Đề Xuất 5/2022 # Chế Định Mặc Cả Nhận Tội Theo Luật Hoa Kỳ: Kinh Nghiệm Cho Việt Nam # Top Like

Xem 23,463

Cập nhật nội dung chi tiết về Chế Định Mặc Cả Nhận Tội Theo Luật Hoa Kỳ: Kinh Nghiệm Cho Việt Nam mới nhất ngày 23/05/2022 trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 23,463 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Các Luật Bảo Vệ Quyền Sở Hữu Trí Tuệ Trong Bộ Chuẩn Luật Quốc Gia Hoa Kỳ
  • Giáo Dục Pháp Luật Ở Hoa Kỳ
  • Luật Lao Động Và Nghề Nail Tại Hoa Kỳ
  • Làm Nail Ở Mỹ Không Cần Bằng Hành Nghề?
  • Vấn Đề Bao Lương Cho Thợ Nail Tại Hoa Kỳ
  • Bài viết: Chế định mặc cả nhận tội theo pháp luật TTHS Hoa Kỳ và kinh nghiệm cho Việt Nam

    • Tác giả: Lê Huỳnh Tấn Duy
    • Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam số 05(117)/2018 – 2022, Trang 45-53

    TÓM TẮT

    Mặc cả nhận tội là một chế định đặc trưng trong pháp luật tố tụng hình sự các nước theo hệ thống án lệ nói chung và Hoa Kỳ nói riêng. Thủ tục này đã giúp giải quyết một tỷ lệ rất lớn các vụ án hình sự tại Hoa Kỳ, giảm bớt gánh nặng cho hệ thống tư pháp hình sự. Ngày nay, ngay cả những nước theo hệ thống pháp luật lục địa cũng đã tiếp thu và xây dựng chế định mặc cả nhận tội trong pháp luật quốc gia dưới những hình thức khác nhau. Bài viết tập trung trình bày, phân tích những vấn đề xoay quanh chế định mặc cả nhận tội theo pháp luật Hoa Kỳ như: nguồn gốc ra đời, khái niệm, đặc điểm; hình thức và thủ tục; các yêu cầu để một thỏa thuận nhận tội được chấp nhận; ưu và nhược điểm. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

    TỪ KHÓA: tố tụng hình sự Việt Nam, khái niệm, nguồn gốc, tố tụng hình sự Hoa Kỳ, mặc cả nhận tội,

    KEYWORDS: plea bargaining, Vietnamese criminal procedure law, feature, definition, US criminal procedure law, origin,

    1.1. Nguồn gốc của mặc cả nhận tội

    Bài viết cùng số tạp chí

    Thứ nhất, sự xuất hiện của tố tụng tranh tụng cùng với sự ra đời của luật về chứng cứ. Lịch sử cho thấy, đến giữa thế kỷ 18, tố tụng hình sự của các nước theo hệ thống thông luật tỏ ra có hiệu quả, xét xử bằng Bồi thẩm đoàn là một thủ tục ngắn gọn (summary proceeding).

    Thứ hai, truyền thống về tư tố. Như vậy thì họ có quyền được thỏa thuận giống như các bên trong vụ án dân sự. Nói cách khác, họ có quyền tự quyết việc buộc tội của mình. Đặc điểm này giúp chúng ta lý giải được nguyên nhân vì sao các nước theo hệ thống án lệ đã sử dụng chế định tự quyết buộc tội để giải quyết áp lực của việc tồn đọng án một cách tự nhiên hơn so với các nước thuộc hệ thống luật lục địa – nơi mà chức năng buộc tội được thực hiện bởi nhân viên nhà nước và luôn có sự lo lắng triền miên điều chỉnh quyền tự quyết của họ. Mặc cả nhận tội nếu được thực hiện thành công (trong phần lớn các trường hợp) thì Tòa án phải chấp nhận sự thỏa thuận giữa các bên (trừ khi có lý do chính đáng) Theo tu chính án thứ sáu Hiến pháp Hoa Kỳ thì trong tất cả trường hợp truy tố về hình sự, người bị buộc tội có quyền được xét xử bởi một Bồi thẩm đoàn vô tư, công bằng. Xét xử bằng Bồi thẩm đoàn là một đặc trưng của các nước theo hệ thống thông luật. Đối với Hoa Kỳ, đây còn là một quyền hiến định của người bị buộc tội, là một bảo đảm tố tụng rất quan trọng. Tuy nhiên, một khi thủ tục mặc cả nhận tội được thực hiện thành công cũng đồng nghĩa với việc người bị buộc tội đã từ bỏ quyền hiến định trên của mình.

    Thứ ba, thường được áp dụng bởi các nước theo hệ thống án lệ. Như đã phân tích, nguồn gốc ra đời của chế định mặc cả nhận tội một phần xuất phát từ truyền thống về tư tố của các nước theo hệ thống pháp luật Anh – Hoa Kỳ (với mô hình tố tụng tranh tụng). Vì vậy, chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy rằng chế định này được ghi nhận ở hầu hết các quốc gia theo hệ thống pháp luật trên. Tuy nhiên, với sự giao thoa, tiếp thu lẫn nhau giữa các mô hình tố tụng hình sự, mặc cả nhận tội đã xuất hiện ở một số nước thuộc hệ thống dân luật với mô hình tố tụng pha trộn (Pháp,) dưới những hình thức khác nhau. Cần phải lưu ý là ở những quốc gia không thừa nhận thủ tục mặc cả nhận tội, người bị buộc tội có thể nhận tội nhưng anh ta vẫn bị đưa ra xét xử. Việc nhận tội rút ngắn phiên tòa xét xử do ảnh hưởng bởi chất lượng của chứng cứ nhưng điều đó không có tác dụng loại trừ việc xét xử. (a) mặc cả buộc tội (charge bargaining) và (b) mặc cả kết án (sentence bargaining). Mặc cả buộc tội ám chỉ khả năng của công tố viên tiến hành thương lượng với bị cáo về mức độ buộc tội có thể sẽ thực hiện. Mặc cả kết án diễn ra khi một bị cáo đồng ý nhận tội để đổi lấy một bản án ít nghiêm khắc hơn.

    Trong khi đó, giáo sư Dervan lại phân chia mặc cả nhận tội thành bốn loại bao gồm: Điều này đồng nghĩa với việc thỏa thuận nhận tội sẽ không được chấp nhận. Ngoài ra, bị cáo còn có quyền được thông báo về những chứng cứ gỡ tội do bên công tố đang nắm giữ. Tùy từng loại thỏa thuận, Tòa án có quyền chấp nhận, bác bỏ hoặc hoãn việc đưa ra quyết định cho đến khi xem xét báo cáo tiền kết án (psentence report) hoặc thông báo cho bị cáo biết rằng bị cáo sẽ không được quyền rút lại thoản thuận ngay cả khi Tòa án không tuân theo đề xuất hoặc yêu cầu của các bên. Bên công tố có trách nhiệm thực hiện đầy đủ những cam kết của mình. Trước thời điểm Tòa án chấp nhận thỏa thuận thì bên công tố có quyền rút lại hoặc đưa ra đề nghị mới. Tương tự, bị cáo cũng có quyền rút lại thỏa thuận trước khi Tòa án chấp nhận nó vì bất cứ lý do nào hoặc không có lý do hoặc sau khi Tòa án chấp nhận thỏa thuận nhưng chưa ra bản án nếu Tòa án bác bỏ thỏa thuận hoặc bị cáo đưa ra một lý do hợp lý và công bằng cho việc rút lại thỏa thuận.

    (a) Thông báo cho các bên biết về việc Tòa án không chấp nhận thỏa thuận;

    (b) Thông báo cho bị cáo biết Tòa án không bị bắt buộc phải tuân theo thỏa thuận và cho bị cáo cơ hội rút lại thỏa thuận;

    (c) Thông báo cho bị cáo biết nếu không rút thỏa thuận thì Tòa án có thể xử lý vụ án theo hướng ít có lợi hơn cho bị cáo so với nội dung thỏa thuận.

    Phụ thuộc vào nội dung thỏa thuận nhận tội đã được các bên đồng ý, bị cáo có thể bị bắt buộc phải từ bỏ quyền kháng cáo đối với thỏa thuận này. Ngoài ra, nếu bị cáo đưa ra những thông tin không chính xác trong quá trình mặc cả thì có thể sẽ không được nhận sự khoan hồng. Bị cáo cũng có thể được yêu cầu phải khai báo chống lại bị cáo khác.

    2.3. Các yếu tố cần thiết để thỏa thuận nhận tội được chấp nhận

    Như đã trình bày, không phải bất kỳ thỏa thuận nhận tội nào sau khi được các bên đồng ý thì mặc nhiên sẽ được Tòa án chấp nhận và có hiệu lực pháp luật. Quy tắc tố tụng hình sự liên bang quy định trước khi chấp nhận thỏa thuận, Tòa án phải thẩm vấn cá nhân bị cáo tại phiên tòa công khai và đảm bảo rằng:

    3.1. Ưu điểm

    Thứ nhất, giúp các công tố viên và luật sư công giải quyết một khối lượng lớn các vụ án hình sự. Những luật sư ở cấp quận thường có giới hạn về nguồn lực nên không thể buộc tội đối với tất cả vụ án thuộc thẩm quyền. Vì thế, họ chỉ chọn những trường hợp có yếu tố công cộng và/ hoặc có khả năng kết tội cao. Ngược lại, những trường hợp cho thấy việc kết tội khó thành công sẽ được ưu tiên giải quyết bằng thủ tục mặc cả nhận tội.

    Tương tự, những luật sư công làm nhiệm vụ bào chữa cũng gặp khó khăn về nhân lực và như vậy mặc cả nhận tội sẽ giúp họ giải quyết vụ án nhanh hơn để có thời gian tập trung vào những vụ án khác mà họ nhận thấy cần thiết phải đưa ra xét xử. Mặc cả nhận tội cũng đem lại lợi ích cho những luật sư tư nhân vì giúp đẩy nhanh tiến trình giải quyết vụ án. Điều này đồng nghĩa với việc có thêm thù lao nhưng bỏ công sức ít hơn.

    Thứ hai, mang lại lợi ích cho bị cáo thông qua việc đề xuất một sự buộc tội nhẹ hơn hoặc bản án có lợi. Thông thường những bị cáo nhận tội thông qua thủ tục mặc cả sẽ được hưởng sự giảm nhẹ về hậu quả pháp lý hơn so với khi xét xử tại tòa. Bởi vì khi nhận tội, bị cáo đã thể hiện thái độ thành khẩn, hợp tác và ý thức trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình. Hơn nữa bên buộc tội cũng thường đưa ra những lời đề nghị nhân nhượng hơn nhằm giúp duy trì thủ tục mặc cả nhận tội. Ngay từ năm 1970 gần 90% các vụ án hình sự ở Hoa Kỳ đã được giải quyết thông qua thủ tục mặc cả nhận tội bất kể những cảnh báo và án lệ trước đó.

    Thứ tư, đem lại sự hài lòng cho bị hại thông qua việc giải quyết nhanh chóng vụ án, đặc biệt đối với những người không muốn khai báo tại phiên tòa. Thông qua mặc cả nhận tội, bị hại nhanh chóng biết được kết quả giải quyết vụ án, giúp giảm bớt sự chờ đợi, lo lắng về tính không chắc chắn của việc buộc tội khi xét xử tại tòa.

    Thứ năm, tạo sự gắn kết giữa các nhóm làm việc trong Tòa án. Mặc cả nhận tội mang lại lợi ích này bởi vì nó giúp hạn chế những mâu thuẫn, giảm sự không chắc chắn và duy trì mối quan hệ mật thiết giữa tất cả thành viên của các nhóm làm việc tại tòa bao gồm thẩm phán, công tố viên và người bào chữa.

    Thứ ba, quyết định tội trạng của bị cáo không thông qua xét xử. Điều này đồng nghĩa người bị buộc tội không thể thực hiện quyền bào chữa và được bảo đảm rằng việc có tội của họ phải được chứng minh trước Bồi thẩm đoàn một cách chắc chắn, không còn nghi ngờ (beyond resonable doubt) – một nguyên tắc tốt nhất để chống lại việc kết tội oan.

    Thứ tư, cho phép người phạm tội được nhận các bản án nhẹ hơn. Điều này làm giảm hiệu quả phòng ngừa tội phạm của các hình phạt nặng, tạo cho người phạm tội suy nghĩ rằng họ có thể thỏa thuận về cách thức giúp thoát khỏi sự trừng phạt một cách thích đáng đối với hành vi phạm tội mà họ đã thực hiện.

    Thứ năm, có thể người vô tội bị ép buộc phải nhận tội. Nghiên cứu cho thấy trong những trường hợp sau người vô tội thường nhận tội: (a) đối với các tội phạm ít nghiêm trọng, khi mà một lời nhận tội nhanh chóng sẽ giúp thoát khỏi tình trạng bị giam giữ; (b) những vụ án mà bị cáo bị kết tội sai (phát hiện ở cấp phúc thẩm), mặc cả nhận tội trong trường hợp này sẽ đảm bảo việc trả tự do ngay lập tức hoặc trong thời gian ngắn nhất; (c) bị cáo bị đe dọa sẽ gánh chịu các hình phạt nặng hơn nếu không nhận tội.

    4. Kinh nghiệm cho Việt Nam

    Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ trước đến nay chưa bao giờ ghi nhận chế định mặc cả nhận tội. Điều này một phần xuất phát từ quan niệm truyền thống cho rằng trách nhiệm hình sự là một loại trách nhiệm pháp lý thuộc thẩm quyền quyết định của Tòa án. Do đó, bên buộc tội và bên gỡ tội không thể mặc cả, thỏa thuận với nhau về kết quả giải quyết vụ án. Tác giả bài viết cũng không có ý định kiến nghị cơ quan lập pháp phải ngay lập tức bổ sung chế định mặc cả nhận tội vào pháp luật tố tụng hình sự nước ta. Điều này là không khả thi đối với thực tế Việt Nam hiện nay vì những lý do sau:

    Thứ nhất, cách nhìn nhận về trách nhiệm hình sự vẫn còn khá cổ điển và khắt khe. Trong Bộ luật Hình sự năm 2022 (sửa đổi, bổ sung năm 2022) và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2022 đã xuất hiện quan điểm đổi mới về trách nhiệm hình sự và thủ tục tố tụng thể hiện qua quy định cho phép bị hại hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho người bị buộc tội trong những trường hợp nhất định. Tuy nhiên, chế định này xét về bản chất hoàn toàn khác mặc cả nhận tội. Đây là sự thỏa thuận giữa bị hại và người bị buộc tội (victim-offender mediation) trong khi đó mặc cả nhận tội do bên buộc tội (đại diện cho nhà nước) và bên bào chữa tiến hành.

    Thứ hai, sự phản ứng của xã hội. Công chúng, xã hội chắc chắn sẽ có những phản ứng đối với đề xuất bổ sung chế định mặc cả nhận tội vào pháp luật tố tụng hình sự. Ở Việt Nam, ngay cả những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng vẫn còn nhận thức mang nặng tính trấn áp, trừng trị người phạm tội thì sự phản đối của công chúng đối với mặc cả nhận tội là điều rất có khả năng xảy ra. Hơn nữa sự mất lòng tin của người dân vào tính liêm minh, chính trực, công bằng của hệ thống tư pháp hình sự cũng là nguyên nhân làm cho họ nghi ngờ về mục đích chính của chế định mặc cả nhận tội.

    Thứ ba, trong một số cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ở nước ta có nơi, có lúc hiện tượng tiêu cực vẫn còn xảy ra. Do đó, nếu ghi nhận mặc cả nhận tội, giống như lịch sử của Hoa Kỳ đã từng trải qua, sẽ tạo thêm cơ hội cho những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện hành vi tham nhũng, tiêu cực, làm mất đi ý nghĩa thật sự của chế định này.

    Thứ tư, hoạt động của người bào chữa chưa thật sự có hiệu quả do nhiều nguyên nhân khác nhau. Đội ngũ luật sư còn thiếu, phân bố không đồng đều, trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận luật sư còn hạn chế. Trong khi đó, người dân vẫn chưa có thói quen hoặc không có khả năng tài chính để thuê luật sư bào chữa. Nếu có bổ sung mặc cả nhận tội cũng không hiệu quả vì người bị buộc tội không nhận được sự hỗ trợ cần thiết, đầy đủ từ người bào chữa của họ.

    Thứ năm, không có chế định mặc cả nhận tội các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng của Việt Nam vẫn giải quyết được phần lớn các vụ án hình sự. Điều này không chỉ đúng đối với nước ta mà còn ở những nước khác. Thực tế cho thấy số lượng các nước có ghi nhận mặc cả nhận tội chiếm thiểu số, trong khi đó đa số các nước trên thế giới không có chế định này nhưng vẫn xử lý được tội phạm.

    Như đã đề cập, mặc cả nhận tội có những hạn chế nhất định nhưng đồng thời cũng có nhiều ưu điểm. Dù là một chế định đặc trưng của các nước theo hệ thống thông luật nhưng với sự giao thoa, tiếp thu lẫn nhau giữa các mô hình tố tụng hình sự thì chế định này hoàn toàn có thể được ghi nhận trong pháp luật các nước theo hệ thống dân luật. Thực tế đã chứng minh pháp luật tố tụng hình sự Pháp, Nhật Bản đã ghi nhận chế định mặc cả nhận tội. Vì những lý do đã nêu, cơ quan lập pháp và giới nghiên cứu luật học ở Việt Nam sẽ không chấp nhận việc bổ sung thủ tục này ở thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, điều này có thể sẽ thay đổi trong tương lai. Đồng ý rằng không có mặc cả nhận tội thì chúng ta vẫn giải quyết được phần lớn vụ án hình sự, nhưng có thêm một thủ tục “phi truyền thống” nhưng ít phức tạp, ít tốn kém mà vẫn hiệu quả, nhanh chóng thì vẫn tốt hơn. Vấn đề cốt lõi là xác định thời điểm thích hợp để ghi nhận; thiết kế quy định pháp luật hạn chế tối đa những nhược điểm và phát huy lợi ích của chế định mặc cả nhận tội. Ở điểm này thì kinh nghiệm của các nước có truyền thống pháp luật, có mô hình tố tụng hình sự, có điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội tương đồng sẽ là những bài học có giá trị cho Việt Nam.

    CHÚ THÍCH

    Brady v. United States, 397 U.S. 742 (1970).

    John H. Langbein, “Understanding the Short History of Plea Bargaining”, Yale Law School, Faculty Scholarship Series, Paper 544, 1979, tr. 262.

    Langbein, tlđd (chú thích số 5), tr. 266.

    John H. Langbein, “Controlling Prosecutorial Discretion in Germany”, 41 University of Chicago Law Review 439, 1974, tr. 442 – 443, 448 – 450.

    Alschuler, tlđd, tr. 6.

    Alschuler, tlđd, tr. 24.

    Black’s Law Dictionary, 6th ed. (St. Paul, MN: West, 1990), tr. 1152 trích dẫn trong Larry J. Siegel, Frank Schmalleger, John L. Worrall, Courts and Criminal Justice in America, Prentice Hall, 2011, tr. 319.

    Larry J. Siegel, Frank Schmalleger, John L. Worrall, tlđd, tr. 319.

    Sẽ được phân tích rõ hơn ở tiểu mục 3.3 của bài viết.

    Tham khảo Nagashima Ohno và Tsunematshu, “Japan’s New Plea Bargaining System: A Tough New Compliance Risk for Companies with Japan Operations?”, NO&T Japan Legal, 2022 Update, http://www.noandt.com/en/publications/newsletter/documents/japan_no09.pdf, truy cập ngày 08/04/2018.

    , 1 Journal of Legal Studies 135 trích dẫn trong Langbein, tlđd (chú thích số 5), tr. 267.

    Dervan, tlđd.

    Larry J. Siegel, Frank Schmalleger, John L. Worrall, tlđd, tr. 324.

    Larry J. Siegel, Frank Schmalleger, John L. Worrall, tlđd, tr. 325.

    Quy tắc số 11(b) (3).

    Quy tắc số 11 (d).

    Quy tắc tố tụng hình sự liên bang, Quy tắc số 11 (b).

    Alschuler, tlđd (chú thích số 1), tr. 33.

    Dervan, tlđd.

    R. A. Weninger, “The Abolition of Plea Bargaining: A Case Study of El Pasco County, Texas”, University of California Los Angeles Law Review 35: 267, 1987 trích dẫn trong Larry J. Siegel, Frank Schmalleger, John L. Worrall, tlđd, tr. 321.

    Langbein, tlđd (chú thích số 5), tr. 262.

    John H. Blume, Rebecca K. Helm, “The Unexonerated: Factually Innocent Defendants Who Plead Guilty”, Cornell Law Faculty Working Papers, Paper 113, 2014, tr. 1.

    Khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2022 (sửa đổi, bổ sung năm 2022).

    [48] Điều 157, 230, 248 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2022.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • Albert Alschuler, “Plea Bargaining and Its History”, 79 Columbia Law Review 1, 1979
    • John H. Blume, Rebecca K. Helm, “The Unexonerated: Factually Innocent Defendants Who Plead Guilty”, Cornell Law Faculty Working Papers, Paper 113, 2014
    • Defending the Human Rights to a Fair Trial, “What is plea bargaining? A simple guide”, https://www.fairtrials.org/what-is-plea-bargaining-a-simple-guide/, accessed on 30/3/2018
    • Lucian E. Dervan, “Bargained Justice: Bargaining and Innocence in the United States”, Lecture in Japan, 2022, The Plea Bargaining Blog, http://thepleabargainingblog.blogspot.com/2015/12/professor-dervan-lectures-regarding.html, accessed on 30/3/2018
    • Yehonatan Givati, “The Comparative Law and Economics of Plea Bargaining: Theory and Evidence”, The Harvard John M. Olin Fellow’s Discussion Paper Series, Discussion Paper No. 39, 2011
    • Nagashima Ohno và Tsunematshu, “Japan’s New Plea Bargaining System: A Tough New Compliance Risk for Companies with Japan Operations?”, NO&T Japan Legal, 2022 Update, http://www.noandt.com/en/publications/newsletter/documents/japan_no09.pdf, accessed on 08/04/2018
    • John H. Langbein, “Understanding the Short History of Plea Bargaining”, Yale Law School, Faculty Scholarship Series, Paper 544, 1979
    • Larry J. Siegel, Frank Schmalleger, John L. Worrall, Courts and Criminal Justice in America, 2011, Prentice Hall
    • Akila Taleb-Karlsson, “Pleading Guilty: An Overview of the French Procedure”, Penal Reform International, 2022, https://www.penalreform.org/blog/pleading-guilty-overview-french-procedure/, accessed on 08/04/2018

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhu Cầu Tìm Hiểu Hệ Thống Pháp Luật Hoa Kỳ
  • Tổng Quan Về Hiến Pháp Hoa Kì
  • Tin Tức Thời Sự Mới Nóng Nhất Hôm Nay 6/4/2020: Bất Chấp Lệnh Cấm, Xe Khách Chở 30 Người Từra Hà Nội
  • Tin Tức Pháp Luật An Ninh Hình Sự Hôm Nay Ngày 6/4
  • Bài Viết Số 6 Ngữ Văn Lớp 9: Truyện Ngắn Làng Cho Thấy Những Chuyển Biển Trong Tình Cảm Của Người Nông Dân Việt Nam Thời Chống Pháp
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Chế Định Mặc Cả Nhận Tội Theo Luật Hoa Kỳ: Kinh Nghiệm Cho Việt Nam trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100