Đề Xuất 1/2023 # Chợ Lách Thăm, Chúc Mừng Ban Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Huyện Nhân Lễ Phật Đản Năm 2022 # Top 2 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 1/2023 # Chợ Lách Thăm, Chúc Mừng Ban Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Huyện Nhân Lễ Phật Đản Năm 2022 # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Chợ Lách Thăm, Chúc Mừng Ban Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Huyện Nhân Lễ Phật Đản Năm 2022 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nhân lễ Phật Đản năm 2020 – Phật lịch 2564, ngày 01/5/2020, đoàn cán bộ huyện Chợ Lách do ông Nguyễn Minh Đức, Phó Chủ tịch UBND huyện làm trưởng đoàn đã đến thăm và chúc mừng Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Chợ Lách

Thay mặt lãnh đạo huyện, ông Nguyễn Minh Đức, Phó Chủ tịch UBND huyện đã ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện nhà đã vận động các vị chức sắc, các cơ sở thờ tự và đồng bào Phật tử trong thời gian qua chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động tại địa phương, nhất là chủ trương xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh. Ông Nguyễn Minh Đức chúc Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện nhà cùng các cơ sở thờ tự và đồng bào phật tử trong huyện đón lễ đản sinh của Đức Phật đầy ý nghĩa, an lạc và hạnh phúc.

Ông Nguyễn Minh Đức (thứ 4 từ phải qua) tặng hoa chúc mừng Ban Trị sự Phật giáo VN huyện

Hòa Thượng Thích Giác Tạng, Chứng minh Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trưởng Ban Trị sự Phật giáo Việt Nam huyện Chợ Lách bày tỏ lời cảm ơn chính quyền địa phương đã quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho cho các tôn giáo trên địa bàn huyện nói chung và hoạt động Phật giáo nói riêng. Đồng thời khẳng định Ban Trị sự huyện cùng với các chức sắc, tăng ni, phật tử sẽ tiếp tục phát huy giáo lý tốt đẹp của Phật giáo, hoàn thành tốt công tác Phật sự ở địa phương và tích cực đóng góp vào sự phát triển chung của huyện nhà.

Toàn Văn Hiến Chương Mới Nhất Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam

H

IẾN CHƯƠNG GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM (sửa đổi lần thứ VI)

LỜI NÓI ĐẦU

Trong hơn hai ngàn năm hiện diện trên đất nước Việt Nam, đồng hành cùng dân tộc, Đạo Phật đã trở thành tôn giáo của dân tộc. Suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa ngày nay, Phật giáo Việt Nam luôn luôn là thành viên tin cậy và vững mạnh trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Nguyện vọng thống nhất Phật giáo Việt Nam đã thực hiện qua các thời kỳ, nhưng chưa được trọn vẹn. Từ năm 1975, Tổ quốc đã thống nhất, cả nước đoàn kết phấnđấu vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, Phật giáo Việt Nam đã có đầy đủ cơ duyên thực hiện nguyện vọng thống nhất trọn vẹn các tổ chức Giáo hội, tổ chức Hội, và các Hệ phái Phật giáo, thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam vào ngày 07/11/1981.

Sự thống nhất Phật giáo Việt Nam được xây dựng trên nguyên tắc: Thống nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chức; đồng thời vẫn tôn trọng và duy trì các truyền thống Hệ phái, cũng như các pháp môn và phương tiện tu hành đúng Chính pháp.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời là sự kết tinh trí tuệ, là nguyện vọng chân chính của Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử các tổ chức Giáo hội, tổ chức Hội, và các Hệ phái Phật giáo trong cả nước, là chủ thể kế thừa lịch sử hàng ngàn năm của Phật giáo Việt Nam.

Lý tưởng giác ngộ chân lý, hòa hợp chúng, hòa bình và công bằng xã hội của giáo lý Đức Phật, nhằm phục vụ Dân tộc, Tổ quốc và nhân loại chúng sinh, là tôn chỉ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam hoạt động theo phương châm “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa Xã hội”, trên cơ sở kính ngưỡng, phụng hành Giáo pháp, Giới luật Phật chế và tuân thủ Pháp luật nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

CHƯƠNG I

DANH XƯNG – HUY HIỆU – ĐẠO KỲ

ĐẠO CA – TRỤ SỞ

Điều 1: Tổ chức Phật giáo Việt Nam cả nước lấy danh xưng là Giáo hội Phật giáo Việt Nam, gọi tắt là “Giáo hội”, viết tắt là “GHPGVN”. Tên tiếng Anh là: “Vietnam Buddhist Sangha”, viết tắt là “VBS”.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập năm 1981 trên cơ sở hợp nhất tự nguyện của 09 tổ chức Giáo hội, tổ chức Hội, và các Hệ phái Phật giáo trong cả nước, có đủ tư cách pháp lý, pháp nhân, đại diện Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước, là thành viên các tổ chức Phật giáo Quốc tế mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam tham gia.

Điều 2: Huy hiệu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam hình tròn, nền xanh lá cây đậm, ở giữa vòng trong có hoa sen màu trắng tám cánh, phía trong có gương sen 08 hạt màu trắng, biểu trưng cho Bát Chánh đạo; vòng ngoài có vòng chữ  “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam” màu trắng.

Điều 3: Đạo kỳ Giáo hội Phật giáo Việt Nam là cờ 05 màu, được chia thành 06 ô dọc. 05 ô đầu có các màu theo thứ tự: xanh, vàng, đỏ, trắng, vàng cam; ô thứ 06 chia thành 05 ô ngang, có 05 màu theo thứ tự: xanh, vàng, đỏ, trắng, vàng cam, biểu trưng cho 05 pháp: Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ.

Điều 4: Đạo ca Giáo hội Phật giáo Việt Nam là ca khúc “Phật giáo Việt Nam” của nhạc sĩ Lê Cao Phan.

Điều 5: Trụ sở Giáo hội Phật giáo Việt Nam đặt tại Chùa Quán Sứ, số 73 Phố Quán Sứ, quận Hoàn Kiếm, thủ đô Hà Nội.

Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam có 02 Văn phòng:

– Văn phòng Trung ương: Đặt tại chùa Quán Sứ, số 73 Phố Quán Sứ, quận Hoàn Kiếm, thủ đô Hà Nội;

– Văn phòng Thường trực tại Thành phố Hồ Chí Minh: Đặt tại Thiền viện Quảng Đức, số 294 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 3, Tp. Hồ Chí Minh.

CHƯƠNG II:  MỤC ĐÍCH – THÀNH PHẦN

Điều 6: Mục đích của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là hoằng dương Phật pháp, phát triển Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong nước và ở nước ngoài, tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, phục vụ dân tộc, góp phần xây dựng hòa bình, an lạc cho thế giới.

Điều 7: Giáo hội Phật giáo Việt Nam hoạt động theo đúng Giáo pháp, Giáo luật Phật chế và Pháp luật của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Điều 8: Thành phần của Giáo hội Phật giáo Việt Nam bao gồm những thành viên là các tổ chức Giáo hội, Hội, Hệ phái Phật giáo, Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước đã tự nguyện hợp nhất hình thành Giáo hội Phật giáo Việt Nam và chấp nhận bản Hiến chương này.

Điều 9: Thành phần nhân sự tham gia các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam là những Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử có uy tín, năng lực làm việc, đạo hạnh tốt, tiêu biểu cho các thành viên Giáo hội ở các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam, có công đức với Đạo pháp, Dân tộc và trung thành với Tổ quốc.

CHƯƠNG III: NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG VÀ HỆ THỐNG TỔ CHỨC

Điều 10: Giáo hội Phật giáo Việt Nam hoạt động theo nguyên tắc lấy Đạo pháp làm mục tiêu tối cao, Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử làm trung tâm; các thành viên tham gia tự nguyện, đoàn kết, hòa hợp, kính ngưỡng, phụng hành Giáo pháp, Giới luật và tuân thủ Pháp luật Nhà nước.

Giáo hội lãnh đạo trên nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, quyết định theo đa số và thống nhất hành động.

Điều 11: Hệ thống tổ chức của Giáo hội Phật giáo Việt Nam được quy định như sau:

– Cấp Trung ương: Hội đồng Chứng minh và Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

– Cấp Tỉnh, Thành phố: Ban Chứng minh và Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh, thành phố.

– Cấp Quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh: Ban Chứng minh và Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh.

CHƯƠNG IV: HỘI ĐỒNG CHỨNG MINH

Điều 12: Hội đồng Chứng minh của Giáo hội gồm chư vị Hòa thượng tiêu biểu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam; có ít nhất 70 tuổi đời và 50 tuổi đạo; được Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh tiền nhiệm giới thiệu và Đại hội Đại biểu toàn quốc Giáo hội Phật giáo Việt Nam suy tôn.

Điều 13: Chư vị Hòa thượng được suy tôn vào Hội đồng Chứng minh thì không tham gia Hội đồng Trị sự, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt do Ban Thường trực Hội đồng Trị sự đề nghị.

Điều 14: Chư vị Hòa thượng thành viên Hội đồng Chứng minh tại vị trọn đời, ngoại trừ trường hợp đặc biệt mới phải miễn nhiệm, do quyết định của Hội đồng Chứng minh với đa số 2/3 thành viên tại hội nghị biểu quyết tán thành.

Điều 15: Hội đồng Chứng minh là cơ quan lãnh đạo tối cao về Đạo pháp và Giới luật của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Hội đồng Chứng minh suy cử Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh để thực thi các chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng Chứng minh giữa hai kỳ Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc; giám sát và chứng minh các hoạt động Phật sự của các cấp Giáo hội.

Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh gồm các chức danh:

– Đức Pháp chủ.

– Chư vị Phó Pháp chủ.

– Chư vị Giám luật.

– Chánh Thư ký.

– Chư vị Phó Thư ký.

– Chư vị Ủy viên Thường trực.

Số lượng thành viên Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh thực hiện theo quy chế hoạt động của Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh.

Điều 16: Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn:

Chứng minh các Hội nghị Trung ương và Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc Giáo hội Phật giáo Việt Nam;Lãnh đạo, hướng dẫn và giám sát tối cao các hoạt động của Giáo hội, Hội đồng Trị sự về mặt Đạo pháp và Giới luật.Phê chuẩn tấn phong Giáo phẩm Hòa thượng, Thượng tọa, Ni trưởng, Ni sư của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.Chuẩn y đề nghị khen thưởng, kỷ luật đối với thành viên Giáo hội Phật giáo Việt Nam do Ban Thường trực Hội đồng Trị sự đệ trình.Ban hành Thông điệp Phật đản, Thư chúc tết, Thông điệp trong những sự kiện trọng đại, sự kiện đặc biệt của Giáo hội Phật giáo Việt Nam và của đất nước;Thành lập Văn phòng Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh và các Ban chuyên môn. Văn phòng và các Ban chuyên môn là cơ quan giúp việc Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh.Chức năng, nhiệm vụ khác được quy định trong Quy chế hoạt động của Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh, do Hội đồng Chứng minh ban hành.Điều 17: Trong thời gian của nhiệm kỳ, nếu Đức Pháp chủ khuyết vị thì Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh cung thỉnh một trong các vị Phó Pháp chủ đảm nhiệm Quyền Pháp chủ và thông báo Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự biết để suy tôn trong Hội nghị Thường niên gần nhất của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Đối với các chức danh khác bị khuyết vị, Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh suy cử một trong các thành viên Ban thường trực Hội đồng Chứng minh kiêm nhiệm cho đến hết nhiệm kỳ.

Điều 18: Nhiệm kỳ của Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh là 05 năm, tương ứng với nhiệm kỳ Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

CHƯƠNG V: HỘI ĐỒNG TRỊ SỰ

Điều 19: Hội đồng Trị sự là cơ quan điều hành, quản lý hành chính cao nhất của Giáo hội Phật giáo Việt Nam về mọi mặt hoạt động giữa hai nhiệm kỳ. Hội đồng Trị sự có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn như sau:

Số lượng thành viên Hội đồng Trị sự do Ban Thường trực Hội đồng Trị sự tiền nhiệm đề xuất trên cơ sở đảm bảo có đầy đủ đại diện các Ban, Viện Trung ương và Ban Trị sự cấp tỉnh, thành phố do Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc Giáo hội Phật giáo Việt Nam quyết định, suy cử.

Hội đồng Trị sự ban hành quy định chi tiết về thủ tục và tiêu chí suy cử, bãi miễn thành viên Hội đồng Trị sự, thành viên Ban Trị sự cấp tỉnh và thành viên Ban Trị sự cấp huyện, đệ trình Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh ấn chứng.

Điều 21: Thành viên tham gia Hội đồng Trị sự không quá 80 tuổi; mỗi thành viên không kiêm nhiệm quá 02 chức danh trong Ban Thường trực Hội đồng Trị sự; mỗi chức danh không quá 03 nhiệm kỳ.

Đối với chức danh chủ chốt cần phải thêm nhiệm kỳ công tác so với quy định, Ban Thường trực Hội đồng Trị sự khóa tiền nhiệm sẽ giới thiệu, được Hội đồng Trị sự chấp thuận với đa số và 2/3 tổng số Đại biểu chính thức tham dự Đại hội biểu quyết tán thành, nhưng không quá 01 nhiệm kỳ.

Trình tự, thủ tục cơ cấu nhân sự Hội đồng Trị sự phải tuân theo nguyên tắc:

Việc giới thiệu nhân sự tham gia Hội đồng Trị sự nhiệm kỳ mới phải tiến hành dân chủ, công khai, đầy đủ thành phần đại diện cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong cả nước.Danh sách nhân sự phải trình Ban Thường trực Hội đồng Trị sự tiền nhiệm thẩm tường, trước khi trao đổi với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cùng cấp vàđược Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc Giáo hội Phật giáo Việt Nam suy cử.Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trưởng Ban, Viện Trung ương phải là một Tăng sĩ.Điều 22: Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam là cơ quan Thường trực của Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, được Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự ủy quyền để thay mặt lãnh đạo, quản lý, điều hành hoạt động Phật sự của các cấp Giáo hội trên mọi công tácđối nội, đối ngoại; được thực hiện tất cả các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Trị sự. Tập thể và từng thành viên Ban Thường trực Hội đồng Trị sự chịu trách nhiệm trước Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự và Pháp luật Nhà nước.

Ban Thường trực Hội đồng Trị sự hoạt động theo Hiến chương và Quy chế hoạt động do Hội đồng Trị sự thông qua, được Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam ấn chứng.

Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam gồm các chức danh:

– Chủ tịch.

– 02 Phó Chủ tịch Thường trực.

– Các Phó Chủ tịch chuyên trách.

– Tổng Thư ký.

– 02 Phó Tổng Thư ký.

– Trưởng Ban Tăng sự.

– Trưởng Ban Giáo dục Phật giáo

– Trưởng Ban Hướng dẫn Phật tử.

– Trưởng Ban Hoằng pháp.

– Trưởng Ban Nghi lễ.

– Trưởng Ban Văn hóa.

– Trưởng Ban Kinh tế Tài chính.

– Trưởng Ban Từ thiện Xã hội.

– Trưởng Ban Phật giáo Quốc tế.

– Trưởng Ban Thông tin Truyền thông.

– Trưởng Ban Pháp chế.

– Trưởng Ban Kiểm soát.

– Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam.

– Các Ủy viên Thư ký chuyên trách.

– 02 Ủy viên Thủ quỹ.

– Các Ủy viên Thường trực.

Điều 23: Số lượng thành viên Ban Thường trực Hội đồng Trị sự thực hiện theo Quy chế hoạt động của Ban Thường trực Hội đồng Trị sự. Thành viên Ban Thường trực Hội đồng Trị sự làm việc theo chế độ chuyên trách và chịu trách nhiệm toàn diện về các hoạt động chuyên ngành, lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ trên phạm vi toàn quốc.

Điều 24: Chủ tịch Hội đồng Trị sự là người thay mặt Giáo hội Phật giáo Việt Nam về mặt pháp lý trong các mối quan hệ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài.

Khi Chủ tịch Hội đồng Trị sự có duyên sự đặc biệt phải vắng mặt, sẽ ủy quyền bằng văn bản cho một trong hai Phó Chủ tịch Thường trực để điều hành Hội nghị,Đại hội và các công việc của Giáo hội.

Chủ tịch Hội đồng Trị sự hoặc người được Chủ tịch Hội đồng Trị sự ủy quyền, giữ quyền phát ngôn của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài.

Điều 25: Ban, Viện thuộc Hội đồng Trị sự GHPGVN (gọi chung là Ban, Viện Trung ương):

Ban Tăng sự.Ban Giáo dục Phật giáoBan Hướng dẫn Phật tử.Ban Hoằng pháp.Ban Nghi lễ.Ban Văn hóa.Ban Kinh tế Tài chính.Ban Từ thiện Xã hội.Ban Phật giáo Quốc tế.Ban Thông tin Truyền thông.Ban Pháp chế.Ban Kiểm soát.Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam.Trong trường hợp Phật sự cần thiết phải thành lập mới Ban, Viện Trung ương sẽ do Ban Thường trực Hội đồng Trị sự thống nhất và thông qua tại Hội nghị thường niên của Trung ương Giáo hội.

Điều 26: Ban, Viện Trung ương là cơ quan trực thuộc Hội đồng Trị sự, triển khai các hoạt động Phật sự theo quy định của Hiến chương Giáo hội và Nội quy do Ban Thường trực Hội đồng Trị sự ban hành.

Ban, Viện Trung ương được phép thành lập các tổ chức trực thuộc và hoạt động theo quy định do Ban Thường trực Hội đồng Trị sự ban hành.

Điều 27: Nhiệm kỳ của Hội đồng Trị sự là 05 năm tương ứng với kỳ Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc.

Điều 28: Khi chưa hết nhiệm kỳ, nếu có chức vị trong Ban Thường trực Hội đồng Trị sự bị khuyết, thì Ban Thường trực báo cáo đề nghị Hội đồng Trị sự bổ sung trong Hội nghị thường niên Trung ương Giáo hội gần nhất. Trong khi chờ đợi, Ban Thường trực được quyền cử người trong Ban Thường trực Hội đồng Trị sự giữ quyền kiêm nhiệm.

Nếu Chủ tịch Hội đồng Trị sự khuyết vị khi chưa hết nhiệm kỳ, thì Ban Thường trực Hội đồng Trị sự tổ chức Hội nghị bất thường của Ban Thường trực Hội đồng Trị sự, để suy cử một trong hai Phó Chủ tịch Thường trực đảm nhiệm chức vụ Quyền Chủ tịch Hội đồng Trị sự, để điều hành công tác Phật sự và tiến hành thủ tục suy cử chính thức tại Hội nghị thường niên Trung ương Giáo hội gần nhất.

CHƯƠNG VI: GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM CẤP TỈNH, THÀNH

Điều 29: Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo địa giới hành chính, được sự chấp thuận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì được thành lập tổ chức Giáo hội cấp tỉnh, thành phố, với danh xưng: GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỈNH, THÀNH PHỐ (gọi chung là cấp tỉnh).

Điều 30: Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp tỉnh do Đại hội Đại biểu Giáo hội Phật giáo Việt Nam cùng cấp suy cử Ban Trị sự để điều hành Phật sự. Ban Trị sự là cơ quan hành chính, điều hành, quản lý trực tiếp mọi mặt hoạt động Phật sự của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong địa bàn tỉnh.

Số lượng thành viên Ban Trị sự thực hiện theo Quy chế hoạt động của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp tỉnh.

Điều 31: Nhân sự Ban Trị sự cấp tỉnh là Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử tại địa phương có uy tín, năng lực làm việc, đạo hạnh tốt, có công đức đối với Đạo pháp và Dân tộc. Trong trường hợp cần thiết, Ban Thường trực Hội đồng Trị sự sẽ công cử thành viên Ban Thường trực Hội đồng Trị sự đảm nhiệm chức vụ Trưởng ban Ban Trị sự cấp tỉnh.

Trình tự, thủ tục cơ cấu nhân sự Ban Trị sự phải tuân theo nguyên tắc:

Việc giới thiệu nhân sự tham gia Ban Trị sự cấp tỉnh nhiệm kỳ mới phải tiến hành dân chủ, công khai, đầy đủ thành phần đại diện cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong địa bàn tỉnh.Danh sách nhân sự phải trình Ban Thường trực Hội đồng Trị sự thẩm tường, trước  khi trao đổi với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cùng cấp.Trưởng banBan Trị sự cấp tỉnh phải là một Tăng sĩ. Cư sĩ Phật tử không đảm nhận cương vị Phó Trưởng banBan Trị sự cấp tỉnh.Tại Ban Trị sự cấp tỉnh, khi đã được suy tôn vào hang Chứng minh thì không tham gia Ban Trị sựĐiều 32: Ban Trị sự cấp tỉnh có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn:

Ban Thường trực Ban Trị sự cấp tỉnh gồm các chức danh:

– Trưởng ban Ban Trị sự.

– 01 Phó Trưởng Ban Thường trực.

– Các Phó Trưởng Ban chuyên trách.

– Các Trưởng Ban phụ trách các ngành theo các Ban Trung ương: Ban Tăng sự, Giáo dục Tăng Ni, Hướng dẫn Phật tử, Hoằng pháp, Nghi lễ, Văn hóa, Kinh tế Tài chánh, Từ thiện Xã hội, Phật giáo Quốc tế, Thông tin Truyền thông Pháp chế, Kiểm soát.

– 01 Chánh Thư ký.

– 02 Phó Thư ký.

– 01 Thủ quỹ.

– Các Ủy viên Thường trực.

Điều 34: Ban Thường trực Ban Trị sự GHPGVN cấp tỉnh làm việc dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Trị sự và Ban Thường trực Hội đồng Trị sự, có trách nhiệm tuân thủ Hiến chương, Quy chế, Nghị quyết, Quyết định và các Thông bạch, Thông tư, Chỉ thị do Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam ban hành hoặc phê chuẩn.

Các Ban chuyên môn thuộc Ban Trị sự cấp tỉnh là cơ quan giúp việc Ban Trị sự, chịu sự điều hành chung của Ban Thường trực Ban Trị sự và thực hiện theo chỉđạo về hoạt động chuyên ngành của Ban Trung ương.

Điều 35: Chức năng, quyền hạn của Trưởng ban Ban Trị sự cấp tỉnh:

Trưởng banBan Trị sự cấp tỉnh là người thay mặt Ban Trị sự cấp tỉnh về mặt pháp lý trong các mối quan hệ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ở trong tỉnh.Trưởng banBan Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp tỉnh hoặc người được Trưởng banBan Trị sự ủy quyền, giữ quyền phát ngôn của Giáo hội tại địa phương.Khi Trưởng ban Ban Trị sự có duyên sự đặc biệt phải vắng mặt, sẽ ủy quyền bằng văn bản cho Phó Trưởng Ban Thường trực để thay mặt điều hành Hội nghị, Đại hội và các Phật sự khác của Ban Trị sự cấp tỉnh và hết hiệu lực khi Trưởng Ban Trị sự trở lại nhiệm sở.

Những trường hợp khuyết vị khác không có quy định tại chương VI của Hiến chương, thì được giải quyết bằng một quyết định của Ban Thường trực Hội đồng Trị sự, áp dụng cho từng trường hợp cụ thể.

Điều 36: Nhiệm kỳ của Ban Trị sự GHPGVN cấp tỉnh là 05 năm tương ứng với nhiệm kỳ Đại hội Đại biểu Phật giáo cấp tỉnh.

CHƯƠNG VII: GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM CẤP QUẬN, HUYỆN, THỊ XÃ, THÀNH PHỐ THUỘC TỈNH

Điều 37: Các Quận, Huyện, Thị xã, Thành phố thuộc tỉnh theo địa giới hành chính, được sự chấp thuận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì được thành lập tổ chức Giáo hội cấp quận, huyện, thị xã, thành phố, với danh xưng: GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM QUẬN, HUYỆN, THỊ XÃ, THÀNH PHỐ thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện).

Điều 38: Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp huyện do Đại hội Đại biểu Giáo hội Phật giáo Việt Nam cùng cấp suy cử Ban Trị sự để điều hành Phật sự. Ban Trị sự cấp huyện là cơ quan hành chính, điều hành, quản lý trực tiếp mọi mặt hoạt động Phật sự của Giáo hội tại địa phương.

Số lượng thành viên Ban Trị sự và thành viên Thường trực Ban Trị sự cấp huyện thực hiện theo Quy chế hoạt động của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp huyện do Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam ban hành.Thường trực Ban Trị sự cấp huyện gồm các chức danh:– Trưởng ban Ban Trị sự.

– 01 Phó Trưởng ban Ban Thường trực.

– 02 Phó Trưởng Ban chuyên trách.

– Các Trưởng ban chuyên ngành tương ứng với các Ban chuyên ngành của Ban Trị sự cấp tỉnh.

– 01 Thư ký.

– 02 Phó Thư ký.

– Một Thủ quỹ.

– Các Ủy viên Thường trực.

Điều 39: Nhân sự Ban Trị sự cấp huyện là Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử tại địa phương có uy tín, năng lực làm việc, đạo hạnh tốt, có công đức đối với Đạo pháp và Dân tộc. Trong trường hợp cần thiết, Ban Thường trực Ban Trị sự cấp tỉnh sẽ công cử thành viên Ban Thường trực Ban Trị sự đảm nhiệm chức vụ Trưởng Ban Trị sự cấp huyện.

Trình tự, thủ tục cơ cấu nhân sự Ban Trị sự phải tuân theo nguyên tắc sau:

Việc giới thiệu nhân sự tham gia Ban Trị sự GHPGVN cấp huyện nhiệm kỳ mới phải tiến hành dân chủ, công khai, đầy đủ thành phần đại diện cho các thành viên Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại địa phương.Danh sách nhân sự phải trình Ban Thường trực Ban Trị sự cấp tỉnh thẩm tường trước khi trao đổi với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cùng cấp.Trưởng banBan Trị sự cấp huyện phải là một vị Tăng sĩ. Cư sĩ Phật tử không đảm nhận cương vị Phó Trưởng Ban Trị sự cấp huyện.Tại Ban Trị sự cấp huyện, khi đả được suy tôn vào hàng Chứng minh thì không tham gia Ban Trị sự.Điều 40: Ban Trị sự cấp huyện có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn:

Là người thay mặt Ban Trị sự cấp huyện về mặt pháp lý trong các mối quan hệ của Ban Trị sự ở trong và ngoài huyện.Trưởng banBan Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp huyện hoặc người được Trưởng banBan Trị sự ủy quyền, giữ quyền phát ngôn của Giáo hội tại địa phương.Khi TrưởngbanBan Trị sự cấp huyện có duyên sự đặc biệt phải vắng mặt, sẽ ủy quyền bằng văn bản cho Phó Trưởng ban Ban Thường trực để điều hành Hội nghị, Đại hội và các công việc của Ban Trị sự cấp huyện và hết hiệu lực khi Trưởng ban Ban Trị sự trở lại nhiệm sở.Những trường hợp không có quy định tại chương VII của Hiến chương, thì được giải quyết bằng một Quyết định khác của Ban Thường trực Ban Trị sự cấp tỉnh áp dụng cho từng trường hợp cụ thể.Điều 42: Nhiệm kỳ của Ban Trị sự GHPGVN cấp huyện là 05 năm, tương ứng với kỳ Đại hội Đại biểu Phật giáo Việt Nam cấp huyện.

CHƯƠNG VIII: ĐẠI HỘI – HỘI NGHỊ

Điều 43: Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức 05 năm một kỳ, do Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội triệu tập để:

Kiểm điểm hoạt động của Giáo hội trong 05 năm qua.Ấn định chương trình hoạt động 05 năm tới.Suy tôn Hội đồng Chứng minh, suy cử Hội đồng Trị sự.Thông qua dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến chương của Giáo hội.Thông qua danh sách tấn phong hàng giáo phẩm.Thông qua Nghị quyết Đại hội.Điều 44: Đại biểu chính thức tham dự Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc Giáo hội Phật giáo Việt Nam gồm: Thành viên Hội đồng Chứng minh; thành viên Hộiđồng Trị sự; các Ban, Viện Trung ương, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp tỉnh; các tổ chức của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại nước ngoài, theo sự phân bổ của Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Các quyết định được thông qua tại Đại hội với đa số Đại biểu có mặt biểu quyết tán thành, trừ trường hợp sửa đổi Hiến chương được quy định ở điều 70 Hiến chương. Chỉ có Đại biểu chính thức của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tham gia Đại hội mới được quyền biểu quyết. Đại hội hợp lệ phải có số lượng 2/3 tổng số Đại biểu được triệu tập.

Điều 45: Hội nghị Hội đồng Chứng minh do Đức Pháp chủ triệu tập 05 năm một kỳ, để tổng kết Phật sự của Giáo hội đã thi hành; phê chuẩn chương trình hoạtđộng Phật sự sẽ thi hành, suy cử Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh.

Trong trường hợp cần thiết, Đức Pháp chủ sẽ triệu tập Hội nghị Hội đồng Chứng minh bất thường, do Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh hoặc 2/3 tổng số thành viên Hội đồng Chứng minh đề nghị.

Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh tổ chức họp mỗi năm một kỳ để tổng kết hoạt động Phật sự trong một năm qua và định hướng hoạt động cho năm tới.

Điều 46: Hội nghị thường niên Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Hội nghị Ban Thường trực Hội đồng Trị sự do Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội triệu tập.

Hội nghị Ban Thường trực Hội đồng Trị sự có nhiệm vụ sơ kết công tác Phật sự 06 tháng đầu năm và chỉ đạo tổ chức thực hiện hoạt động Phật sự 06 tháng cuối năm.

Thành phần tham gia và được quyền biểu quyết tại Hội nghị thường niên Trung ương Giáo hội gồm có:

Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh.Thành viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam.Trưởng, Phó Ban Thường trực các Ban, Viện Trung ương.Điều 47: Khi cần thiết, Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội sẽ triệu tập Hội nghị bất thường do Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam đềnghị hoặc 2/3 tổng số thành viên Hội đồng Trị sự đề nghị.

Thành phần Hội nghị bất thường, thể theo thành phần Hội nghị thường niên Trung ương quy định ở điều 46 Hiến chương.

Đại biểu chính thức tham dự Đại hội Đại biểu Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp tỉnh gồm: Thành viên Ban Trị sự; các Ban chuyên ngành trực thuộc Ban Trị sự; Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp huyện; các cơ sở tự viện tại địa phương theo sự phân bổ của Ban Thường trực Ban Trị sự.

Đại hội Đại biểu cấp tỉnh quyết định theo đa số Đại biểu có mặt. Đại hội hợp lệ phải có số lượng 2/3 tổng số Đại biểu được triệu tập. Đại hội Đại biểu Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp tỉnh phải kết thúc trước Đại hội Đại biểu toàn quốc Giáo hội Phật giáo Việt Nam và thực hiện theo Thông tư hướng dẫn của Ban Thường trực Hội đồng Trị sự. Căn cứ kết quả Đại hội, Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam ban hành Quyết định chuẩn y nhân sự.

Điều 49: Hội nghị Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp tỉnh do Trưởng ban Ban Trị sự triệu tập một năm 02 kỳ để sơ kết, tổng kết công tác Phật sự hằng năm và được tổ chức trước khi diễn ra Hội nghị thường niên của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Khi cần thiết, Trưởng ban Ban Trị sự cấp tỉnh sẽ triệu tập Hội nghị bất thường do Ban Thường trực Ban Trị sự cấp tỉnh đề nghị hoặc 2/3 tổng số thành viên Ban Trị sự đề nghị.

Điều 50: Hội nghị Ban Trị sự cấp tỉnh giữa nhiệm kỳ do Trưởng ban Ban Trị sự triệu tập, để sơ kết công tác Phật sự giữa nhiệm kỳ, bổ sung nhân sự khuyết vị.

Đại biểu chính thức tham dự Đại hội Đại biểu Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp huyện gồm: Thành viên Ban Trị sự; các Ban chuyên ngành trực thuộc Ban Trị sự cấp huyện; đại diện Phật giáo thị trấn, phường, xã; các cơ sở tự viện trực thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp huyện, theo sự phân bổ của Thường trực Ban Trị sự.

Đại hội Đại biểu Phật giáo cấp huyện quyết định theo đa số Đại biểu có mặt. Đại hội hợp lệ phải có số lượng 2/3 tổng số Đại biểu được triệu tập. Đại hội Đại biểu Phật giáo cấp huyện được kết thúc trước Đại hội Đại biểu Phật giáo cấp tỉnh và thực hiện theo Thông tư hướng dẫn của Ban Trị sự GHPGVN cấp tỉnh. Căn cứ kết quả Đại hội, Trưởng Ban Trị sự GHPGVN cấp tỉnh ban hành Quyết định chuẩn y nhân sự.

Điều 52: Hội nghị Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp huyện do Trưởng ban Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp huyện triệu tập hằng tháng, hằng quý, 6 tháng và một năm một kỳ để kiểm điểm, hoạch định chương trình hoạt động Phật sự của từng quý và cả năm.

Khi cần thiết, Trưởng Ban Trị sự cấp huyện sẽ triệu tập Hội nghị bất thường do Thường trực Ban Trị sự cấp huyện đề nghị hoặc 2/3 tổng số thành viên Ban Trị sự đề nghị.

CHƯƠNG IX: GIÁO PHẨM

Điều 53: Đại hội Đại biểu Phật giáo Việt Nam phê chuẩn danh sách tấn phong hàng Giáo phẩm Hòa thượng đối với Thượng tọa tuổi đời từ 60 tuổi trở lên, tuổiđạo từ 40 hạ lạp trở lên, có đạo hạnh tốt, có công đức với Đạo pháp và Dân tộc, có đóng góp cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam và đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Pháp luật.

Điều 54: Đại hội Đại biểu Phật giáo Việt Nam xem xét tấn phong Giáo phẩm Thượng tọa đối với Đại đức tuổi đời từ 45 tuổi trở lên, tuổi đạo từ 25 hạ lạp trở lên, có đạo hạnh tốt, có công đức với Đạo pháp và Dân tộc, có đóng góp cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam và đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quyđịnh của Pháp luật.

Điều 55: Hàng Giáo phẩm của Ni giới là Ni trưởng và Ni sư. Tiêu chuẩn và điều kiện để tấn phong giáo phẩm của Ni giới như quy định của hàng Tăng giới ở điều 53, 54 Hiến chương.

Điều 56: Thủ tục tấn phong hàng Giáo phẩm do Ban Trị sự cấp tỉnh đề nghị lên Ban Thường trực Hội đồng Trị sự để xét duyệt, đệ trình Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh phê chuẩn, được Hội nghị Trung ương Giáo hội thông qua và Đại hội Đại biểu toàn quốc Giáo hội Phật giáo Việt Nam phê chuẩn tấn phong bằng Nghị quyết Đại hội và Giáo chỉ do Đức Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam ấn ký.

Trong trường hợp đặc biệt, Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh xem xét phê chuẩn tấn phong Giáo phẩm trước thời hạn trên cơ sở đề nghị của Ban Thường trực Hội đồng Trị sự, trình Đức Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam ban hành Giáo chỉ.

CHƯƠNG X: TỰ VIỆN VÀ THÀNH VIÊN

Điều 57: Đơn vị cơ sở của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là Chùa, Tổ đình, Tịnh xá, Thiền viện, Tu viện, Tịnh viện, Tịnh thất, Niệm Phật đường (gọi chung là Tự viện), dưới sự quản lý của các cấp Giáo hội.

Điều 58: Thành viên Giáo hội Phật giáo Việt Nam gồm thành phần Giáo phẩm và đại chúng theo quy định Nội quy Tăng sự.

Điều 60: Tín đồ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là những người tin tưởng Phật pháp, thực hành theo giáo lý Đức Phật và tùy khả năng, tự nguyện thọ trì Giới luật Phật chế.

Điều 61: Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam sẽ quy định cụ thể trong Nội quy Ban Tăng sự và Nội quy Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương để hướng dẫn chi tiết về quản lý tự viện, sinh hoạt của Tăng Ni và tín đồ Cư sĩ Phật tử.

CHƯƠNG XI: TÀI CHÍNH – TÀI SẢN

Điều 62: Tài chính của Giáo hội Phật giáo Việt Nam gồm có:

Niên liễm do các thành viên đóng góp.Tài chính do các Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử, tư nhân trong và ngoài nước hỷ cúng.Tài chính do Giáo hội tự tạo.Điều 63: Tài sản của Giáo hội Phật giáo Việt Nam gồm có động sản, bất động sản hợp pháp:

Do Giáo hội xây dựng, tạo mãi hoặc tư nhân trong và ngoài nước hiến cúng hợp pháp.Do các thành viên Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử thuộc các tổ chức Giáo hội, Hội, Hệ phái Phật giáo qua các thời kỳ xây dựng, tạo mãi hợp pháp, được Giáo hội bảo hộ và quản lý chung theo luật pháp Nhà nước.Giáo sản được giải quyết căn cứ theo quy định chung của pháp luật về tài sản.CHƯƠNG XII

TUYÊN DƯƠNG CÔNG ĐỨC VÀ KỶ LUẬT

Điều 64: Thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam có nhiều thành tích, công đức với Đạo pháp và Dân tộc sẽ được tuyên dương:

Trung ương Giáo hội tuyên dương:Thành viên Hội đồng Trị sự, Ban, Viện Trung ương Giáo hội được 2/3 số lượng thành viên Hội đồng Trị sự biểu quyết chấp thuận tặng bằng Tuyên dương công đức hoặc bằng Công đức.Thành viên Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp tỉnh do Ban Thường trực Hội đồng Trị sự quyết định tặng bằng Tuyên dương công đức hoặc bằng Công đức.Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp tỉnh được tặng bằng Tuyên dương công đức, bằng Công đức cho tập thể, cá nhân theo từng địa phương, thể thức như Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam quy định tại khoản chúng tôi Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp huyện được tặng bằng Công đức cho tập thể, cá nhân theo yêu cầu của từng cơ sở.Điều 65: Hình thức kỷ luật:

Thành viên Giáo hội Phật giáo Việt Nam vi phạm Giới luật, Hiến chương, Quy chế, Nội quy của Giáo hội, tùy theo lỗi nặng nhẹ, Giáo hội sẽ xử lý theo Giáo luật.Thành viên Giáo hội Phật giáo Việt Nam có hoạt động và hành vi làm thương tổn đến thanh danh, đến sự hòa hợp, đến quyền lợi của Giáo hội hoặc các thành viên của Giáo hội, phương hại đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đến hòa bình, độc lập, thống nhất của Tổ quốc, Giáo hội sẽ xử lý theo Giáo luật và tùy mức độ vi phạm Giáo hội sẽ đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét, xử lý theo Pháp luật.Thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam bị mất quyền công dân do vi phạm Pháp luật thì đương nhiên mất tư cách là thành viên của Giáo hội.Các thành viên bị khai trừ, sau khi hối cải, có thể xin gia nhập lại Giáo hội. Trường hợp mất quyền công dân mà đã được phục hồi quyền công dân thì có thể được xin phục hồi tư cách thành viên Giáo hội Phật giáo Việt Nam.Điều 66: Việc thi hành kỷ luật đối với thành viên thuộc cấp tỉnh quản lý do Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp tỉnh quyết định; đối với các ủy viên Ban Trị sự do Ban Thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN quyết định; đối với thành viên Hội đồng Trị sự do 2/3 số lượng thành viên Hội đồng Trị sự biểu quyết và Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh phê chuẩn.

Điều 67: Đối với Tăng Ni vi phạm về giới luật, tùy theo mức độ vi phạm, Ban Tăng sự các cấp phối hợp cùng Ban Trị sự cấp huyện và Ban Trị sự cấp tỉnh căn cứ Luật Phật chế để xét xử và giải quyết. Trường hợp không giải quyết được, Ban Trị sự cấp tỉnh trình lên Ban Thường trực Hội đồng Trị sự để giải quyết; nếu vẫn không được thì Ban Thường trực Hội đồng Trị sự đệ trình Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh xử lý theo Giáo luật.

CHƯƠNG XIII: HIỆU LỰC CỦA HIẾN CHƯƠNG VÀ SỬA ĐỔI HIẾN CHƯƠNG

Điều 68: Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất của Giáo hội. Giáo hội Phật giáo Việt Nam các cấp ban hành văn bản phải phù hợp với Hiến chương GHPGVN.

Điều 69: Dự án sửa đổi Hiến chương do Ban Thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN xây dựng và trình Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh và Hội đồng Trị sự thẩm tường.

Điều 70: Dự án sửa đổi Hiến chương do Đại hội Đại biểu toàn quốc Giáo hội Phật giáo Việt Nam thông qua với 2/3 tổng số Đại biểu Đại hội biểu quyết.

Điều 71: Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam gồm có: Lời nói đầu, 13 chương và 71 điều.

Hiến chương sửa đổi lần thứ VI được xây dựng trên cơ sở kế thừa những ưu việt của Hiến chương đầu tiên được Hội nghị Đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam cả nước nhất trí thông qua năm 1981, được tu chỉnh lần thứ nhất tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc kỳ II năm 1987; lần thứ hai tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc kỳ III năm 1992; lần thứ ba tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc kỳ IV năm 1997; lần thứ tư tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc kỳ VI năm 2007.

Hiến chương được chính thức thông qua tại Đại hội Đại biểu Phật giáo Toàn quốc kỳ VIII, ngày 22 tháng 11 năm 2017 .

Hiến chương có giá trị thi hành sau khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chấp thuận bằng văn bản.

 GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Luật Nhân Quả Theo Quan Niệm Phật Giáo

Luật Nhân Quả Là Gì?

Bất kỳ hành động nào dù cố ý hay vô ý, suy nghĩ hay lời nói…đều tạo thành nghiệp và chịu ảnh hưởng bởi luật nhân quả.

Sự bất bình đẳng tồn tại trên thế gian này là gì?

Tại sao lại có người sinh ra trong gia đình giàu có còn người khác lại không? Tại sao một người có đầu óc thông minh còn những người khác thì ngu ngốc? Tại sao một người luôn có tính thánh thiện, từ bi còn người khác thì có khuynh hướng xấu xa, độc ác? Tại sao lại có người bị mù, dị tật từ khi họ sinh ra? Tại sao một số người lại được phước lành còn số khác bị nguyền rủa từ ngày họ chào đời? Theo Phật giáo, sự bất bình đẳng này không chỉ do di truyền, môi trường sống mà còn do Luật nhân quả. Chúng ta tự chịu trách nhiệm về hạnh phúc và đau khổ của mình. Chúng ta tạo thiên đường cho riêng mình. Chúng ta tạo ra địa ngục cho chúng ta. Chúng ta là kiến ​​trúc sư của số phận chúng ta.

Luật Nhân Quả là một cỗ máy được tạo ra để điều khiển và kiểm soát?

Một số ý kiến cho rằng, một người vừa sinh ra đã bị mù, dị tật hoặc chết thì làm sao họ có thể sống bình thường để thay đổi nghiệp của họ? Một người có khuynh hướng độc ác, xấu xa ở quá khứ thì họ sẽ vẫn xấu xa và độc ác ở hiện tại và tương lai, họ sẽ nhận những hậu quả xấu mãi mãi. Luật nhân quả là một cỗ máy, cuộc sống sẽ thuần tuý cơ học, và ý chí tự do sẽ là một điều vô lý. Ai đó tạo ra, điều khiển số phận và xác định tương lai chúng ta, chúng ta không thể cưỡng lại và kiểm soát cuộc sống của chính chúng ta.

Đây là một câu hỏi hay! Có thể lý giải vấn đề này như sau: Bất kỳ một sự vật, hiện tượng trên trái đất này đều có lý do để nó tồn tại: gió, nước, lửa…côn trùng và động vật. Giống như việc, một đứa bé vừa sinh ra đã chết, hoặc dị tật…là để gửi một thông điệp gì đó cho cha mẹ và những người xung quanh để họ thức tỉnh và sống tốt hơn.

Những người đó tồn tại với hình dạng như thế trong một thời gian dài để làm vơi đi nghiệp chướng trước đây của họ, và thức tỉnh những người xung quanh, sau khi chết họ sẽ Tái sinh ở một trạng thái tốt hơn. Thân cây mục tồn tại mấy chục năm trong rừng để làm nền tảng cho những thứ tốt đẹp khác phát triển, dưới thân cây mục là một “ngôi làng” bên trên nó là những cành hoa.

Luật nhân quả là một luật lệ mà tự nó hoạt động trong lĩnh vực riêng của nó, không có sự can thiệp của bất kỳ ai trên vũ trụ này.

Luật nhân quả có nghĩa là những hành động trong quá khứ?

Luật nhân quả không có nghĩa là hành động trong quá khứ, nó bao hàm cả những hành động trong quá khứ và hiện tại. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta là kết quả của những gì chúng ta đã làm, chúng ta sẽ là kết quả của những gì chúng ta đang làm.

Theo nghĩa khác, chúng ta không hoàn toàn là kết quả của những gì chúng ta đã làm, chúng ta sẽ không hoàn toàn là kết quả của những gì chúng ta đang làm. Hiện tại chắc chắn là con cháu của quá khứ và là hiện tại của tương lai, nhưng hiện tại không phải lúc nào cũng là một chỉ số thực sự của quá khứ hoặc tương lai. Luật nhân quả thật sự rất phức tạp.

Có Nhân Ắt Sẽ Có Quả?

Nhân được ví như hạt giống, bạn không thể gieo hạt bắp mà muốn nó lớn lên và cho quả táo được. Gieo Nhân nào sẽ gặt Quả nấy, những gì chúng ta gặt hái hôm nay, hoặc tương lai là kết quả của những gì chúng ta gieo ở hiện tại hoặc quá khứ?.

Samyutta Nikaya đã nói: “Theo hạt giống đã gieo, cũng là hoa quả bạn gặt trong đó, người lành sẽ thu hoạch, người xấu sẽ gặt ác, hạt giống là hạt giống và ngươi sẽ nếm quả của nó”.

Nhân là hành động, Quả là kết quả, là phản ứng dội lại của hành động đó. Tuy nhiên không phải lúc nào hành động cũng sẽ tạo ra một phản ứng tương tự. Trong thực tế cũng vậy, không phải chúng ta gieo một hạt táo thì chắc chắn ta sẽ có quả ngọt, chúng ta gieo hạt nhưng không chăm sóc, vung đắp thì nó sẽ không thể phát triển để sinh quả cho ta.

Giống như chúng ta bỏ muối (những điều xấu) vào một ly nước, ly nước trở nên mặn, nhưng trước khi uống ta lại bỏ một chút đường vào (những điều tốt), một chút nữa cho đến khi nước trở nên ngọt. Thật thú vị, lúc đầu chúng ta gieo “Nhân” mặn vào nước nhưng lại gặt được “Quả” ngọt!

Luật nhân quả còn được dùng rất nhiều trong việc giáo dục đạo đức: “Hãy sống tốt, bạn sẽ được hạnh phúc và chúng tôi sẽ yêu bạn, nhưng nếu bạn xấu, bạn sẽ không hạnh phúc và chúng tôi sẽ không yêu bạn”.

Ý Kiến Trái Chiều

Một số người cho rằng, họ đã làm việc thiện và không gây hại đến ai hay con vật nào trong suốt 40 năm, nhưng cuộc đời của họ vẫn gặp nhiều khó khăn, trắc trở. Tại sao chúng ta lại phải sống tốt, làm việc thiện suốt cuộc đời mình, kìm hãm những ham muốn cá nhân như: tình dục, ăn mặn, những thủ đoạn kinh doanh để mang lại “hạnh phúc” nhanh nhất…chỉ để giúp một người không quen biết có cuộc sống tốt hơn ở kiếp sau? Đa số chúng ta không ai biết kiếp trước mình là gì, nên hãy sống thoải mái, thoả mãn mọi nhu cầu cần thiết cho bản thân ở hiện tại.

Tôi không nói về nhân quả theo kiểu: Nếu bạn trồng cây bưởi và chăm sóc tốt thì nó sẽ cho quả bưởi hay đại loại như bạn hút thuốc lá thì sau này bạn sẽ bệnh phổi…Nếu bạn giết người, ăn cắp, ăn trộm thì bạn sẽ đi tù.

Ở đây, tôi nói luật nhân quả theo khía cạnh truyền từ kiếp này sang kiếp khác. Nếu bạn cầm trái bóng tenis rồi quăng vô tường, bạn quăng mạnh thì nó sẽ dội lại mạnh và ngược lại. Tuy nhiên, không phải lúc nào bạn quăng trái bóng vào tường thì nó sẽ dội lại trúng bạn. Bằng chứng trong cuộc sống chúng ta, có rất nhiều người làm điều xấu nhưng họ vẫn sống thoải mái, tận hưởng giàu sang đến cuối đời nhưng trả thấy “trái bóng” nào đến tìm họ.

Vậy “trái bóng” đó đi đâu? Nó đi tìm một người chả quen biết ở kiếp sau và chọi vô mặt họ với tất cả sự tàn nhẫn! “Trời ơi, kiếp trước tôi đã làm gì sai mà giờ phải nhận hậu quả này, mới sinh ra đã mù 2 mắt sao mà sống tốt trong một xã hội khắc nghiệt đây!”. “Tôi đâu có biết kiếp trước tôi là ai, làm gì? chắc gì tôi là người quăng trái bóng đó!” Nếu luật nhân quả là có thật và vận hành theo cách này, thì nó quá tàn nhẫn và bất công.

Theo đạo Phật, nếu một người tạo nghiệp xấu thì sẽ tái sinh vào cõi xấu như ma quỷ, động vật…Vậy một con vật khi chết thì chúng sẽ tái sinh vào cõi nào? Cá voi mỗi lần mở miệng là có hàng triệu sinh vật phải chết, như vậy nếu theo luật nhân quả thì nó là một con cá voi xấu và nghiệp của nó là vô tận? Một con muỗi muốn tái sinh vào cõi người thì phải làm gì? Có những con chó, con mèo có cuộc sống tốt hơn rất nhiều so với con người! Hàng triệu năm trước khi có con người thì có 6 cõi luân hồi không? Một con khủng long khi chết thì sẽ tái sinh vào cõi nào? Có những sinh vật có vòng đời rất ngắn nên nó không phải chịu nhiều đau khổ trong cõi Ta-Bà này.

Nhiều người cho rằng, việc ăn mặn và giết chết động vật là tạo nghiệp xấu, phóng sanh là tạo nghiệp lành nhưng theo đức Phật thì có hàng tỷ sinh vật trong một ly nước. Điều đó có nghĩa là, một ly nước chúng ta uống, 1 cọng rau chúng ta ăn nó chứa vô lượng sinh mạng bé nhỏ, một hệ thống vũ trụ thu nhỏ vô tận. Suốt cuộc đời này chúng ta đã giết bao nhiêu sinh mạng rồi? Vậy tại sao lại bảo những người ăn mặn và giết 1 con gà là tạo nghiệp xấu? Mọi chuyện diễn ra theo cách mà nó cần phải như thế!

“Đức tin giống như vẽ bức tường phòng của bạn bằng mắm tôm, sau đó cố gắng thuyết phục mình rằng nó đẹp và toả hương thơm. Đức tin là một ảo giác, một giấc mơ mà chúng ta coi là thực tế, nhưng thực tế thì nó chỉ làm cho tâm trí của con người trở nên nghèo nàn hơn mà thôi. Mỗi tôn giáo sẽ chọn cho mình một thứ để vẽ lên tường, và các tín đồ sẽ đặt niềm tin tuyệt đối vào nó. Giống như một đám mây trên bầu trời, người theo Thiên Chúa thì A-men, người theo Phật giáo thì A-Di-Đà!”

Luật nhân quả hay địa ngục chỉ là hình thái được người xưa tạo ra để răn đe con cháu tránh hướng tới những hành động xấu. Con người chỉ là một loại động vật bậc cao tiến hoá theo quá trình chọn lọc tự nhiên. Từ việc có ý thức, chúng ta áp đặt những sự vật, hiện tượng trên hành tinh này theo cách mà chúng ta cho rằng, nhưng bản chất thật của sự tồn tại là gì? Hãy để thời gian và sự phát triển của khoa học trả lời cho bạn. Khoa học không dựa trên niềm tin ảo tưởng của tâm trí mà là những bằng chứng cụ thể và thuyết phục.

Một chiếc Canon chụp hình một con vật có hình dạng giống con chó thì chưa chắc nó là con chó, họ sẽ cần thêm những thí nghiệm, những bằng chứng cụ thể để khẳng định đó là con chó hay chỉ là con voi có hình dạng tương tự.

Tôi cũng muốn nói thêm với bạn rằng, phương pháp giảng dạy của các tôn giáo hiện nay nó giống như câu cảnh báo trên gói thuốc lá: “Hút thuốc có hại cho sức khỏe…!”. Người ta biết làm như vậy là không tốt nhưng họ vẫn làm, tất nhiên là có số ít trường hợp “thức tỉnh” và từ bỏ thói quen xấu đó mà ta hay gọi là “giác ngộ”. Tôn giáo xuất hiện và giảng dạy hàng ngàn năm nhưng hiện tại thế giới có tốt đẹp hơn không? Không! Nó ngày càng suy đồi cho đến một lúc nào đó…Nếu như các nhà truyền giáo không thay đổi phương thức giảng dạy của mình.

Đừng giảng theo kiểu câu nói ghi trên bao thuốc lá, và hy vọng sự thức tỉnh của một vài cá nhân, mà hãy giảng theo kiểu: “Nếu bạn cầm súng bắn vào đầu mình, thì bạn sẽ chết!” thì thế giới sẽ hạnh phúc và thanh bình hơn.

Kết thúc cuộc trò chuyện, tôi hơi phân vân không biết mình hay người bạn kia là con ếch dưới đáy giếng nữa! Tuy nhiên, một hồi lâu, tôi bừng tỉnh và nghĩ rằng, việc tìm câu trả lời cho những lập luận trên là không cần thiết, nó cũng giống như việc cố gắng giải thích về sóng vô tuyến hay sóng wifi cho những người ở thế kỷ 1 SCN vậy.

Cho nên, là một Phật tử, thì điều quan trọng trong cuộc sống là phải hiểu rõ Tứ Diệu Đế của đức Phật và thực hành Bát Chánh Đạo để thoát khỏi hoặc giảm bớt khổ đau trên cõi đời này.

Theo hoasenphat.com

Tìm Hiểu Về Luật Nhân Quả Trong Phật Giáo

Luật nhân quả là một học thuyết phổ biến nhất trong Phật giáo. Học thuyết này bắt nguồn từ Ấn Độ trước sự ra đời của Đức Phật. Tuy nhiên, chính Đức Phật đã giải thích và xây dựng luật nhân quả dưới hình thức hoàn chỉnh trong quá trình giảng dạy của Người.

Luật nhân quả là gì?

Bạn phải chịu trách nhiệm cho những hành động của mình. Đó là luật nhân quả, một quy luật không thể phá hủy của vũ trụ. Bạn xứng đáng với mọi thứ xảy ra với bạn, dù tốt hay xấu. Bạn là người xây dựng số phận cho bạn, hạnh phúc hay đau khổ.

Cuộc sống của bạn ngày hôm nay chỉ là sự phản ánh quá khứ của bạn.

Bạn không thể thoát khỏi quá khứ, nhưng bạn có thể học tập từ nó để thay đổi tương lai.

Hành động của bạn ở hiện tại sẽ ảnh hướng đến cuộc sống của bạn ở tương lai.

Những gì bạn đang trải nghiệm ngay bây giờ là những gì nghiệp muốn bạn trải nghiệm.

Những suy nghĩ và cảm xúc của bạn tạo thành thế giới bên trong bạn, những lời nói và hành động của bạn tạo nên thế giới xung quanh bạn.

Khi bạn cố ý làm hại ai đó, dù chỉ xuất phát từ suy nghĩ nhưng đó là ý niệm tạo nghiệp. Những ý định tốt sẽ luôn luôn tạo ra nghiệp tốt. Bạn có thể giấu ý định của bạn khỏi những người khác nhưng không thể giấu bản thân bạn hoặc vũ trụ.

Bạn sẽ không bao giờ được hạnh phúc nếu bạn làm tổn thương người khác.

Vũ trụ muốn bạn hiểu được sự đau khổ của người khác. Để làm việc này, bạn phải trải nghiệm cuộc sống từ nhiều góc nhìn khác nhau. Cần phải hiểu tại sao bạn đã làm những điều đó và hậu quả là gì. Một kinh nghiệm nghiệp báo giúp bạn nhận ra sai lầm, từ đó thay đổi để sống tốt hơn.

Luật nhân quả có tác dụng ngay lập tức?

Để trải nghiệm những gì bạn đã làm có thể phải mất một khoảng thời gian nhất định. Nhiều bài học là ngay lập tức, nhưng một số chỉ có thể được học theo thời gian. Nó cũng giống như khi bạn gieo hạt, theo thời gian nó sẽ phát triển. Đúng thời điểm (khi hội đủ các yếu tố) bạn sẽ nhận được nghiệp mà bạn đã gieo.

Tác động của nghiệp lực đôi khi ngay lập tức, nhưng trong những trường hợp khác, nó có sự chậm trễ. Tuy nhiên, sẽ luôn luôn có hiệu lực, cho dù sự chậm trễ này kéo dài bao lâu. Hậu quả của hành động tốt hay xấu thậm chí có thể theo bạn vào cuộc sống kế tiếp.

Sự bất bình đẳng tồn tại trên thế gian này là gì?

Tại sao lại có người sinh ra trong gia đình giàu có còn người khác lại không?

Tại sao một người có đầu óc thông minh còn những người khác thì ngu ngốc?

Tại sao một người luôn có tính thánh thiện, từ bi còn người khác thì có khuynh hướng xấu xa, độc ác?

Tại sao lại có người bị mù, dị tật từ khi họ sinh ra?

Tại sao một số người lại được phước lành còn số khác bị nguyền rủa từ ngày họ chào đời?

Theo đạo Phật, sự bất bình đẳng này không chỉ do di truyền, môi trường sống mà còn do Luật nhân quả. Chúng ta tự chịu trách nhiệm về hạnh phúc và đau khổ của mình. Chúng ta tạo thiên đường cho riêng mình. Chúng ta tạo ra địa ngục cho chúng ta. Chúng ta là kiến ​​trúc sư của số phận chúng ta.

Luật nhân quả là một cỗ máy được tạo ra để điều khiển và kiểm soát?

Một số ý kiến cho rằng, một người vừa sinh ra đã bị mù, dị tật hoặc chết thì làm sao họ có thể sống bình thường để thay đổi nghiệp của họ? Một người có khuynh hướng độc ác, xấu xa ở quá khứ thì họ sẽ vẫn xấu xa và độc ác ở hiện tại và tương lai, họ sẽ nhận những hậu quả xấu mãi mãi.

Luật nhân quả là một cỗ máy, cuộc sống sẽ thuần tuý cơ học, và ý chí tự do sẽ là một điều vô lý. Ai đó tạo ra, điều khiển số phận và xác định tương lai chúng ta, chúng ta không thể cưỡng lại và kiểm soát cuộc sống của chính chúng ta.

Đây là một câu hỏi hay! Có thể lý giải vấn đề này như sau: Bất kỳ một sự vật, hiện tượng trên trái đất này đều có lý do để nó tồn tại: gió, nước, lửa…côn trùng và động vật. Giống như việc, một đứa bé vừa sinh ra đã chết, hoặc dị tật…là để gửi một thông điệp gì đó cho cha mẹ và những người xung quanh để họ thức tỉnh và sống tốt hơn.

Những người đó tồn tại với hình dạng như thế trong một thời gian dài để làm vơi đi nghiệp chướng trước đây của họ, và thức tỉnh những người xung quanh, sau khi chết họ sẽ tái sinh ở một trạng thái tốt hơn. Thân cây mục tồn tại mấy chục năm trong rừng để làm nền tảng cho những thứ tốt đẹp khác phát triển, dưới thân cây mục là một “ngôi làng” bên trên nó là những cành hoa.

Luật nhân quả không có nghĩa là hành động trong quá khứ, nó bao hàm cả những hành động trong quá khứ và hiện tại. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta là kết quả của những gì chúng ta đã làm, chúng ta sẽ là kết quả của những gì chúng ta đang làm.

Theo nghĩa khác, chúng ta không hoàn toàn là kết quả của những gì chúng ta đã làm, chúng ta sẽ không hoàn toàn là kết quả của những gì chúng ta đang làm. Hiện tại chắc chắn là con cháu của quá khứ và là hiện tại của tương lai, nhưng hiện tại không phải lúc nào cũng là một chỉ số thực sự của quá khứ hoặc tương lai. Luật nhân quả thật sự rất phức tạp.

Có nhân ắt sẽ có quả?

Nhân được ví như hạt giống, bạn không thể gieo hạt bắp mà muốn nó lớn lên và cho quả táo được. Gieo Nhân nào sẽ gặt Quả nấy, những gì chúng ta gặt hái hôm nay, hoặc tương lai là kết quả của những gì chúng ta gieo ở hiện tại hoặc quá khứ.

Samyutta Nikaya có đoạn: “Theo hạt giống đã gieo, cũng là hoa quả bạn gặt trong đó, người lành sẽ thu hoạch, người xấu sẽ gặt ác, hạt giống là hạt giống và ngươi sẽ nếm quả của nó”.

Nhân là hành động, Quả là kết quả, là phản ứng dội lại của hành động đó. Tuy nhiên không phải lúc nào hành động cũng sẽ tạo ra một phản ứng tương tự. Trong thực tế cũng vậy, không phải chúng ta gieo một hạt táo thì chắc chắn ta sẽ có quả ngọt, chúng ta gieo hạt nhưng không chăm sóc, vung đắp thì nó sẽ không thể phát triển để sinh quả cho ta.

Giống như chúng ta bỏ muối (những điều xấu) vào một ly nước, ly nước trở nên mặn, nhưng trước khi uống ta lại bỏ một chút đường vào (những điều tốt), một chút nữa cho đến khi nước trở nên ngọt. Thật thú vị, lúc đầu chúng ta gieo “Nhân” mặn vào nước nhưng lại gặt được “Quả” ngọt!

Luật nhân quả còn được dùng rất nhiều trong việc giáo dục đạo đức: “Hãy sống tốt, bạn sẽ được hạnh phúc và chúng tôi sẽ yêu bạn, nhưng nếu bạn xấu, bạn sẽ không hạnh phúc và chúng tôi sẽ không yêu bạn”.

Ý kiến trái chiều về luật nhân quả

Tại sao chúng ta lại phải sống tốt, làm việc thiện suốt cuộc đời mình, kìm hãm những ham muốn cá nhân chỉ để giúp một người không quen biết có cuộc sống tốt hơn ở kiếp sau? Đa số chúng ta không ai biết kiếp trước mình là gì, nên hãy sống thoải mái, thoả mãn mọi nhu cầu cần thiết cho bản thân ở hiện tại.

Tôi không nói về nhân quả theo kiểu: Nếu bạn trồng cây bưởi và chăm sóc tốt thì nó sẽ cho quả bưởi hay đại loại như bạn hút thuốc lá thì sau này bạn sẽ bị ung thư phổi …Nếu bạn giết người, ăn cắp, ăn trộm thì bạn sẽ đi tù.

Ở đây, tôi nói luật nhân quả theo khía cạnh truyền từ kiếp này sang kiếp khác. Nếu bạn cầm trái bóng tenis rồi quăng vô tường, bạn quăng mạnh thì nó sẽ dội lại mạnh và ngược lại.

Tuy nhiên, không phải lúc nào bạn quăng trái bóng vào tường thì nó sẽ dội lại trúng bạn. Bằng chứng trong cuộc sống chúng ta, có rất nhiều người làm điều xấu nhưng họ vẫn sống thoải mái, tận hưởng giàu sang đến cuối đời nhưng chả thấy “trái bóng” nào đến tìm họ.

Vậy “trái bóng” đó đi đâu? Nó đi tìm một người chả quen biết ở kiếp sau và chọi vô mặt họ với tất cả sự tàn nhẫn! “Trời ơi, kiếp trước tôi đã làm gì sai mà giờ phải nhận hậu quả này, mới sinh ra đã mù 2 mắt sao mà sống tốt trong một xã hội khắc nghiệt đây!”. “Tôi đâu có biết kiếp trước tôi là ai, làm gì? chắc gì tôi là người quăng trái bóng đó!” Nếu luật nhân quả là có thật và vận hành theo cách này, thì nó quá tàn nhẫn và bất công.

Khi không thể giải thích tại sao một người xấu lại có thể sống giàu sang, hạnh phúc đến cuối đời thì các nhà truyền giáo đẩy nó sang kiếp sau. Nơi mà chưa ai có thể chứng minh được. Mà cho dù có kiếp sau đi nữa thì người xấu kiếp trước cũng chả hề hấn gì, họ có nhớ gì đâu mà!

Theo đạo Phật, nếu một người tạo nghiệp xấu thì sẽ tái sinh vào cõi xấu như ma quỷ, động vật…Vậy một con vật khi chết thì chúng sẽ tái sinh vào cõi nào? Cá voi mỗi lần mở miệng là có hàng triệu sinh vật phải chết, như vậy nếu theo luật nhân quả thì nó là một con cá voi xấu và nghiệp của nó là vô tận?

Một con muỗi muốn tái sinh vào cõi người thì phải làm gì? Có những con chó, con mèo có cuộc sống tốt hơn rất nhiều so với con người! Hàng triệu năm trước khi có con người thì có 6 cõi luân hồi không? Một con khủng long khi chết thì sẽ tái sinh vào cõi nào? Có những sinh vật có vòng đời rất ngắn nên nó không phải chịu nhiều đau khổ trong cõi Ta-Bà này.

Nhiều người cho rằng, việc ăn mặn và giết chết động vật là tạo nghiệp xấu, phóng sanh là tạo nghiệp lành nhưng theo đức Phật thì có hàng tỷ sinh vật trong một ly nước. Điều đó có nghĩa là, một ly nước chúng ta uống, 1 cọng rau chúng ta ăn nó chứa vô lượng sinh mạng bé nhỏ, một hệ thống vũ trụ thu nhỏ vô tận.

Suốt cuộc đời này chúng ta đã giết bao nhiêu sinh mạng rồi? Vậy tại sao lại bảo những người ăn mặn và giết 1 con gà là tạo nghiệp xấu? Bạn đã bao giờ tỏ lòng bi mẫn đối với những con muỗi mà bạn đã giết? Mọi chuyện diễn ra theo cách mà nó cần phải như thế!

“Đức tin giống như vẽ bức tường phòng của bạn bằng mắm tôm, sau đó cố gắng thuyết phục mình rằng nó đẹp và toả hương thơm. Đức tin là một ảo giác, một giấc mơ mà chúng ta coi là thực tế, nhưng thực tế thì nó chỉ làm cho tâm trí của con người trở nên nghèo nàn hơn mà thôi.

Mỗi tôn giáo sẽ chọn cho mình một thứ để vẽ lên tường, và các tín đồ sẽ đặt niềm tin tuyệt đối vào nó. Giống như một đám mây trên bầu trời, người theo Thiên Chúa thì A-men, người theo Phật giáo thì A-Di-Đà!”

Khi bạn đặt quá nhiều niềm tin vào một điều gì đó, nhất là những thứ mà bạn đã giành cả đời để theo đuổi, nghiên cứu thì khi có ai đó nói sự thật với bạn, bạn sẽ không dễ dàng chấp nhận!

Đức Phật chỉ là một người bình thường đã tìm ra phương pháp để thoát khỏi đau khổ, giống như Faraday, Newton hay Einstein…tìm ra những điều mới mẻ trong lĩnh vực mà họ nghiên cứu.

Luật nhân quả hay địa ngục chỉ là hình thái được người xưa tạo ra để răn đe con cháu tránh hướng tới những hành động xấu. Con người chỉ là một loại động vật (nói theo tôn giáo của bạn là súc sinh) bậc cao tiến hoá theo quá trình chọn lọc tự nhiên. Từ việc có ý thức, chúng ta áp đặt những sự vật, hiện tượng trên hành tinh này theo cách mà chúng ta cho rằng, nhưng bản chất thật của sự tồn tại là gì? Hãy để thời gian và sự phát triển của khoa học trả lời cho bạn. Khoa học không dựa trên niềm tin ảo tưởng của tâm trí mà là những bằng chứng cụ thể và thuyết phục.

Một chiếc Canon chụp hình một con vật có hình dạng giống con chó thì chưa chắc nó là con chó, họ sẽ cần thêm những thí nghiệm, những bằng chứng cụ thể để khẳng định đó là con chó hay chỉ là con voi có hình dạng tương tự.

Tôi cũng muốn nói thêm với bạn rằng, phương pháp giảng dạy của các tôn giáo hiện nay nó giống như câu cảnh báo trên gói thuốc lá: “Hút thuốc có hại cho sức khỏe…!”. Người ta biết làm như vậy là không tốt nhưng họ vẫn làm, tất nhiên là có số ít trường hợp “thức tỉnh” và từ bỏ thói quen xấu đó mà ta hay gọi là “giác ngộ”.

Tôn giáo xuất hiện và giảng dạy hàng ngàn năm nhưng hiện tại thế giới có tốt đẹp hơn không? Không! Nó ngày càng suy đồi cho đến một lúc nào đó…Nếu như các nhà truyền giáo không thay đổi phương thức giảng dạy của mình.

Đừng giảng theo kiểu câu nói ghi trên bao thuốc lá, và hy vọng sự thức tỉnh của một vài cá nhân hay ai có duyên thì hiểu còn không thì thôi, mà hãy giảng theo kiểu: “Nếu bạn cầm súng bắn vào đầu mình, thì bạn sẽ chết!” thì thế giới sẽ hạnh phúc và thanh bình hơn.

Kết thúc cuộc trò chuyện, tôi hơi phân vân không biết mình hay người bạn kia là con ếch dưới đáy giếng nữa! Tuy nhiên, một hồi lâu, tôi bừng tỉnh và nghĩ rằng, việc tìm câu trả lời cho những lập luận trên là không cần thiết, nó cũng giống như việc cố giải thích về sóng vô tuyến hay sóng wifi cho những người tiền sử vậy.

Cho nên, là một Phật tử, thì điều quan trọng là phải hiểu rõ Tứ Diệu Đế của đức Phật và thực hành Bát Chánh Đạo để thoát khỏi hoặc giảm bớt khổ đau trên cõi đời này.

À quên! Bộ phim mà người bạn tôi giới thiệu thật sự rất hay. Nhưng ở một góc nhìn khác, tôi nhận ra rằng, nếu ai đó có kiến thức đa dạng đến những chi tiết nhỏ nhất trong lĩnh vực mà bạn nghiên cứu. Bằng cách lồng ghép những “dữ liệu chính xác” mà bạn biết trong sách vỡ, cộng thêm một số “dữ liệu sai lệch” nhưng có tính logic, thì sẽ cho ra một kết quả khác cũng rất thuyết phục, và có thể làm lây động đôi chút quan điểm của bạn.

Hoa Sen Phật

Bạn đang đọc nội dung bài viết Chợ Lách Thăm, Chúc Mừng Ban Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Huyện Nhân Lễ Phật Đản Năm 2022 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!