho các đối tượng; phổ cập kiến thức QP-AN cho toàn dân, trước hết cần tập trung vào đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp, các bộ, ngành, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, cơ sở.

Phát triển CNQP trong tổng thể kết hợp phát triển KT-XH với tăng cường củng cố QP-AN và đối ngoại, hội nhập quốc tế là đòi hỏi cấp thiết nhằm tạo thế và lực đủ mạnh để phát triển kinh tế, bảo đảm QP-AN.

Hai là, xây dựng chiến lược tổng thể kết hợp phát triển KT-XH với tăng cường củng cố QP-AN trong thời kỳ mới là một trong những giải pháp hết sức quan trọng. Cần tiếp tục xây dựng và hoàn chỉnh các quy hoạch, chiến lược tổng thể quốc gia về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố QP-AN; trong đó, phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành, địa phương từ khâu khảo sát, đánh giá các nguồn lực, cả bên trong và bên ngoài. Từ đó xác định mục tiêu, phương hướng phát triển và đề ra các chính sách đúng đắn, như: chính sách khai thác các nguồn lực; phân bổ đầu tư; điều động nhân lực, bố trí dân cư; chính sách ưu đãi khoa học và công nghệ lưỡng dụng, v.v.

Bốn là, cần nghiên cứu củng cố, kiện toàn và phát huy vai trò tham mưu của cơ quan chuyên trách QP-AN các cấp trong quản lý nhà nước về QP-AN nói chung và về kết hợp phát triển KT-XH gắn với tăng cường, củng cố QP-AN nói riêng. Kết hợp chặt chẽ giữa củng cố, kiện toàn tổ chức với chăm lo bồi dưỡng nâng cao năng lực và trách nhiệm của các cơ quan, cán bộ chuyên trách tham mưu cho Đảng, Nhà nước về thực hiện kết hợp phát triển KT-XH gắn với tăng cường củng cố QP-AN và hội nhập quốc tế ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới.

“Phát triển CNQP, an ninh theo hướng lưỡng dụng, thực sự trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia; tăng cường tiềm lực, tận dụng và phát triển liên kết CNQP, an ninh và công nghiệp dân sinh”.

(Nguồn: Nghị quyết số 23 của Bộ Chính trị)

Đối với việc phát triển công nghiệp, bao gồm cả CNQP trong tổng thể kết hợp phát triển KT-XH với tăng cường củng cố QP-AN và đối ngoại, hội nhập quốc tế là một trong những nội dung chính của việc kết hợp, là đòi hỏi cấp thiết và rất quan trọng nhằm tạo ra thế và lực đủ mạnh để phát triển kinh tế, bảo đảm QP-AN đất nước. Chúng ta phải xây dựng và thực hiện tốt quy hoạch đối với CNQP để bảo đảm bố trí các cơ sở CNQP phù hợp trên các vùng, miền chiến lược, vừa đóng góp phát triển KT-XH địa phương, vừa bảo đảm tại chỗ nhu cầu vũ khí, trang bị kỹ thuật cho cả thời bình và thời chiến.

Nghị quyết số 06 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển CNQP đến năm 2020 và những năm tiếp theo, đã đề ra giải pháp là các bộ, ngành và địa phương kết hợp chiến lược xây dựng, phát triển của từng ngành và địa phương với nhiệm vụ xây dựng, phát triển CNQP. Chú trọng phát triển các ngành công nghiệp then chốt của quốc gia để tham gia sâu, thiết thực hơn vào hoạt động CNQP, vừa đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế, vừa có thể sản xuất ra một số sản phẩm kỹ thuật công nghệ cao phục vụ QP-AN. Việc phát triển công nghiệp quốc gia được định hướng, mỗi nhà máy, xí nghiệp vừa có thể sản xuất hàng dân dụng, vừa có thể sản xuất phục vụ quốc phòng; kết hợp đầu tư nghiên cứu, sáng chế, chế tạo, sản xuất các sản phẩm có tính lưỡng dụng cao trong các cơ sở công nghiệp. Nghị quyết số 23 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn năm 2045 cũng đã nêu: “Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng lưỡng dụng, thực sự trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia; tăng cường tiềm lực, tận dụng và phát triển liên kết công nghiệp quốc phòng, an ninh và công nghiệp dân sinh”. Theo đó, từ nay đến năm 2025, ngành CNQP cần tập trung xây dựng một số nhà máy mũi nhọn, có thể tham gia nghiên cứu, chế tạo và sản xuất một số loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, công nghệ cao đáp ứng trang bị cho lực lượng vũ trang, trong đó tập trung vào một số ngành, như: luyện kim, cơ khí chế tạo, điện tử, công nghệ thông tin… tạo sự lan tỏa, tiền đề chuyển giao công nghệ cho công nghiệp dân sinh. Thực hiện chuyển giao công nghệ hai chiều, từ CNQP vào công nghiệp dân dụng và ngược lại; kịp thời ứng dụng các công nghệ được đầu tư sản xuất quốc phòng để sản xuất các mặt hàng dân sinh phục vụ trong nước và xuất khẩu.

Hội nhập quốc tế trong phát triển công nghiệp nói chung và CNQP nói riêng hết sức quan trọng. Do đó, cần mở rộng liên doanh, liên kết với công nghiệp của các nước tiên tiến trên thế giới; ưu tiên những ngành, lĩnh vực có tính lưỡng dụng cao. Để làm được điều này, cần tăng cường xúc tiến thương mại, tìm hiểu công nghệ và tìm kiếm cơ hội hợp tác với các đối tác nước ngoài. Nghiên cứu luật pháp các nước đối với việc chuyển giao công nghệ quân sự để quá trình hợp tác được thuận lợi. Đồng thời, phải xác định rõ năng lực, nhu cầu của công nghiệp và CNQP trong nước; tìm hiểu năng lực công nghiệp của các nước, từ đó đề xuất lĩnh vực hợp tác phù hợp để các doanh nghiệp nước ta tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu, cũng như việc hợp tác, trao đổi nghiên cứu khoa học, đào tạo. Bên cạnh các vấn đề nêu trên, kết hợp phát triển KT-XH với bảo đảm QP-AN phải xây dựng kế hoạch động viên công nghiệp quốc gia phục vụ thời chiến; thực hiện dự trữ chiến lược các nguyên, nhiên, vật liệu quý hiếm cho sản xuất quân sự. Mặt khác, vấn đề về quân sự, quốc phòng trong các đơn vị công nghiệp cũng cần được quan tâm đúng mức, phải phát triển lực lượng tự vệ để bảo vệ các nhà máy, xí nghiệp trong cả thời bình và thời chiến.

Trong tình hình hiện nay, cũng phải phát huy tinh thần tự lực, tự cường và tranh thủ điều kiện quốc tế để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho đất nước, bảo đảm ngày càng tốt hơn cho việc củng cố quốc phòng vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là nhiệm vụ của toàn dân, toàn quân, của mọi cấp, mọi ngành, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước.

Đối với ngành CNQP, cần chuẩn bị thật tốt để tổng kết thực hiện Pháp lệnh Công nghiệp quốc phòng và 10 năm thực hiện Nghị quyết số 06 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển CNQP (2011-2021), từ đó tham mưu với Đảng, Nhà nước, Quốc hội các nội dung tiếp theo, đẩy mạnh phát triển CNQP đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Thời gian tới, để góp phần phát huy được tốt nhất sức mạnh kết hợp phát triển KT-XH với bảo đảm QP-AN và công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng cần báo cáo Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ quan tâm, có cơ chế đặc thù, huy động và tập trung nguồn lực xây dựng CNQP theo hướng tự chủ, tự cường, hiện đại và lưỡng dụng, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, để thực hiện mục tiêu được xác định trong Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự Việt Nam, Nghị quyết về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn năm 2045.

Thiếu tướng, TS.  HỒ QUANG TUẤN

Phó Chủ nhiệm, Tham mưu trưởng Tổng cục Công nghiệp quốc phòng

Hoàn Thiện Xây Dựng Pháp Luật Kinh Tế Trong Bối Cảnh Việt Nam Tăng Cường Hội Nhập Quốc Tế / 2023

Qua việc đánh giá lại những điểm nổi bật trong công tác xây dựng pháp luật kinh tế trong thời gian qua, tác giả đưa ra một số đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác xây dựng pháp luật kinh tế trong tình hình mới khi đất nước đang ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu.

Một số kết quả về xây dựng pháp luật kinh tế

Nhìn lại hoạt động xây dựng pháp luật kinh tế của nước ta sau hơn 30 năm đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, có thể thấy những thành tựu đã đạt được trong lĩnh vực này như sau:

Thứ nhất, hệ thống pháp luật, chính sách kinh tế đã được xây dựng tương đối đồng bộ, cơ bản phù hợp với cơ chế thị trường và đáp ứng được ở mức độ nhất định yêu cầu, đòi hỏi của sự phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII tại Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm (2011-2015) và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm (2016-2020) đã khẳng định: “Hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện, đáp ứng tốt hơn quá trình phát triển và hội nhập quốc tế.

Đã ban hành và triển khai thực hiện Hiến pháp năm 2013. Theo đó, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) được xác định cụ thể hơn, từng bước thực thi có hiệu quả và tạo được sự đồng thuận trong xã hội”.

Thứ hai, đã hình thành một hệ thống pháp luật kinh tế tương đối đầy đủ để điều chỉnh các vấn đề phát sinh từ thực tiễn hoạt động của nền kinh tế. Cụ thể, đã ghi nhận đầy đủ các loại chủ thể tham gia quan hệ thị trường, bao gồm doanh nghiệp (DN) tư nhân, công ty TNHH một thành viên, công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh và hợp tác xã với tư cách là những chủ thể chủ yếu đang hoạt động trong nền kinh tế thị trường.

Các loại chủ thể này được quy định chủ yếu trong Luật DN (2014) và Luật Hợp tác xã (2012). Bên cạnh đó, điều chỉnh các quan hệ hàng hóa – tiền tệ (quan hệ hợp đồng) phát sinh trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện và tự chịu trách nhiệm (pháp luật về hợp đồng), trong đó, việc điều chỉnh các quan hệ thị trường thuộc về Bộ luật Dân sự (1995 và 2005).

Các quan hệ thị trường phát sinh trong các lĩnh vực kinh doanh chuyên ngành cũng đã được các luật chuyên ngành quy định một cách cụ thể như Luật Các tổ chức tín dụng (2010), Luật Kinh doanh bất động sản (2014), Luật Kinh doanh bảo hiểm (2014), Luật Xây dựng (2014), Luật Nhà ở (2014)…

Việc giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng đã được quan tâm, thể hiện ở việc ban hành Bộ luật Tố tụng Dân sự (2004), tạo cơ sở pháp lý để tòa án giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể kinh doanh và Luật Trọng tài thương mại giúp trọng tài thương mại (tổ chức phi nhà nước) thực hiện chức năng giải quyết tranh chấp thương mại trên cơ sở những nguyên tắc có nhiều điểm khác biệt với Tòa án để đáp ứng nhu cầu được tự do lựa chọn các hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh của DN.

Thứ ba, pháp luật kinh tế đã tạo ra mặt bằng pháp lý chung cho các loại hình DN, đảm bảo sự bình đẳng về pháp lý trong kinh doanh của các DN thuộc các thành phần kinh tế, giữa DN trong nước với DN có vốn đầu tư nước ngoài đã được Nhà nước cụ thể hóa bằng việc ban hành Luật Đầu tư năm 2014, Luật DN năm 2014 áp dụng chung cho các DN thuộc mọi thành phần kinh tế. Với việc tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý tiệm cận với chuẩn mực quốc tế, môi trường đầu tư, kinh doanh của nước ta được cải thiện, cạnh tranh minh bạch, bình đẳng hơn giữa các thành phần kinh tế, các loại hình DN, góp phần huy động, phân bổ và sử dụng ngày càng hiệu quả các nguồn lực trong, ngoài nước cho phát triển kinh tế – xã hội. Vai trò kinh tế ngoài nhà nước (không kể đầu tư nước ngoài) ngày càng được phát huy, đóng góp 38,5% tổng đầu tư toàn xã hội và 48,3% GDP…

Các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương ban hành đã được đăng tải thường xuyên trong Công báo của Trung ương và địa phương cũng như trên cổng, trang thông tin điện tử. Các luật về thủ tục hành chính, thủ tục pháp lý và thủ tục tố tụng đã được ban hành và thường xuyên sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn, tạo cơ sở cho sự phát triển của hệ thống tài phán ở nước ta…

Thứ năm, hiện nay, Việt Nam đã tham gia và cam kết thực hiện nhiều quy định luật pháp quốc tế cũng như hoàn thiện, bổ sung hệ thống pháp luật phù hợp với cam kết hội nhập. Trong lĩnh vực kinh tế, Việt Nam đã hội nhập ở các cấp độ và hình thức khác nhau như tham gia các thỏa thuận thương mại ưu đãi, các hiệp định thương mại tự do, các liên minh thuế quan, tham gia thị trường chung và tham gia liên minh kinh tế, tiền tệ…

Việc ký kết nhiều, hiệp định song phương và đa phương về thương mại, đầu tư, tránh đánh thuế hai lần, đặc biệt là việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới đã tạo cơ sở pháp lý và tiền đề, điều kiện quan trọng về thể chế để nền kinh tế nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng và toàn diện vào nền kinh tế quốc tế; để pháp luật trong nước phù hợp và tương thích với pháp luật quốc tế; đồng thời, đảm bảo tính quốc tế của sự phát triển kinh tế thị trường của Việt Nam.

Qua đó cho thấy, sự nỗ lực của các bộ, ngành như: Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước… trong việc chủ động hoàn thiện, sửa đổi bổ sung trình Chính phủ trình Quốc hội sửa đổi và ban hành nhiều văn bản pháp luật phù hợp với xu thế hội nhập và cam kết quốc tế.

Bên cạnh những thành tựu, pháp luật kinh tế đạt được trong 30 năm qua cũng còn một số tồn tại, hạn chế như: Công tác thể chế hóa và ban hành chính sách, pháp luật cụ thể hóa đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng nói chung và cụ thể hóa, hướng dẫn thực thi pháp luật kinh tế nói riêng vẫn còn chậm; Thể chế kinh tế thị trường chưa thật đồng bộ, thông suốt; Chất lượng hệ thống chính sách và pháp luật kinh tế chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của Nhà nước pháp quyền…

Đề xuất, kiến nghị

Theo các chuyên gia kinh tế, yêu cầu tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và đổi mới, phát triển kinh tế thị trường trong bối cảnh hội nhập quốc tế đã đặt ra những vấn đề lý luận và thực tiễn cần giải quyết trong quá trình hoàn thiện pháp luật kinh tế. Thời gian tới, nhằm hoàn thiện xây dựng pháp luật kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế, cần chú trọng một số nội dung sau:

Thứ nhất, tiếp tục thể chế hóa quan điểm về định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường vào thể chế, chính sách pháp luật nhà nước. Cùng với đó, giải quyết hài hòa giữa vai trò điều tiết của Nhà nước trong đảm bảo tính định hướng XHCN với sự vận động theo quy luật kinh tế khách quan của thị trường.

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII xác định: “Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; Có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; Các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường.

Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; Sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; Thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế – xã hội”.

Thứ hai, tiếp tục cải cách và đổi mới thể chế để tạo động lực phát triển, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN theo các tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế. Trong thời gian tới, cần thúc đẩy những yếu tố có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn của sản xuất như: Sáng tạo, tri thức, khoa học và công nghệ, quản lý tiên tiến…

Việc cải cách thể chế pháp lý đáp ứng yêu cầu về nâng cao năng lực cạnh tranh và quản trị quốc gia, cũng như năng lực cạnh tranh của DN nhà nước với các DN thuộc các thành phần kinh tế khác, giữa DN trong nước với DN có vốn đầu tư nước ngoài, giữa DN trong nước với DN nước ngoài; Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính và năng lực tạo dựng thể chế để bảo đảm cho DN, người dân tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng trong kinh tế thị trường…

Thứ ba, khẩn trương khắc phục những yếu điểm trong công tác xây dựng pháp luật kinh tế tồn tại trong nhiều năm qua như: Ban hành hướng dẫn thi hành pháp luật kinh tế vẫn còn chậm; Hạn chế tình trạng sửa đổi, bổ sung luật quá nhiều lần hoặc một nội dung mà quá nhiều luật điều chỉnh, khiến DN khó nắm bắt và áp dụng; Nâng cao chất lượng ban hành chính sách pháp luật kinh tế đáp ứng được yêu cầu quản lý của Nhà nước pháp quyền…

Thứ tư, nâng cao vai trò của Nhà nước trong điều hành chính sách vĩ mô và phối hợp giải quyết các vấn đề quốc tế. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, để đảm bảo đổi mới thành công, cần phải có một Nhà nước mạnh, được tổ chức hợp lý, thực hành dân chủ, có khả năng huy động và quản lý mọi nguồn lực.

Nước ta hiện đang đứng trước những thách thức rất lớn của yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; Khắc phục mặt trái của kinh tế thị trường; Phát triển kinh tế đi đôi với đảm bảo công bằng xã hội. Do vậy, cùng với việc tăng cường ban hành luật, cần phải tiếp tục xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, tinh thông về nghiệp vụ để bảo đảm cho pháp luật được thực thi một cách nghiêm túc.

Thứ năm, nâng cao chất lượng công tác dự báo, nghiên cứu lý luận phục vụ việc xây dựng và hoạch định chính sách và pháp luật đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Hạn chế tình trạng nhiều quy định trong hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách và quản lý, điều hành chưa tuân thủ đầy đủ quy luật của kinh tế thị trường, nhất là trong phân bổ nguồn lực, quản lý giá hàng hóa, dịch vụ công thiết yếu và chưa bảo đảm cạnh tranh bình đẳng…

Thứ sáu, trong hoạt động xây dựng pháp luật, đặc biệt là pháp luật kinh tế, cần nghiên cứu, tiếp thu các quy định trong pháp luật của các nước, vì những vấn đề mà Việt Nam đang tiếp cận đã từng được cộng đồng quốc tế nghiên cứu, giải quyết bằng pháp luật một cách thỏa đáng và khoa học. Việc tiếp thu các quy định này một mặt giúp chúng ta không tốn thời gian và công sức, mặt khác góp phần làm cho pháp luật Việt Nam trở nên tương thích hơn với pháp luật của các nước trên thế giới.

Thứ bảy, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật. Thông qua việc tập huấn, đào tạo lại hoặc mở rộng hợp tác với các đối tác quốc tế để gửi đi đào tạo.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 97;

Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm (2011 – 2015) và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm (2016-2020);

Nguyễn Đức Minh, Thực trạng xây dựng pháp luật kinh tế và những vấn đề đặt ra trong quá trình hoàn thiện;

Dương Đăng Huệ (2017), Tiếp tục hoàn thiện pháp luật kinh tế, góp phần xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta;

Đào Hồng Minh, Một số vấn đề lý luận về xây dựng pháp luật và quản lý nhà nước đối với công tác xây dựng pháp luật, Trang Thông tin điện tử xây dựng pháp luật.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Chủ Động Và Tích Cực Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Trong Giai Đoạn Mới / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!