Đề Xuất 12/2022 # Chế Tài Đối Với Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Không Hợp Pháp Của Chính Quyền Địa Phương / 2023 # Top 16 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Chế Tài Đối Với Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Không Hợp Pháp Của Chính Quyền Địa Phương / 2023 # Top 16 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Chế Tài Đối Với Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Không Hợp Pháp Của Chính Quyền Địa Phương / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Chế tài đối với văn bản quy phạm pháp luật không hợp pháp của chính quyền địa phương

THS. NGUYỄN THỊ NGỌC MAI

Giảng viên Khoa Luật Hành chính, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.

Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích những hạn chế, bất cập trong quy định và áp dụng các biện pháp chế tài đối với văn bản quy phạm pháp luật không hợp pháp do chính quyền địa phương ban hành; đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện.

Từ khóa:chế tài, văn bản quy phạm pháp luật, chính quyền địa phương, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân.

Abstract: This article provides analysis of the shortcomings and inquadecies in the legal regulations and application of sanctions for illegal legal documents developed and issued by local authorities. On that basis, the author proposes some suggestions to improve the law.

            Keywords: sanctions, legal documents, local authorities, People’s Councils, People’s Committees.  

1. Đặt vấn đề

Ở nước ta, chính quyền địa phương (CQĐP) gồm Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND). Theo quy định của pháp luật,để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, CQĐP được ban hành văn bản quy phạm pháp luật(VBQPPL) với hình thức nghị quyết của HĐND, quyết định của UBND. VBQPPL do các cơ quan này ban hành khi áp dụng vào đời sống sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, đơn vị tại địa phương. Vì vậy, trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay thì yêu cầu đầu tiên đặt ra là VBQPPL của CQĐP phải đảm bảo tính hợp pháp – tức là phải đảm bảo được sự phù hợp về nội dung, hình thức và thủ tục xây dựng, ban hành VBQPPL với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, thực tiễn ban hành VBQPPL của CQĐP cho thấy, trong nhiều trường hợp yêu cầu về tính hợp pháp đã không được đảm bảo. Theo thống kê của Bộ Tư pháp, trong năm 2016 cơ quan đã phát hiện 88 văn bản trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền, hiệu lực và hình thức văn bản cùng nhiều văn bản sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày[1]; năm 2017 là 131/5.805[2] và trong năm 2018 là 57/4909[3]. Những văn bản này đã gây ra những hệ quả không tốt đối với xã hội, ảnh hưởng tới niềm tin của người dân vào năng lực quản lý, điều hành của CQĐP. Vấn đề đặt ra là đối với những VBQPPL bất hợp pháp này sẽ bị áp dụng biện pháp “chế tài” nào? Việc quy định và áp dụng các biện pháp đó trên thực tế đã phù hợp hay chưa?

2. Thực trạng quy định của pháp luật và áp dụng các chế tài đối với văn bản quy phạm pháp luật không hợp pháp của chính quyền địa phương

   Trước năm 2016, ở nước ta tồn tại song hai Luật ban hành VBQPPL là Luật ban hành VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004 (Luật 2004) và Luật ban hành VBQPPL năm 2008 (Luật 2008). Tuy nhiên, Luật 2004 không quy định cụ thể về các biện pháp chế tài đối với các VBQPPL không hợp pháp của CQĐP mà được suy đoán từ nguyên tắc tương tự của cơ quan trung ương để áp dụng cho địa phương, chủ yếu xử lý dựa vào các quy định trong Nghị định số 40/2010/NĐ- CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý VBQPPL (Nghị định số 40/2010). Đến năm 2015, Quốc hội đã hợp nhất Luật 2004 và Luật 2008 thành một luật chung – Luật ban hành VBQPPL năm 2015 (Luật 2015), trong đó quy định cụ thể về các biện pháp xử lý đối với VBQPPL không hợp pháp của CQĐP.

2.1. Đình chỉ, sửa đổi, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luậtkhông hợp pháp của chính quyền địa phương

2.1.1. Đình chỉ, sửa đổi, bãi bỏ nghị quyết của Hội đồng nhân dân

Thứ nhất, đình chỉ nghị quyết của HĐND. Đây là biện pháp chế tài được chủ thể có thẩm quyền áp dụng để tạm ngưng hiệu lực đối với nghị quyết của HĐND khi xác định rằng, nếu tiếp tục áp dụng nghị quyết đó có thể gây thiệt hại nghiêm trọng, ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân. Sau khi đình chỉ thi hành, chủ thể có quyền xử lý sẽ hoặc là ra quyết định bãi bỏ nghị quyết hoặc là cho phép nghị quyết tiếp tục có hiệu lực. Quyền đình chỉ có thể áp dụng trong các trường hợp saumột là, khi quyền đình chỉ và bãi bỏ nghị quyết đều thuộc về các cơ quan nhà nước ở trung ương. Trường hợp này được áp dụng đối với nghị quyết không hợp pháp của HĐND cấp tỉnh và HĐND ở đơn vị hành chính- kinh tế đặc biệt. Theo đó, khi có đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hoặc Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ tướng Chính phủ xem xét đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nghị quyết, sau đó đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) bãi bỏ; hai là, khi quyền đình chỉ và bãi bỏ những nghị quyết trái pháp luật thuộc về các chủ thể có thẩm quyền ở địa phương. Trường hợp này được áp dụng đối với nghị quyết của HĐND cấp huyện, cấp xã. Theo đó, Chủ tịch UBND có quyền đình chỉ việc thi hành nghị quyết HĐND cấp dưới trực tiếp, sau đó báo cáo UBND để đề nghị HĐND cùng cấp bãi bỏ. Trong trường hợp xác định nghị quyết đó không vi phạm các yêu cầu về tính hợp pháp, Chủ tịch UBND ra lệnh bãi bỏ việc đình chỉ và nghị quyết đó vẫn còn hiệu lực. Như vậy, đối với nghị quyết không hợp pháp của HĐND thì không có chủ thể nào vừa có quyền đình chỉ đồng thời vừa có quyền bãi bỏ nghị quyết.

Đây là biện pháp chế tài được chủ thể có thẩm quyền áp dụng để tạm ngưng hiệu lực đối với nghị quyết của HĐND khi xác định rằng, nếu tiếp tục áp dụng nghị quyết đó có thể gây thiệt hại nghiêm trọng, ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân. Sau khi đình chỉ thi hành, chủ thể có quyền xử lý sẽ hoặc là ra quyết định bãi bỏ nghị quyết hoặc là cho phép nghị quyết tiếp tục có hiệu lực. Quyền đình chỉ có thể áp dụng trong các trường hợp sau [4] khi quyền đình chỉ và bãi bỏ nghị quyết đều thuộc về các cơ quan nhà nước ở trung ương. Trường hợp này được áp dụng đối với nghị quyết không hợp pháp của HĐND cấp tỉnh và HĐND ở đơn vị hành chính- kinh tế đặc biệt. Theo đó, khi có đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hoặc Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ tướng Chính phủ xem xét đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nghị quyết, sau đó đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) bãi bỏ;, khi quyền đình chỉ và bãi bỏ những nghị quyết trái pháp luật thuộc về các chủ thể có thẩm quyền ở địa phương. Trường hợp này được áp dụng đối với nghị quyết của HĐND cấp huyện, cấp xã. Theo đó, Chủ tịch UBND có quyền đình chỉ việc thi hành nghị quyết HĐND cấp dưới trực tiếp, sau đó báo cáo UBND để đề nghị HĐND cùng cấp bãi bỏ. Trong trường hợp xác định nghị quyết đó không vi phạm các yêu cầu về tính hợp pháp, Chủ tịch UBND ra lệnh bãi bỏ việc đình chỉ và nghị quyết đó vẫn còn hiệu lực. Như vậy, đối với nghị quyết không hợp pháp của HĐND thì không có chủ thể nào vừa có quyền đình chỉ đồng thời vừa có quyền bãi bỏ nghị quyết.

Thứ hai, sửa đổi nghị quyết của HĐND. Sửa đổi là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định để làm thay đổi tên nghị quyết hoặc thay đổi một phần nội dung nghị quyết hiện hành trong khi vẫn giữ nguyên hiệu lực pháp lý của nghị quyết bị sửa đổi. Việc sửa đổi nghị quyết chỉ làm mất hiệu lực pháp lý của phần nội dung bị sửa đổi, những phần nội dung còn lại vẫn giữ nguyên giá trị. Sửa đổi được áp dụng trong trường hợp HĐND đã ban hành nghị quyết đó tự sửa đổi văn bản của mình. Tuy nhiên, nếu HĐND tự sửa đổi nghị quyết của mình thì không được xác định là chế tài nhưng trong các quy định của pháp luật trước đây, sửa đổi được coi là một biện pháp chế tài. Chẳng hạn, Hội đồng Bộ trưởng có quyền đề nghị Hội đồng Nhà nước (trong Hiến pháp 1980) hoặc Hội đồng Chính phủ có quyền đề nghị UBTVQH (trong Hiến pháp 1959) sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết không thích đáng của HĐND cấp tỉnh; HĐND có quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp khi cho rằng những nghị quyết đó là không thích đáng trên cơ sở đề nghị của UBND cùng cấp

Sửa đổi là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định để làm thay đổi tên nghị quyết hoặc thay đổi một phần nội dung nghị quyết hiện hành trong khi vẫn giữ nguyên hiệu lực pháp lý của nghị quyết bị sửa đổi. Việc sửa đổi nghị quyết chỉ làm mất hiệu lực pháp lý của phần nội dung bị sửa đổi, những phần nội dung còn lại vẫn giữ nguyên giá trị. Sửa đổi được áp dụng trong trường hợp HĐND đã ban hành nghị quyết đó tự sửa đổi văn bản của mình. Tuy nhiên, nếu HĐND tự sửa đổi nghị quyết của mình thì không được xác định là chế tài nhưng trong các quy định của pháp luật trước đây, sửa đổi được coi là một biện pháp chế tài. Chẳng hạn, Hội đồng Bộ trưởng có quyền đề nghị Hội đồng Nhà nước (trong Hiến pháp 1980) hoặc Hội đồng Chính phủ có quyền đề nghị UBTVQH (trong Hiến pháp 1959) sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết không thích đáng của HĐND cấp tỉnh; HĐND có quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp khi cho rằng những nghị quyết đó là không thích đáng trên cơ sở đề nghị của UBND cùng cấp [5] . Đến Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Hiến pháp mới 2013 thì quyền sửa đổi văn bản của cơ quan trung ương đối với văn bản của CQĐP không còn được quy định nữa. Điều này là hoàn toàn phù hợp với xu hướng dân chủ hóa cũng như tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho CQĐP khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình

Thứ ba, bãi bỏ nghị quyết của HĐND. Bãi bỏ là “bỏ đi không thi hành nữa”

Bãi bỏ là “bỏ đi không thi hành nữa” [6] . Tùy thuộc vào nghị quyết do HĐND cấp nào ban hành mà quyền bãi bỏ được quy định khác nhau: nghị quyết trái pháp luật của HĐND cấp tỉnh, HĐND ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt thì quyền bãi bỏ thuộc về UBTVQH trên cơ sở đề nghị của Thủ tướng Chính phủ; còn nghị quyết trái pháp luật của HĐND cấp huyện và HĐND cấp xã thì về quyền bãi bỏ thuộc về HĐND cấp trên trực tiếp trên cơ sở đề nghị của UBND cùng cấp.

2.1.2 Đình chỉ, sửa đổi, bãi bỏ quyết định của Ủy ban nhân dân

Thứ nhất, sửa đổi quyết định của UBND.Tương tự như nghị quyết của HĐND, sửa đổi quyết định không hợp pháp là việc làm được thực hiện bởi chính UBND đã ban hành quyết định đó, vì vậy không được xem là chế tài theo quy định của pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, nếu đối chiếu với các quy định của pháp luật trước đây thì sửa đổi lại là một biện pháp chế tài. Chẳng hạn, Hiến pháp 1980 quy định UBND có quyền sửa đổi quyết định của UBND cấp dưới và HĐND có quyền sửa đổi những quyết định không thích đáng của UBND cùng cấp; những quyết định không thích đáng của Uỷ ban hành chính các cấp còn có thể bị sửa đổi hoặc bãi bỏ bởi Hội đồng Bộ trưởng (hoặc trước đó là Hội đồng Chính phủ trong Hiến pháp 1959)

Tương tự như nghị quyết của HĐND, sửa đổi quyết định không hợp pháp là việc làm được thực hiện bởi chính UBND đã ban hành quyết định đó, vì vậy không được xem là chế tài theo quy định của pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, nếu đối chiếu với các quy định của pháp luật trước đây thì sửa đổi lại là một biện pháp chế tài. Chẳng hạn, Hiến pháp 1980 quy định UBND có quyền sửa đổi quyết định của UBND cấp dưới và HĐND có quyền sửa đổi những quyết định không thích đáng của UBND cùng cấp; những quyết định không thích đáng của Uỷ ban hành chính các cấp còn có thể bị sửa đổi hoặc bãi bỏ bởi Hội đồng Bộ trưởng (hoặc trước đó là Hội đồng Chính phủ trong Hiến pháp 1959) [7]

Thứ hai, đình chỉ, bãi bỏ quyết định của UBND. Quyết định do UBND ban hành khi có dấu hiệu xác định là không hợp pháp sẽ bị chủ thể có thẩm quyền đình chỉ hoặc bãi bỏ nếu có đủ căn cứ và chủ thể có quyền đình chỉ, đồng thời cũng có quyền bãi bỏ quyết định. Quyết định bị đình chỉ hoặc bãi bỏ trong các trường hợp saumột là, chủ thể có thẩm quyền ở trung ương vừa có quyền đình chỉ đồng thời có quyền bãi bỏ quyết định của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khi phát hiện văn bản có dấu hiệu không hợp pháp nhưng chưa khẳng định rõ và cần có thời gian để xác định một cách chắc chắn. Căn cứ khoản 4 Điều 98 Hiến pháp 2013, thì thẩm quyền này thuộc về Thủ tướng Chính phủ. Sau khi đình chỉ, Thủ tướng sẽ bãi bỏ quyết định nếu có đủ căn cứ xác định quyết định đó là không hợp pháp. Trường hợp xác định quyết định đó không trái pháp luật, Thủ tướng hủy bỏ việc đình chỉ và quyết định của UBND tiếp tục có hiệu lực; hai là, chủ thể có thẩm quyền ở địa phương vừa có quyền đình chỉ thi hành vừa có quyền bãi bỏ đối với quyết định không hợp pháp của UBND cấp huyện và cấp xã. Thẩm quyền này thuộc về Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp của UBND đã ban hành quyết định.

Quyết định do UBND ban hành khi có dấu hiệu xác định là không hợp pháp sẽ bị chủ thể có thẩm quyền đình chỉ hoặc bãi bỏ nếu có đủ căn cứ và chủ thể có quyền đình chỉ, đồng thời cũng có quyền bãi bỏ quyết định. Quyết định bị đình chỉ hoặc bãi bỏ trong các trường hợp sau [8] , chủ thể có thẩm quyền ở trung ương vừa có quyền đình chỉ đồng thời có quyền bãi bỏ quyết định của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khi phát hiện văn bản có dấu hiệu không hợp pháp nhưng chưa khẳng định rõ và cần có thời gian để xác định một cách chắc chắn. Căn cứ khoản 4 Điều 98 Hiến pháp 2013, thì thẩm quyền này thuộc về Thủ tướng Chính phủ. Sau khi đình chỉ, Thủ tướng sẽ bãi bỏ quyết định nếu có đủ căn cứ xác định quyết định đó là không hợp pháp. Trường hợp xác định quyết định đó không trái pháp luật, Thủ tướng hủy bỏ việc đình chỉ và quyết định của UBND tiếp tục có hiệu lực;, chủ thể có thẩm quyền ở địa phương vừa có quyền đình chỉ thi hành vừa có quyền bãi bỏ đối với quyết định không hợp pháp của UBND cấp huyện và cấp xã. Thẩm quyền này thuộc về Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp của UBND đã ban hành quyết định.

mà có thể coi đây là một sự lạm quyền[10]. Đính chính chỉ áp dụng khi văn bản có sai sót về căn cứ ban hành, thể thức, kỹ thuật trình bày còn trong trường hợp nội dung của văn bản không hợp pháp, thì sẽ xem xét áp dụng chế tài đình chỉ hay bãi bỏ. Điều này có nghĩa là, những sai sót về căn cứ ban hành, thể thức, kỹ thuật trình bày là những sai sót nhỏ? Trên thực tế, “đính chính” là biện pháp thường được sử dụng mặc dù chỉ mới được ghi nhận chính thức lần đầu tiên trong Nghị định số 40/2010/NĐ-CP. Ví dụ, trong năm 2014, UBND tỉnh ở các địa phương đã tự “đính chính” VBQPPL tới 242 lần và trong năm 2015 con số này là 211

Luật 2015 chỉ ghi nhận chính thức hai biện pháp chế tài đối với VBQPPL không hợp pháp là đình chỉ thi hành và bãi bỏ văn bản. Tuy nhiên, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành VBQPPL (Nghị định số 34/2016) hướng dẫn thi hành Luật 2015 lại bổ sung thêm biện pháp xử lý là “đính chính” văn bản (khoản 3 Điều 130). Với quy định của Nghị định số 34/2016 có thể hiểu “đính chính là một biện pháp xử lý văn bản trái pháp luật [9] . Xét một cách tổng thể, chúng tôi chia sẻ với ý kiến cho rằng, “đính chính” thực chất là sự “biến tấu” của “sửa đổi” văn bản, không phải là một biện pháp xử lý VBQPPL khiếm khuyết. Đính chính chỉ áp dụng khi văn bản có sai sót về căn cứ ban hành, thể thức, kỹ thuật trình bày còn trong trường hợp nội dung của văn bản không hợp pháp, thì sẽ xem xét áp dụng chế tài đình chỉ hay bãi bỏ. Điều này có nghĩa là, những sai sót về căn cứ ban hành, thể thức, kỹ thuật trình bày là những sai sót nhỏ? Trên thực tế, “đính chính” là biện pháp thường được sử dụng mặc dù chỉ mới được ghi nhận chính thức lần đầu tiên trong Nghị định số 40/2010/NĐ-CP. Ví dụ, trong năm 2014, UBND tỉnh ở các địa phương đã tự “đính chính” VBQPPL tới 242 lần và trong năm 2015 con số này là 211 [11]

Về hình thức văn bản đính chính, Nghị định số 34/2016 quy định rõ hình thức văn bản đính chính là công văn hành chính. Mặc dù vậy, trên thực tế, chính quyền địa phương thực hiện theo các cách khác nhau: có địa phương sử dụng VBQPPL để đính chính VBQPPL [12] , có địa phương sử dụng công văn để đính chính.

Chúng tôi cho rằng, việc Nghị định số 34/2016 quy định rõ hình thức văn bản sử dụng để đính chính có thể là một điểm tiến bộ, nhưng xét về phương diện lập pháp, lập quy thì không đảm bảo được nguyên tắc “pháp luật là tối thượng”. Bởi lẽ, không thể lấy một văn bản hành chính để đính chính cho một VBQPP, vô hình chung trong VBQPPL đó lại bao gồm một phần không phải là quy phạm pháp luật. Hơn nữa, thủ tục xây dựng, ban hành VBQPPL của CQĐP, đặc biệt là nghị quyết của HĐND phải tuân theo các giai đoạn với nhiều khâu, nhiều bước rất chặt chẽ mới cho ra được một “sản phẩm” nhưng khi nghị quyết này có “sai sót” thì lại sử dụng văn bản cá biệt do Thường trực HĐND (chứ không phải tập thể HĐND) để đính chính với thủ tục đơn giản hơn rất nhiều.

VBQPPL của CQĐP khi bị phát hiện không hợp pháp sẽ bị hai chủ thể có thẩm quyền xử lý là chính cơ quan đã ban hành văn bản và cơ quan cấp trên có thẩm quyền. Thường thì cơ quan cấp trên sẽ yêu cầu CQĐP tự xử lý trước bằng cách sửa đổi, đình chỉ hoặc bãi bỏ. Đó là điều hợp lý nhất, tránh được những bất cập trong ban hành và thực hiện pháp luật, tránh được những bất đồng giữa các cơ quan nhà nước với nhau. Song, trên thực tế, khi nhận được yêu cầu tự xử lý, cơ quan ban hành văn bản thường xử lý rất chậm chạp, mặc dù đã được cơ quan có thẩm quyền đốc thúc, nhắc nhở nhiều lần: “một số văn bản trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền đã có Kết luận kiểm tra và đôn đốc xử lý nhưng vẫn chưa được tiến hành xử lý hoặc xử lý chưa triệt để, chưa đúng hình thức và thời hạn theo quy định” [13]

Thực tiễn áp dụng các biện pháp đình chỉ, sửa đổi, bãi bỏ VBQPPL không hợp pháp của chính quyền địa phương cho thấy các chế tài này đã phát huy được vai trò của mình trong việc xử lý các văn bản bị khiếm khuyết, góp phần đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật cũng tồn tại một số bất cập sau:

Một là, theo quy định tại khoản 2 Điều 130 Nghị định số 34/2016, biện pháp bãi bỏ được áp dụng khi xác định VBQPPL của CQĐP được ban hành trái pháp luật về thẩm quyền, nội dung; nghị quyết của HĐND, quyết định quyết định của UBND vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ tục xây dựng ban hành. Tuy nhiên, Nghị định số 34/2016 không giải thích thế nào là “vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ tục xây dựng ban hành”, điều này gây khó khăn cho các chủ thể khi áp dụng biện pháp chế tài này.

Hai là, bãi bỏ quyết định của UBND là biện pháp chế tài thường do các cơ quan nhà nước cấp trên áp dụng. Tùy thuộc vào từng cấp UBND mà quyền bãi bỏ quyết định của chủ thể này là khác nhau. Tuy nhiên, trong Luật 2015 không có sự tương thích giữa các quy định về quyền bãi bỏ quyết định không hợp pháp của UBND, cụ thể:

(1) Đối với quyết định không hợp pháp của UBND cấp tỉnh sẽ có 2 chủ thể có quyền bãi bỏ là Thủ tướng Chính phủ và HĐND cấp tỉnh. Theo đó, Thủ tướng bãi bỏ khi quyết định của UBND trái với Hiến pháp, luật và VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên (khoản 2 Điều 165 Luật 2015); HĐND bãi bỏ quyết định của UBND cùng cấp khi trái với nghị quyết của mình, VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên (khoản 4 Điều 164). Nghị định số 34/2016 xác định các trường hợp Thủ tướng xem xét, bãi bỏ quyết định của UBND [14] , nhưng không xác định HĐND bãi bỏ quyết định của UBND trên cơ sở đề nghị của chủ thể nào và trong trường hợp nào.

(2) Đối với quyết định không hợp pháp của UBND cấp huyện và cấp xã sẽ có 2 chủ thể có quyền bãi bỏ là HĐND cùng cấp khi quyết định của UBND trái với nghị quyết của HĐND và VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên (khoản 4 Điều 164) và Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp (khoản 3 Điều 167). Tuy nhiên, các quy định hiện hành không xác định rõ loại quyết định sẽ thuộc quyền bãi bỏ của HĐND và loại quyết định nào sẽ thuộc quyền bãi bỏ của Chủ tịch UBND.

Ba là, nếu khoản 7 Điều 74 Hiến pháp năm 2013 quy định, UBTVQH có quyền bãi bỏ nghị quyết của HĐND cấp tỉnh trong trường hợp nghị quyết đó trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, thì khoản 2 Điều 165 Luật 2015 lại xác định UBTVQH chỉ bãi bỏ nghị quyết (là VBQPPL) của HĐND cấp tỉnh trong trường hợp trái với Hiến pháp, luật và VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên. Đồng thời, Nghị định số 34/2016 bổ sung thêm quy định Thủ tướng Chính phủ đề nghị UBTVQH bãi bỏ nghị quyết trái pháp luật của HĐND ở đơn vị hành chính kinh tế- đặc biệt (điểm b khoản 2 Điều 118). Như vậy, so với Hiến pháp năm 2013, quy định của Luật 2015 và Nghị định số 34/2016 vừa thu hẹp vừa mở rộng quyền bãi bỏ nghị quyết của UBTVQH.

Về thẩm quyền đình chỉ của Thủ tướng Chính phủ: Nếu Điều 98 Hiến pháp năm 2013 quy định Thủ tướng Chính phủ có quyền đình chỉ văn bản của UBND, văn bản của Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản  của cơ quan nhà nước cấp trên, thì khoản 2 Điều 165 Luật 2015 lại mở rộng thêm quyền của Thủ tướng đối với việc đình chỉ VBQPPL của CQĐP ở đơn vị hành chính- kinh tế đặc biệt; đồng thời thu hẹp lại quyền của Thủ tướng khi xác định chỉ đình chỉ VBQPPL của UBND cấp tỉnh trái với VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên và không đề cập tới việc đình chỉ văn bản của Chủ tịch UBND cấp tỉnh.

Có thể nói rằng, quy định của Luật 2015 và nghị định hướng dẫn thi hành nêu trên đã không thể hiện được đầy đủ tinh thần của Hiến pháp năm 2013.

2.2. Biện pháp khôi phục lại tình trạng cũ trước khi thực hiệnvăn bản quy phạm pháp luậtkhông hợp pháp của chính quyền địa phương

Trong Nhà nước pháp quyền, mọi thiệt hại do việc ban hành và thực hiện VBQPPL không hợp pháp gây ra phải được đền bù xứng đáng: “Các cơ quan có thẩm quyền phải đền bù thích đáng cho công dân và doanh nghiệp về những thiệt hại cả về danh dự và vật chất do những quyết định trái pháp luật gây ra” [15] . Do đó, về nguyên tắc, cơ quan ban hành văn bản sai, gây thiệt hại cho người dân thì phải bồi thường [16] . Đây là trách nhiệm của cơ quan nhà nước trước công dân, doanh nghiệp. Thông thường, căn cứ vào tính chất, mức độ không hợp pháp của văn bản, cơ quan có thẩm quyền lựa chọn các biện pháp xử lý như đình chỉ, sửa đổi, bãi bỏ; trường hợp việc áp dụng đã gây ra hậu quả, làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước thì nhất thiết phải áp dụng biện pháp khôi phục lại tình trạng cũ do việc thực hiện quyết định không hợp pháp gây ra.

Năm 2005, trên cơ sở kết quả kiểm tra, rà soát các văn bản quy định về xử lý vi phạm hành chính do địa phương ban hành, Bộ Tư pháp đã phát hiện 91/169 văn bản được kiểm tra của 31 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nội dung trái pháp luật thuộc các lĩnh vực: về trật tự an toàn giao thông (58 văn bản), về trật tự đô thị (6 văn bản); về xây dựng và tài nguyên môi trường (12 văn bản) và các lĩnh vực khác (15 văn bản). Để xử lý những văn bản không hợp pháp này, Bộ Tư pháp đã đề xuất nhiều biện pháp khác nhau như đình chỉ sau đó bãi bỏ hoặc hủy bỏ và khắc phục thiệt hại. Tuy nhiên, có những trường hợp không thể khắc phục được hậu quả như trường hợp người bị xử phạt (quyết định xử phạt do cá nhân, tổ chức xử phạt không có quyền xử phạt hoặc giao thẩm quyền xử phạt cao hơn thẩm quyền quy định, …) đã nộp tiền phạt và chấp hành xong các nghĩa vụ khác theo quy định thì Nhà nước không thể xem xét giải quyết lại [17]

2.3. Truy cứu trách nhiệm người có lỗi trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật không hợp pháp

“Việc xem xét, xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật phải căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ trái pháp luật của văn bản và hậu quả của nội dung trái pháp luật gây ra đối với xã hội và trên cơ sở tính chất, mức độ lỗi của cơ quan, người đã ban hành, tham mưu ban hành văn bản đó”. Theo đó, cơ quan ban hành văn bản có nội dung trái pháp luật phải tổ chức kiểm điểm, xác định trách nhiệm của tập thể và báo cáo cơ quan cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật; đồng thời, xem xét trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan trong việc ban hành văn bản có nội dung trái pháp luật. Cán bộ, công chức trong quá trình tham mưu soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, thông qua văn bản có nội dung trái pháp luật, tùy theo tính chất, mức độ lỗi và nội dung trái pháp luật của văn bản, phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật về kỷ luật cán bộ, công chức. Tuy nhiên, với những quy định như trên thì rất khó có thể áp dụng vào thực tiễn. Hơn nữa, Nghị định số34/2016 chỉ quy định truy cứu trách nhiệm đối với người đã ban hành VBQPPL trái pháp luật chứ không truy cứu đối với người có trách nhiệm trong việc thi hành văn bản đó. Đánh giá về công tác này có ý kiến cho rằng, ở nước ta trong thời gian qua, “việc đánh giá tác hại và xử lý trách nhiệm người ban hành sai vẫn chưa quyết liệt, chưa bảo đảm tính nghiêm minh đủ để ngăn chặn những trường hợp tương tự về sau, … trong khi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước lại không xác lập trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người dân khi cơ quan nhà nước ban hành VBQPPL sai trái”Các VBQPPL không hợp pháp do CQĐP ban hành về nguyên tắc phải bị đình chỉ bãi bỏ ; đồng thời, để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, cần truy cứu trách nhiệm của các chủ thể có lỗi trong việc xây dựng, ban hành các VBQPPL không hợp pháp. Điều 134 Nghị định số34/2016 quy định:Theo đó, cơ quan ban hành văn bản có nội dung trái pháp luật phải tổ chức kiểm điểm, xác định trách nhiệm của tập thể và báo cáo cơ quan cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật; đồng thời, xem xét trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan trong việc ban hành văn bản có nội dung trái pháp luật. Cán bộ, công chức trong quá trình tham mưu soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, thông qua văn bản có nội dung trái pháp luật, tùy theo tính chất, mức độ lỗi và nội dung trái pháp luật của văn bản, phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật về kỷ luật cán bộ, công chức. Tuy nhiên, với những quy định như trên thì rất khó có thể áp dụng vào thực tiễn. Hơn nữa, Nghị định số34/2016 chỉ quy định truy cứu trách nhiệm đối với người đã ban hành VBQPPL trái pháp luật chứ không truy cứu đối với người có trách nhiệm trong việc thi hành văn bản đó. Đánh giá về công tác này có ý kiến cho rằng, ở nước ta trong thời gian qua, “việc đánh giá tác hại và xử lý trách nhiệm người ban hành sai vẫn chưa quyết liệt, chưa bảo đảm tính nghiêm minh đủ để ngăn chặn những trường hợp tương tự về sau, … trong khi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước lại không xác lập trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người dân khi cơ quan nhà nước ban hành VBQPPL sai trái” [18] . Chúng tôi cho rằng, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng ban hành văn bản có dấu hiệu trái pháp luật xảy ra phổ biến trong thời gian qua, làm giảm sút lòng tin của người dân vào cơ quan quản lý nhà nước [19]

3. Một số kiến nghị

Để khắc phục những hạn chế, bất cập trong xử lý đối với việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật không hợp pháp của chính quyền địa phương chúng tôi đề xuất một số giải pháp sau:

Một là, cần bổ sung quy định hướng dẫn cụ thể về những tiêu chí để xác định tính không hợp pháp của văn bản khi áp dụng biện pháp bãi bỏ văn bản, trong đó có nội dung: “văn bản vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành”?

Hai là, cần phải sửa đổi các quy định trong Luật 2015 và Nghị định số 34/2016 về thẩm quyền áp dụng biện pháp bãi bỏ văn bản trái pháp luật của CQĐP để đảm bảo tính hợp hiến, tính đồng bộ, thống nhất của pháp luật.

Ba là, sửa đổi Nghị định số 34/2016 theo hướng bỏ quy định “đính chính” VBQPPL như là một biện pháp xử lý VBQPPL khi có sai sót về căn cứ pháp lý, thể thức, kỹ thuật trình bày để bảo đảm phù hợp với quy định của Luật 2015.

Bốn là, cần nghiên cứu sửa đổi quy định của pháp luật hiện hành theo hướng cho Tòa án quyền phán xử về tính hợp pháp của VBQPPLdo CQĐP ban hành như nhiều nước trên thế giới đã áp dụng

, cần nghiên cứu sửa đổi quy định của pháp luật hiện hành theo hướng cho Tòa án quyền phán xử về tính hợp pháp của VBQPPLdo CQĐP ban hành như nhiều nước trên thế giới đã áp dụng [20] .Chúng tôi cho rằng, hơn bất kỳ chủ thể nào khác trong bộ máy nhà nước, Tòa án sẽ là cơ quan phán xét về tính hợp pháp có sức thuyết phục nhất và vì lẽ công bằng nhất và có thể thực hiện theo quy trình: khi phát hiện ra và xem xét nội dung bất hợp pháp trong VBQPPL của CQĐP, Tòa án gửi thông báo cho cơ quan CQĐP đã ban hành văn bản để xử lý trước trong một khoảng thời gian nhất định; hết thời hạn đó, CQĐP không tự xử lý, xử lý không đúng hoặc VBQPPL có tính bất hợp pháp với mức độ nghiêm trọng gây thiệt hại cho người khởi kiện, Tòa có quyền tuyên hủy và yêu cầu cơ quan ban hành văn bản phải chịu trách nhiệm bồi thường.Việc trao cho Tòa án thẩm quyền này sẽ là một bước “đột phá”, góp phần hoàn thiện quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam./.

Báo cáo Công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL năm 2016 và phương hướng nhiệm vụ giải pháp năm 2017, tháng 4/2017.[1] Bộ Tư pháp,, tháng 4/2017.Báo cáo Công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL năm 2017 và phương hướng nhiệm vụ giải pháp năm 2018, tháng 4/2018, tr.4.[2] Bộ Tư pháp,, tháng 4/2018, tr.4.Báo cáo Tổng kết công tác tư pháp năm 2018 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác năm 2019, tháng 1/2019, tr.6.[3] Bộ Tư pháp,tháng 1/2019, tr.6.[4] Khi HĐND tự đình chỉ nghị quyết do mình ban hành thì đây là hậu quả nhẹ nhàng nhất đối với một nghị quyết không hợp pháp. Tuy nhiên, nếu HĐND tự đình chỉ nghị quyết do mình ban hành thì không phải là chế tài bởi “không ai tự ban phát công lý cho chính mình”.

Thẩm Quyền Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Của Chính Quyền Địa Phương Theo Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Năm 2022 / 2023

Trân trọng cảm ơn người dùng đã đóng góp vào hệ thống tài liệu mở. Chúng tôi cam kết sử dụng những tài liệu của các bạn cho mục đích nghiên cứu, học tập và phục vụ cộng đồng và tuyệt đối không thương mại hóa hệ thống tài liệu đã được đóng góp.

Many thanks for sharing your valuable materials to our open system. We commit to use your countributed materials for the purposes of learning, doing researches, serving the community and stricly not for any commercial purpose.

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (Luật năm 2015) có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2016, được ban hành để thay thế hai đạo luật là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004, đánh dấu một bước phát triển lớn trong tiến trình lập pháp của Việt Nam. Xuyên suốt 173 điều là nhiều nội dung mới, hiện đại với mục đích tạo khuôn khổ pháp lý thống nhất cho việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm xây dựng, vận hành hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch và khả thi góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội.

Bên cạnh một số điểm mới nổi bật như việc tách bạch quy trình xây dựng chính sách với quy trình soạn thảo, Luật năm 2015 đã có những thay đổi đáng kể về thẩm quyền ban hành văn bản của các chủ thể, trong đó có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) của chính quyền địa phương. Bài viết đánh giá những điểm mới về thẩm quyền ban hành VBQPPL của chính quyền địa phương để nhìn nhận những thách thức trong việc triển khai thực hiện Luật trong thời gian tới.

1. Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015

1.1. Chủ thể ban hành

Luật năm 2015 đã kế thừa những quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004 khi tiếp tục trao thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho các chủ thể ở địa phương đó là Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp tỉnh, huyện, xã. Tuy nhiên, đã bổ sung thêm một chủ thể mới là đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt. Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt được xác định là một cấp hành chính, có thể tương đương cấp huyện hoặc cấp tỉnh nhưng thẩm quyền kinh tế được xác định sẽ là tương đương với chính quyền cấp I (ngay bên dưới chính quyền trung ương mà sẽ tạm gọi là cấp tỉnh). Mỗi vùng lãnh thổ chỉ nên được trao quyền quản lý khi nó phải có những tiềm lực nhất định về kinh tế – chính trị – văn hóa – xã hội. Tiềm lực đó phải đủ mạnh, đủ tầm. Nền tảng đó là hệ thống pháp luật đầy đủ, chiến lược phát triển kinh tế với cơ cấu ngành, nghề và quy mô phù hợp, cơ sở vật chất như đất đai, nhà ở, công sở, nhà máy, xí nghiệp; vốn, đầu tư, cơ chế tự chủ, tự quản để trở thành một chủ thể kinh tế độc lập khác biệt với các chủ thể ở các vùng lãnh thổ khác. Dựa vào đó, Nhà nước sẽ trao quyền cho nó để hình thành tổ chức chính quyền ở đơn vị hành chính – lãnh thổ.

Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã dành Chương V với 4 Điều (từ Điều 74 – 77) quy định về “chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt”. Theo đó, Điều 74 đưa ra khái niệm đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt là đơn vị do Quốc hội quyết định thành lập, được áp dụng các cơ chế chính sách đặc biệt về kinh tế – xã hội, có chính quyền địa phương được tổ chức phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt đó”. Điều 75 quy định về tổ chức chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt với cơ cấu tổ chức gồm có HĐND và UBND, nguyên tắc tổ chức và phương thức hoạt động được thực hiện theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Điều 76, 77 quy định về thẩm quyền thành lập và giải thể đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt.

Có thể nói, việc Luật năm 2015 trao quyền ban hànhVBQPPL cho chủ thể đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt là hoàn toàn hợp lý, bởi lẽ chủ thể này cũng là một đơn vị hành chính trong hệ thống bộ máy nhà nước do Quốc hội thành lập cũng giống như các đơn vị hành chính khác như tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, xã, phường… Bên cạnh đó, theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, tổ chức đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt cũng bao gổm HĐND và UBND cũng tương đương với đơn vị hành chính khác. Do đó, việc trao thẩm quyền ban hành VBQPPL cho chủ thể này là hoàn toàn phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương, đồng thời có thể phát huy tốt nhất tiềm năng của các đơn vị này dựa trên cơ sở thế mạnh của từng vùng.

1.2. Thẩm quyền hình thức

Theo quy định của Luật năm 2015, hình thức VBQPPL do HĐND ban hành là nghị quyết, UBND ban hành là quyết định.

Thứ nhất, Luật năm 2015 đã bỏ hình thức chỉ thị của UBND các cấp

Hệ thống VBQPPL của nước ta hiện nay rất đa dạng về hình thức, với nhiều chủ thể có thẩm quyền khác nhau ban hành. Với nhiều hình thức VBQPPL khác nhau, dẫn đến hệ thống VBQPPL khá cồng kềnh, nhiều tầng nấc, phần nào làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Do đó, xuất phát từ thực tế này, chủ trương đơn giản hóa hình thức VBQPPL luôn được các cơ quan xây dựng pháp luật coi trọng. Luật năm 2015 cũng không phải ngoại lệ khi giảm bớt hình thức VBQPPL của UBND. Theo đó, UBND các cấp chỉ ban hành VBQPPL với hình thức quyết định, điều này có nghĩa chỉ thị của UBND sẽ không được ban hành với tư cách là VBQPPL nữa.

Với tư cách là một đơn vị hành chính trong hệ thống bộ máy nhà nước, Luật năm 2015 trao thẩm quyền ban hành VBQPPL cho đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt. Tương tự hình thức VBQPPL của HĐND và UBND các cấp được tổ chức tại các đơn vị hành chính bình thường, theo quy định tại Điều 29 Luật năm 2015, HĐND tại đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt ban hành nghị quyết, UBND đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt ban hành quyết định.

1.3. Thẩm quyền nội dung

Theo khoa học luật Việt Nam, thẩm quyền nội dung là giới hạn quyền lực mà pháp luật cho phép các chủ thể ban hành VBQPPL để quy định những vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Với từng hình thức văn bản được ban hành thì sẽ có những quy định tương ứng về nội dung được thể hiện trong văn bản đó.

Nội dung những văn bản do chính quyền địa phương ban hành quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân đã có những hạn chế nhất định khi chưa phân định một cách rõ ràng nội dung của văn bản do chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã ban hành, mà chủ yếu căn cứ dựa trên phạm vi ban hành văn bản. Điều đó dẫn đến tình trạng thụ động khi giải quyết những vấn đề phát sinh tại địa phương, cũng như tình trạng sao chép văn bản của cấp trên… Để khắc phục tình trạng này, trên cơ sở sự phân định thẩm quyền quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Luật năm 2015 đã quy định cụ thể nội dung của VBQPPL do từng cơ quan, từng cấp ban hành. Theo đó, HĐND cấp tỉnh ban hành nghị quyết để quy định: Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên; chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên; biện pháp nhằm phát triển kinh tế – xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương; biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của địa phương ( Điều 27).

UBND cấp tỉnh ban hành quyết định để quy định: Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên; biện pháp thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp về phát triển kinh tế – xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương; biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương (Điều 28).

HĐND cấp huyện, cấp xã ban hành nghị quyết, UBND cấp huyện, cấp xã ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật giao ( Điều 30 )

Như vậy, đối với nghị quyết của HĐND cấp tỉnh và quyết định của UBND cấp tỉnh, Luật năm 2015 đã quy định rõ hơn theo hướng VBQPPL của UBND cấp tỉnh quy định chi tiết những vấn đề được văn bản cấp trên giao; tổ chức, đảm bảo thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương và quyết định những vấn đề cụ thể tại địa phương. Riêng đối với nghị quyết của HĐND, quyết định của UBND cấp huyện, xã, Luật năm 2015 đã giới hạn chỉ được ban hành để quy định những vấn đề được luật giao.

2. Một số đề xuất đối với việc triển khai thực hiện Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015

Thứ nhất, Luật năm 2015 quy định HĐND cấp tỉnh có quyền ban hành nghị quyết, UBND cấp tỉnh có quyền ban hành quyết định để quy định chi tiết, điều khoản, điểm được giao trong VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên. Thiết nghĩ, việc giao cho cấp dưới quy định chi tiết văn bản của cấp trên sẽ phù hợp khi cơ quan được giao là một cơ quan có thẩm quyền chung trong cả nước (Quốc hội giao Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật) hay cơ quan chuyên môn ở trung ương (Quốc hội, Chính phủ giao cho bộ quy định chi tiết luật, nghị định), vì như vậy vừa đạt được mục đích của ủy quyền, vừa đảm bảo được sự thống nhất của pháp luật. Còn việc Luật năm 2015 trao quyền cho HĐND, UBND cấp tỉnh ban hành văn bản để quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong VBQPPL của cấp trên không thực sự phù hợp. Bởi có thể đưa ra lý do cho việc ủy quyền này là xuất phát từ sự đặc thù riêng biệt về địa lý, dân cư, điều kiện kinh tế, xã hội… của từng địa phương nên cơ quan nhà nước cấp trên trao quyền chủ động cho địa phương quy định cụ thể. Tuy nhiên, nếu giải thích như vậy sẽ trùng lặp giữa khoản 1 và khoản 4 Điều 27. Còn nếu việc ủy quyền xuất phát từ lý do khác, thì có thể dẫn đến sự thiếu thống nhất trong hệ thống pháp luật từ trung ương đến địa phương, bởi khi trao quyền quy định chi tiết cho địa phương, thì hoàn toàn có thể xảy ra tình trạng các địa phương quy định không giống nhau về cùng một vấn đề được giao.

Thứ hai, về VBQPPL của HĐND và UBND cấp huyện, xã, Luật năm 2015 quy định các chủ thể được phép ban hành VBQPPL quy định những vấn đề được giao trong luật, tức là khi có sự ủy quyền của Quốc hội. Trên thực tế, thông thường Quốc hội chỉ giao việc quy định những vấn đề chi tiết cho Chính phủ hoặc các bộ, do đó việc giao cho chính quyền địa phương cấp huyện, xã quy định văn bản chi tiết là điều khó xảy ra. Về vấn đề này, có một số quan điểm cho rằng nên cắt bỏ thẩm quyền ban hành VBQPPL của chính quyền địa phương cấp huyện, xã, tuy nhiên theo tác giả trong những năm trở lại đây nhu cầu ban hành VBQPPL của cấp huyên, xã là hoàn toàn có thực, mặc dù không lớn. Bên cạnh đó, vấn đề tự quản, tự chịu trách nhiệm của cấp huyện, xã được bàn đến sôi nổi và là khuynh hướng xây dựng chính quyền địa phương hiện nay. Nếu nói đến vấn đề tự quản, tự chịu trách nhiệm, thì có lẽ không chỉ dừng lại ở việc tự quản, tự chịu trách nhiệm về việc giải quyết những vấn đề cụ thể mà tự quản, tự chịu trách nhiệm còn bao hàm cả việc tự định ra các chủ trương, biện pháp quản lý áp dụng chung trên phạm vi địa bàn quản lý. Vì vậy, rất nên quy định chính quyền cấp huyện, xã có thẩm quyền ban hành VBQPPL nhưng cần quy định rõ ràng hơn, cụ thể hơn.

Thứ tư, khoản 4 Điều 27 Luật năm 2015 quy định HĐND ban hành quyết định quy định biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Tuy nhiên, Điều 14 Luật năm 2015 lại nghiêm cấm quy định thủ tục hành chính trong VBQPPL của chính quyền địa phương. Việc quy định như vậy sẽ gây khó khăn cho HĐND khi quy định các biện pháp đặc thù cho địa phương mình, vì thông thường địa phương sẽ có những hướng dẫn về trình tự, thủ tục thực hiện khi ban hành một biện pháp đặc thù nào đó trong khi Luật lại quy định HĐND không được quyền đặt ra thủ tục hành chính.

Tóm lại, mặc dù vẫn còn những quy định gây tranh cãi, tuy nhiên không thể phủ nhận Luật năm 2015 đã có những điểm mới, tiến bộ khi quy định về thẩm quyền ban hành VBQPPL của chính quyền địa phương, góp phần thống nhất, đồng bộ, minh bạch hệ thống VBQPPL, nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý hành chính nhà nước ở trung ương đến địa phương.

ThS. Hoàng Ngọc Hải

Kiểm Tra Và Xử Lý Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Do Chính Quyền Địa Phương Ban Hành Ở Nước Ta Hiện Nay / 2023

đại học quốc gia hà nộikhoa luật

tr-ơng thị ph-ơng lan

kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luậtdo chính quyền địa ph-ơng ban hànhở n-ớc ta hiện nay

luận văn thạc sĩ luật học

Hà nội – 2007

đại học quốc gia hà nộikhoa luật

tr-ơng thị ph-ơng lan

kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luậtdo chính quyền địa ph-ơng ban hành

ở n-ớc ta hiện nayChuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà n-ớc và pháp luậtMã số

: 60 38 01

luận văn thạc sĩ luật học

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS. Trần Minh H-ơng

Hà nội – 2007

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứukhoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫntrong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trungthực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từngđược ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trương Thị Phương Lan

Chương 1:

1Những vấn đề cơ bản về kiểm tra, xử lý văn bản quy

phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành

1.1.

Khái quát về văn bản quy phạm pháp luật do chính quyềnđịa phương ban hành

7

1.1.1.

Khái niệm, vai trò, ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật

7

1.1.2.

Thẩm quyền ban hành, hình thức và nội dung của văn bảnquy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành

11

1.2.

Hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật dochính quyền địa phương ban hành

14

1.2.1.

Hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

14

1.2.1.1. Khái niệm và vai trò của kiểm tra văn bản quy phạm phápluật

14

1.2.1.2. Mục đích và nguyên tắc của kiểm tra văn bản quy phạmpháp luật

20

1.2.1.3. Phương thức kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

21

1.2.1.4. Chủ thể và phạm vi đối tượng của kiểm tra

23

1.2.1.5. Nội dung kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

25

1.2.2.

Hoạt động xử lý văn bản quy phạm pháp luật

1.2.2.1. Khái niệm và vai trò của hoạt động xử lý văn bản quy phạm

pháp luật1.2.2.2. Các nguyên tắc xử lý văn bản trái pháp luật

28

1.2.2.3. Thẩm quyền xử lý văn bản quy phạm pháp luật do chínhquyền địa phương ban hành

29

1.2.2.4. Các hình thức xử lý

32

1.2.3.

Thủ tục kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật

34

Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm

39

pháp luật do chính quyền địa phương ban hành

2.1.

Thực tiễn soạn thảo, ban hành và quản lý văn bản quyphạm pháp luật của chính quyền địa phương

39

2.2.

Quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động kiểm tra vàxử lý văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địaphương ban hành

44

2.2.1.

Quy định pháp luật về tổ chức bộ máy của các cơ quankiểm tra văn bản

48

2.2.2.

Quy định pháp luật về nghiệp vụ kiểm tra và xử lý văn bản

50

2.2.3.

Quy định của pháp luật về các điều kiện bảo đảm cho hoạtđộng kiểm tra

51

2.3.

Thực trạng hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản quy phạmpháp luật do chính quyền địa phương ban hành

51

2.3.1.

Về tổ chức bộ máy

52

2.3.2.

Về mặt thể chế

53

2.3.3.

Về đội ngũ cán bộ công chức làm công tác kiểm tra, xử lývăn bản quy phạm pháp luật

56

2.3.4.

Về chế độ chính sách

56

2.3.5.

Các điều kiện khác bảo đảm cho công tác kiểm tra văn bản

56

Tình hình kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật

57

Chương 3:

74

Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng hoạtđộng kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật dochính quyền địa phương ban hành

3.1.

Phương hướng và quan điểm nâng cao chất lượng hoạtđộng kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật do chínhquyền địa phương ban hành

74

3.2.

Các giải pháp hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt độngkiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật do chính quyềnđịa phương ban hành

77

Kết luận

95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

97

1. Tính cấp thiết của đề tàiXây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là chủ trương lớn củaĐảng và Nhà nước ta, điều đó đã được thể chế tại Hiến pháp nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001): “Nhà nước Cộng hòaxã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhândân, do nhân dân và vì nhân dân” (Điều 2). Một trong những tiêu chí rất quantrọng của nhà nước pháp quyền là phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện đểquản lý thống nhất nhà nước và xã hội, đặc biệt trong điều kiện hiện nay, Việt Namđang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng nền kinh tế thị trường vàphát huy dân chủ thì vấn đề xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật càng trở nêncần thiết. Những năm trở lại đây, công tác xây dựng và ban hành văn bản quyphạm pháp luật (QPPL) có những chuyển biến tích cực, chất lượng văn bản QPPLngày càng được nâng cao. Tuy vậy, trong thực tế, vẫn tồn tại tình trạng văn bảnmâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, không phùhợp với các quy định của văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn.Luật ban hành văn bản QPPL năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002), LuậtBan hành văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân(UBND) năm 2004 là những cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động soạn thảo,ban hành văn bản QPPL của các cơ quan nhà nước và chính quyền địa phươngnhằm bảo đảm trật tự, kỷ cương trong công tác xây dựng văn bản QPPL nói chungvà công tác kiểm tra nói riêng. Thực tế công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPLtrong thời gian qua cho thấy, mặc dù đã phát hiện khá nhiều văn bản QPPL dochính quyền địa phương ban hành trái luật, gây hậu quả nghiêm trọng về vật chất,vi phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân… Tuy nhiên, công tác giámsát, kiểm tra văn bản QPPL và xử lý văn bản trái pháp luật vẫn chưa thực sự đượcchú trọng một cách đúng mức, công tác kiểm tra văn bản chưa được tiến hành

QPPL do chính quyền địa phương ban hành nói riêng để làm cơ sở cho việc nghiêncứu đối tượng của hoạt động kiểm tra;– Nghiên cứu cơ sở pháp lý và thực trạng hoạt động kiểm tra, xử lý văn bảnthông qua phương thức tự kiểm tra văn bản do cơ quan mình ban hành và kiểm travăn bản QPPL của các cơ quan khác theo thẩm quyền để đưa ra đánh giá nhữngmặt đạt và chưa đạt trong công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL;– Xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản QPPL trên cơ sở đề xuấtnhững phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra, xửlý văn bản QPPL do chính quyền địa phương ban hành ở nước ta trong giai đoạnhiện nay.Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào hoạt động kiểm tra, xử lý văn bảnquy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành trên tinh thần Nghị định số135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản QPPLvà Thông tư số 01/2004/TT-BTP ngày 16/6/2004 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướngdẫn thi hành một số điều của Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 củaChính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản QPPL, nghĩa là đi sâu tìm hiểu nghiệp vụ củacác cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản QPPLdo chính quyền địa phương (gồm HĐND và UBND) ban hành.4. Nội dung nghiên cứu chính của luận vănTrên cơ sở các nhiệm vụ đã đề ra, luận văn tập trung nghiên cứu một số nộidung cơ bản sau:– Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về kiểm tra và cơ chế kiểm tra văn bản QPPLnhư: khái niệm kiểm tra văn bản QPPL, phân biệt kiểm tra và một

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÁC VĂN BẢN, NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứVI, Nxb Sự thật, Hà Nội.2. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứVII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứVIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC4. Bộ Nội vụ – Văn phòng Chính phủ (2005), Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLTBNV-VPCP ngày 06/5 hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản,Hà Nội.5. Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp (2004), Thông tư liên tịch số 109/2004/TTLTBTC-BTP ngày 17/11 hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí bảođảm cho công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.6. Bộ Tư pháp (2004), Thông tư số 01/2004/TT-BTP ngày 16/6 về việc hướng dẫnthi hành một số điều của Nghị định 135/2003/NĐ-CP về kiểm tra và xử lývăn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.7. Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ (2005), Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-BTPBNV ngày 24/01 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số122/2004/NĐ-CP ngày 18/5/2004 của Chính phủ quy định chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức pháp chế các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơquan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương và doanh nghiệp nhà nước, Hà Nội.8. Chính phủ (1997), Nghị định số 94/CP ngày 06/9 về tổ chức pháp chế ở cácBộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hà Nội.

9. Chính phủ (1997), Nghị định số 101/NĐ-CP ngày 23/9 quy định chi tiết vàhướng dẫn thi hành một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạmpháp luật, Hà Nội.10. Chính phủ (2003), Quyết định số 909/2003/QĐ-TTg ngày 14/8 của Thủ tướngChính phủ về việc phê duyệt Chương trình đổi mới công tác xây dựng, banhành và nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.11. Chính phủ (2003), Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11 về kiểm tra và xửlý văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.12. Chính phủ (2004), Nghị định số 104/2004/NĐ-CP ngày 23/3 về Công báo nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội.13. Chính phủ (2004), Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4 về công tác vănthư, Hà Nội.14. Chính phủ (2004), Nghị định số 122/2004/NĐ-CP ngày 18/5 quy định chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức pháp chế các Bộ, cơ quan ngangBộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhândân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và doanh nghiệp nhà nước, HàNội.15. Chính phủ (2005), Chỉ thị số 32/2005/CT-TTg ngày 10/10 của Thủ tướngChính phủ về việc tăng cường công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạmpháp luật, Hà Nội.16. Chính phủ (2005), Nghị định số 161/2005/NĐ-CP ngày 27/12 quy định chi tiếtvà hướng dẫn thi hành một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạmpháp luật và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành vănbản quy phạm pháp luật, Hà Nội.17. Chính phủ (2006), Nghị định số 91/2006/NĐ-CP ngày 06/9 quy định chi tiết thihành một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hộiđồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Hà Nội.18. Quốc hội (1980), Hiến pháp, Hà Nội.

19. Quốc hội (1992), Hiến pháp, Hà Nội.20. Quốc hội (1996), Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.21. Quốc hội (2001), Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12 về việc sửa đổi, bổsung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam năm 1992, Hà Nội.22. Quốc hội (2001), Luật Tổ chức Quốc hội, Hà Nội.23. Quốc hội (2002), Luật số 02/2002/QH11 ngày 16/12 về sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.24. Quốc hội (2003), Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Hà Nội.25. Quốc hội (2004), Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồngnhân dân, Ủy ban nhân dân, Hà Nội.26. Quốc hội (2005), Nghị quyết số 55/2005/QH11 ngày 29/11 về kết quả giám sátviệc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướngChính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểmsát nhân dân tối cao, Hà Nội.27. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2005), Nghị quyết số 753/2005/NQ- UBTVQH11 ngày02/4 ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân, Hà Nội.CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC28. Bộ Tư pháp (2006), Báo cáo số 372/BC-BTP ngày 20/02 về tình hình soạnthảo, ban hành và kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.29. Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật – Bộ Tư pháp (2005), Báo cáo số152/BC-KTrVB ngày 30/11 về kết quả công tác năm 2005 và phươnghướng nhiệm vụ năm 2006 của Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật,Hà Nội.30. Bùi Thị Đào (2002), “Giám sát, kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật”,Nghiên cứu lập pháp, (9), tr. 47-51.

31. Trương Thị Hồng Hà (2005), “Nâng cao chất lượng ban hành văn bản quyphạm pháp luật của chính quyền địa phương”, Nhà nước và pháp luật, (1),tr. 10-15.32. Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (1993), Nxb Thuận Hóa, Huế.33. Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật (2001), Nxb Đại học quốc giaHà Nội.34. Hoàng Thị Ngân (2003), “Nội dung giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm phápluật”, Nghiên cứu lập pháp, (9), tr. 55-58.35. Quốc triều hình luật (1991), Nxb Pháp lý, Hà Nội.36. Sở Tư pháp – Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng (2006), Báo cáo số145/BC-STP ngày 29/12 về tình hình soạn thảo, ban hành và kiểm tra, xửlý văn bản quy phạm pháp luật năm 2006 của Ủy ban nhân dân các cấptrên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Đà Nẵng.37. Sở Tư pháp – Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2006), Báo cáo số 481/BCSTP ngày 20/12 về tình hình soạn thảo, ban hành và kiểm tra, xử lý vănbản quy phạm pháp luật 10 tháng đầu năm 2006, Thanh Hóa.38. Nguyễn Kim Thảm, Hồ Hải Thụy, Nguyễn Đức Dương (2005), Từ điển tiếngViệt, Nxb Văn hóa Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh.39. Nguyễn Văn Thâm (2001), Soạn thảo và xử lý văn bản quản lý nhà nước, NxbChính trị quốc gia, Hà Nội.40. Lưu Kiếm Thanh (2002), Kỹ thuật soạn thảo văn bản, Nxb Thống kê, Hà Nội.41. Lê Minh Thông, Nguyễn Như Phát (2002), Những vấn đề lý luận và thực tiễnvề Chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia,Hà Nội.42. Vũ Thư (2003), “Tính hợp pháp và hợp lý của văn bản pháp luật và các biệnpháp xử lý các khiếm khuyết của nó”, Nhà nước và pháp luật, (1), tr. 8-15.43. Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002), Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội.

44. Đào Trí Úc (1997) Nhà nước và pháp luật của chúng ta trong thời đại mới,Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.45. Đào Trí Úc (Chủ biên) (2003), Hương ước trong quá trình thực hiện dân chủ ởViệt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.46. Đào Trí Úc – Võ Khánh Vinh (Đồng chủ biên) (2003), Giám sát và cơ chếgiám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay, Nxb Côngan nhân dân, Hà Nội.47. Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang (2006), Báo cáo số 78/BC-UBND ngày 29/12về tình hình soạn thảo, ban hành và kiểm tra, xử lý văn bản quy phạmpháp luật năm 2006, Bắc Giang.48. Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định (2006), Báo cáo số 78/BC-UBND ngày 23/12về tình hình soạn thảo, ban hành và kiểm tra, xử lý văn bản quy phạmpháp luật, Bình Định.49. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2007), Báo cáo về tình hình soạn thảo,ban hành và kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật của thành phốHà Nội năm 2005, năm 2006 và 6 tháng đầu năm 2007, Hà Nội.50. Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng (2007), Báo cáo số 02/BC-UB ngày06/01 về công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật năm 2006 tạithành phố Hải Phòng, Hải Phòng.51. Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa (2007), Báo cáo số 08/UBND ngày 13/01 vềtình hình ban hành và kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật năm2006, Khánh Hòa.52. Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La (2006), Báo cáo số 171/BC-UBND ngày 29/12 vềcông tác ban hành, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật năm 2006, SơnLa.53. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (1999), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát năm1999, Hà Nội.

54. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2000), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát năm2000, Hà Nội.55. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2001), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát năm2001, Hà Nội.56. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2002), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát năm2002, Hà Nội.57. Võ Khánh Vinh (2004), Giáo trình Xây dựng pháp luật, Nxb Công an nhândân, Hà Nội.

Căn Cứ Chấm Dứt Quyền Sở Hữu Đối Với Tài Sản Theo Quy Định Của Pháp Luật / 2023

Căn cứ vào Việc các chủ thể có quyền sở hữu có thể bị chấm dứt trong các trường hợp pháp luật quy định. Vậy các căn cứ chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản được quy định cụ thể như thế nào? Bộ luật dân sự 2015, Lawkey xin đưa ra tư vấn về vấn đề này như sau:

Quyền sở hữu là quyền và pháp luật cho phép một chủ thể được có các quyền bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với một loại tài sản nào đó trong những điều kiện nhất định.

Việc chấm dứt quyền sở hữu đối với một tài sản là việc chấm dứt các quyền năng trên đối với chủ thể có quyền sở hữu đối với tài sản. Điều đó được thực hiện bởi ý chí của chủ sở hữu hoặc bởi những trường hợp do pháp luật quy định.

Các trường hợp chấm dứt quyền sở hữu do ý chí của chủ sở hữu

Các trường hợp này được quy định trong điều 238 và điều 239 của Bộ luật dân sự 2015

Khi chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu của mình cho người khác thông qua hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật hoặc thông qua việc để thừa kế thì quyền sở hữu đối với tài sản của người đó chấm dứt kể từ thời điểm phát sinh quyền sở hữu của người được chuyển giao.

– Chủ sở hữu có thể tự chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản của mình bằng cách tuyên bố công khai hoặc thực hiện hành vi chứng tỏ việc mình từ bỏ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản đó. Như vậy đây là một trong những căn cứ mà chủ sở hữu tự mình chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản của mình.

– Đối với tài sản mà việc từ bỏ tài sản đó có thể gây hại đến trật tự, an toàn xã hội, ô nhiễm môi trường thì việc từ bỏ quyền sở hữu phải tuân theo quy định của pháp luật.

Các trường hợp chấm dứt quyền sở hữu do pháp luật quy định

Các căn cứ này được quy định trong điều 240 đến điều 244 của Bộ luật dân sự 2015

– Trường hợp 1:

Tài sản không xác định được chủ sở hữu; tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy; tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên; gia súc, gia cầm bị thất lạc; vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên đã được xác lập quyền sở hữu cho người khác theo quy định tại các điều từ Điều 228 đến Điều 233 của Bộ luật dân sự 2015 thì quyền sở hữu của những người có tài sản đó chấm dứt.

Đây là những trường hợp xác lập quyền sở hữu đặc biệt và phải qua một thời hạn nhất định thì người tìm thấy, người phát hiện,… tài sản mới có quyền xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó hoặc tài sản đó sẽ thuộc về Nhà nước (đối với tài sản là bất động sản hoặc là di tích lịch sử – văn hóa)

– Trường hợp 2:

– Quyền sở hữu đối với một tài sản chấm dứt khi tài sản đó bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, nếu pháp luật không có quy định khác. Quyền sở hữu đối với tài sản bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu chấm dứt tại thời điểm phát sinh quyền sở hữu của người nhận tài sản đó.

– Lưu ý: Việc xử lý tài sản để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu không áp dụng đối với tài sản không thuộc diện kê biên theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Nhà nước trưng mua tài sản theo quy định của luật thì quyền sở hữu đối với tài sản của chủ sở hữu đó chấm dứt kể từ thời điểm quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực pháp luật.

Khi tài sản của chủ sở hữu do phạm tội, vi phạm hành chính mà bị tịch thu, sung quỹ nhà nước thì quyền sở hữu đối với tài sản đó chấm dứt kể từ thời điểm bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác có hiệu lực pháp luật.

– Tiêu dùng là việc sử dụng tài sản vào mục đích khai thác công dụng của tài sản đó và thường được dùng với tài sản có tính chất tiêu hao. Tiêu hủy là việc biến đổi hoàn toàn hình dạng, trạng thái, công dụng, tính chất,… của tài sản.

– Khi tài sản được tiêu dùng hoặc bị tiêu hủy, quyền sở hữu đối với tài sản đó chấm dứt.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Chế Tài Đối Với Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Không Hợp Pháp Của Chính Quyền Địa Phương / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!