Đề Xuất 1/2023 # Cách Đọc Hiểu &Amp; Đoán Nghĩa Trong Tiếng Anh # Top 6 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 1/2023 # Cách Đọc Hiểu &Amp; Đoán Nghĩa Trong Tiếng Anh # Top 6 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Cách Đọc Hiểu &Amp; Đoán Nghĩa Trong Tiếng Anh mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Phần 1: Kỹ năng đoán nội dung của từ

Để đi sâu vào các kỹ năng đọc hiểu tiếng Anh, bạn cần nắm một số khái niệm căn bản như sau:

1. Word context – Ngữ cảnh

Là ngữ cảnh của một chữ nào đó, vị trí của chữ trong câu, cách kết hợp của nó với các chữ và các nhóm từ ở những câu gần đó.

2. Context analysis – Phân tích bối cảnh

Đoán nghĩa của một chữ hoàn toàn mới bằng cách phân tích tương quan giữa nó với các chữ, câu và cụm từ khác gần đó.

3. Context clues – Manh mối bối cảnh

Là những đầu mối, dấu hiệu giúp cho chúng ta hiểu, đoán nghĩa của một từ hoàn toàn mới mà không cần từ điển.

Thông thường trong một đoạn văn có những từ mới khó hiểu, luôn sẽ có những cách gợi ý đầu mối để chúng ta phân tích từ này. Có rất nhiều cách để phân tích đầu mối:

3.1 Explaination by details – Giải thích chi tiết

Giải thích bằng cách cho nhiều chi tiết. Bằng cách này, tác giả cho hàng loạt chi tiết vào, giải thích nhiều hơn về một sự việc nào đó để từ những chi tiết hoặc lời giải thích này, chúng ta nắm vững ngữ cảnh. Mà từ việc nắm vững ngữ cảnh, chúng ta đoán được nghĩa của từ mới.

Ví dụ:

Mary did satisfactory work. Mr John told her how pleased he was. At the end of the month, the boss gave her a pay raise. 

Cho rằng trong câu này chúng ta không hiểu nghĩa của từ “satisfactory” là gì, chúng ta phân tích như sau:

Phân tích từ loại: đây là một tính từ mô tả cho động từ “

work

”, cho nên từ này nói về bản chất công việc của Mary. ➜ Việc phân tích từ loại giúp cho chúng ta loại bỏ được những nghĩa không cần thiết.

Chúng ta đọc 2 câu tiếp theo, chúng ta có chữ “

pleased

” và “

pay raise

” là những từ mang nghĩa tốt lành.

Xác định tương quan giữa “

satisfactory

” và “

pleased, payraise

” ➜ các chữ này nằm trong tương quan nguyên nhân, kết quả.

Kết quả tốt lành ➜ nguyên nhân tốt lành.

Do đó chúng ta kết luận việc làm của Mary vừa làm hài lòng người khác, vừa có lợi cho bản thân.

➜ SATISFACTORY = thỏa đáng.

➜ Mary đã làm công việc thỏa đáng. Ông John nói với cô rằng ông đã hài lòng như thế nào. Vào cuối tháng, ông chủ đã tăng lương cho cô.

3.3 Example – Ví dụ:

Đôi khi một chữ có nhiều nghĩa. Bằng cách cho ví dụ, người viết có thể hướng chúng ta hiểu theo nghĩa mà họ mong muốn.

Ví dụ:

Bob has to use different alias in every States. For example in New York he called himself John, for Virginia he called himself Michael and in Florida he called himself Arthur.  (Bob phải sử dụng bí danh khác nhau ở mỗi tiểu bang. Ví dụ ở New York, anh tự gọi mình là John, đối với Virginia anh tự gọi mình là Michael và ở Florida, anh tự gọi mình là Arthur.)

3.3 Comparison – So sánh:

Chúng ta có thể đoán một từ thông qua phương pháp so sánh (thường đi kèm từ “as” hoặc “like”). Phương pháp so sánh này cung cấp cho bạn thông tin và chức năng ngữ pháp của từ đó thông qua từ dùng để so sánh.

Ví dụ:

She was as agile as a kitten. (Cô ấy nhanh nhẹn như một chú mèo con.)

3.4 Contrast – Tương phản

Chúng ta có thể đoán nghĩa của một từ bằng cách phân tích theo sự tương phản hoặc những từ đối lập nghĩa. Chúng ta thường có những từ gợi ý như: Not, Instead, Rather…than, Netherless,…

Ví dụ:

George was cautions,not careless with the gun. (George đã thận trọng, không bất cẩn với súng.)

5. Definition – Định nghĩa

Nằm ngay trong đoạn văn có chứa chữ mà chúng ta muốn tìm nghĩa, đôi khi người viết sẽ lồng vào đó một vài chi tiết có thể giúp chúng ta định nghĩa được từ chúng ta đang tìm.

Ví dụ:

Mary may want to drive a circular, or take a round driveway. (Mary có thể là muốn lái xe vòng tròn, hoặc lái xe đường vòng.)

Ngoài các cách trên, chúng ta vẫn có thể đoán nghĩa của từ dựa trên kinh nghiệm sống của bản thân chúng ta.

Ví dụ:

He was in emergency when he cut himself. (Anh ta đã rơi vào tình trạng khẩn cấp khi anh ta tự cắt chính mình.)

Phần 2: Bí quyết nâng cao kỹ năng đọc hiểu

1. Chọn tài liệu đọc ở cấp độ tiếng anh của bản thân

Nếu bạn đọc tài liệu mà quá khó, bạn sẽ nản lòng và dễ bị choáng ngợp. Nếu bạn đọc tài liệu quá dễ, bạn sẽ không thể phát triển kỹ năng đọc hoặc phát triển vốn từ vựng và thậm chí bạn có thể thấy nó nhàm chán.

Văn bản tiếng Anh hoàn hảo để đọc nên chứa không quá 10% từ chưa biết. Bất cứ đoạn văn nào có hơn 10% từ chưa biết có lẽ sẽ khá khó để bạn đọc.

2. Đọc một tài liệu với từ điển chuyên dụng

Khi đọc bất kỳ văn bản tiếng Anh, mẹo quan trọng nhất là đọc với một từ điển hoặc ứng dụng từ điển gần đó. Đọc với một từ điển cho phép bạn tìm kiếm những từ chưa biết khi bạn đọc. Tuy nhiên, trước hết bạn hãy thử những bước ở trên để có thể đoán nghĩa của từ và kiểm tra lại với từ điển sau đó.

Đối với người mới bắt đầu, điều này có thể có nghĩa là sử dụng một từ điển dịch các từ sang ngôn ngữ mẹ đẻ của bạn. Đối với những người học nâng cao hơn, bạn nên sử dụng một từ điển đơn ngữ, một từ chỉ có định nghĩa bằng tiếng Anh mà không có bản dịch. Từ điển đơn ngữ buộc bạn phải suy nghĩ bằng tiếng Anh hơn là dựa vào ngôn ngữ mẹ đẻ của bạn.

3. Tập trung vào những từ lặp đi lặp lại

Nếu một từ chỉ được sử dụng một lần, nó có thể không phải là một từ tiếng Anh rất phổ biến và do đó ít hữu ích hơn cho bạn để ghi nhớ.

4. Học các quy ước chính tả Tiếng Anh

Chính tả tiếng Anh là một trong những trở ngại lớn nhất đối với việc học đọc tiếng Anh. Vấn đề là cách đánh vần tiếng Anh rất thường xuyên không phản ánh âm thanh thực sự của một từ, do đó, việc đọc theo bản năng sẽ khiến bạn có thể bị mắc kẹt với những từ mới mà bạn không biết cách phát âm hoặc nghiêm trọng hơn là bạn sẽ không thể đọc đúng từ đó.

Bằng cách học các quy ước chính tả phổ biến, việc đọc văn bản sẽ duy trì dòng chảy tiếng Anh và bạn sẽ cải thiện khả năng đọc tổng thể của mình. Bạn cũng sẽ có một thời gian dễ dàng hơn bằng cách sử dụng những từ mà bạn đã học khi đọc trong cuộc sống thực.

5. Chia nhỏ văn bản để học

Khi mới bắt đầu, việc cố gắng đọc hiểu một đoạn văn dài trong khi từ vựng của bạn còn hạn chế sẽ khiến bạn cảm thấy mệt mỏi và chán nản.

Hãy chia nhỏ đoạn văn để học, bạn sẽ cảm thấy dễ dàng hơn rất nhiều. Hãy cố gắng luyện tập khi vốn từ bạn đã đủ lượng thì một đoạn văn dài sẽ không còn là vấn đề của bạn.

6. Tìm kiếm ý chính

Ý chính là ý nghĩa tổng thể. Nếu bạn không hiểu ý chính của văn bản, thì bạn thực sự không hiểu gì cả. Vì vậy, hãy thực hành cách tìm kiếm và chọn lọc các đầu mối để có được ý chính của một văn bản một cách nhanh chóng và hiệu quả.

Ví dụ:

Sử dụng bút highlight để xác định thông tin hoặc ý tưởng quan trọng trong văn bản.

Hãy chú ý đến các thì của động từ để bạn hiểu dòng thời gian của câu chuyện. (Là những sự kiện trong quá khứ, hiện tại hay tương lai đang được mô tả?)

Đừng ngại kiểm tra bất kỳ hình ảnh đi kèm với văn bản. Những hình ảnh này thường cung cấp thông tin quan trọng và chúng có thể bổ sung cho sự hiểu biết của bạn nếu bạn gặp khó khăn trong việc tìm ra các ý chính.

7. Viết tóm tắt cho những gì bạn đọc

Viết một bản tóm tắt là một cách tuyệt vời để củng cố lại những gì bạn đã đọc được, cũng như luyện tập cách sử dụng từ vựng mới đúng ngữ cảnh. Bạn hãy tập thói quen viết tóm tắt vào sổ ghi chép của mình và sau đó gạch chân từ vựng mới mà bạn đã học được từ việc đọc văn bản.

8. Hãy duy trì thường xuyên

Cuối cùng quan trọng nhất để nâng cao kỹ năng đọc hiểu tiếng Anh của bạn là hãy duy trì việc đọc tiếng anh thường xuyên. Hãy nhớ rằng, một chút đọc mỗi ngày sẽ tốt hơn đọc nhiều mỗi tháng một lần.

Để làm điều này, bạn nên đặt mục tiêu tạo thói quen đọc sách. Bạn hãy chọn một khoảng thời gian mỗi ngày và sau đó đọc một cái gì đó trong một khoảng thời gian nhất định.

Nhưng ngay cả với tính nhất quán, bạn có thể thấy kỹ năng đọc của mình tiến triển chậm hơn so với bạn mong đợi. Nếu bạn trở nên thất vọng hoặc buồn chán, bạn nên thay đổi tài liệu đọc của mình. Đọc những thứ mà bạn quan tâm sẽ cải thiện kỹ năng đọc của bạn rất nhiều, và cách tốt nhất để trở nên tốt hơn khi đọc tiếng Anh là đọc những gì bạn thích.

Đọc Hiểu Đề Số 13: Đọc Và Tìm Hiểu Bài

Đọc hiểu Đề số 13: Đọc và tìm hiểu bài – Đưa sách về làng, trích báo Nhân dân cuối tuần: Đưa những cuốn sách về với quê hương mình, với mái trường cũ thân thương của mình… Đưa những cuốn sách về với quê hương mình, với mái trường cũ thân thương của mình…Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản. Đoạn (2) giới thiệu những thông tin gì về hành động “đi bộ xuyên Việt” của anh Nguyễn Quang Thạch?…

1/ Văn bản 1: (1) Đưa những cuốn sách về với áo ê hương mình, với mái trường cũ thân thương của mình, để các em nhỏ sẽ không còn “khát” sách đọc. Đó là công việc thiện nguyện của những người tham gia chương trình “Sách hóa nông thôn Việt Nam”, đang chung tay đeo đuổi mục tiêu để 10 triệu trẻ em nông thôn có quyền đọc sách và có sách đọc như trẻ em thành phố. (2) Anh Nguyễn Quang Thạch, người khởi xướng chương trình hiện đang trong quá trình đi bộ xuyên Việt từ Hà Nội vào TP Hồ Chí Minh. Chuyến đi được khởi hành từ ngày mồng 1 Tết Ất Mùi và dự kiến sẽ hoàn thành vào trung tuần tháng 6-2015. Anh là cử nhân tiếng Anh, đã từng trải qua nhiều vị trí ở cơ quan nhà nước và từng làm việc cho một số tổ chức quốc tế. Chuyến đi bộ xuyên Việt của anh lần này là mong muốn kêu gọi cộng đồng chung tay nhân rộng tủ sách trong trường học, dòng họ… để đạt con số 300 nghìn tủ sách được xây dựng trên toàn quốc vào năm 2017, giúp hơn 10 triệu học sinh nông thôn có sách đọc. (…) (3) Chương trình Sách hóa nông thôn Việt Nam ra đời theo mong muốn của anh là nhằm giải quyết vấn đề thiếu sách ở nông thôn mà theo anh là để nâng cao dân trí, xây dựng tinh thần chia sẻ trách nhiệm xã hội trong cộng đồng. Tâm nguyện của anh là tạo ra một hệ thống thư viện mi-ni rộng khắp cả nước để mọi người dân thôn quê có thể tiếp cận tri thức. Chương trình Sách hóa nông thôn Việt Nam đến nay đã thực hiện thành công năm loại tủ sách, với hơn 3.800 tủ sách được xây dựng, giúp hơn 200 nghìn người dân nông thôn, đặc biệt là 100 nghìn học sinh nông thôn có cơ hội đọc 40 đầu sách/năm.”

( Đưa sách về làng, Nhân dân cuối tuần, 26/04/2015)

Câu 1. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản.

Câu 2. Đoạn (2) giới thiệu những thông tin gì về hành động “đi bộ xuyên Việt” của anh Nguyễn Quang Thạch?

Câu 3. Từ nội dung văn bản, hãy nêu mục tiêu và kết quả đạt được của chương trình “Sách hóa nông thôn Việt Nam”.

Câu 4. Theo số liệu của Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch: hiện nay, trung bình người Việt đọc 0,8 cuốn sách/năm. Từ thực trạng này, anh/chị hãy nhận xét ngắn gọn về anh Nguyễn Quang Thạch và chương trình “Sách hóa nông thôn Việt Nam” do anh khởi xướng. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng.

Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8: Tôi đứng lặng giữa cuộc đời nghiêng ngả Để một lần nhớ lại mái trường xưa Lời dạy ngày xưa có tiếng thoi đưa Có bóng nắng in dòng sông xanh thắm. Thoáng quên mất giữa tháng ngày ngọt đắng Trưởng thành này có bóng dáng hôm qua Nhớ được điều gì được dạy những ngày xa Áp dụng – chắc nhờ cội nguồn đã có. Nước mắt thành công hoà nỗi đau đen đỏ Bậc thềm nào dìu dắt những bước đi Bài học đời đã học được những gì Có nhắc bóng người đương thời năm cũ Vun xới cơn mơ bằng trái tim ấp ủ Để cây đời có tán lá xum xuê Bóng mát dừng chân là một chốn quê Nơi ơn tạ là mái trường nuôi lớn Xin phút tĩnh tâm giữa muôn điều hời hợt Cảm tạ mái trường ơn nghĩa thầy cô.

( Lời cảm tạ – sưu tầm)

Câu 5. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính trong đoạn thơ trên?

Câu 6. Nêu rõ phép tu từ được sử dụng trong câu thơ Thoáng quên mất giữa tháng ngày ngọt đắng.

Câu 7. Nêu nội dung chính của bài thơ trên.

Câu 8. Anh chị hiểu hai dòng thơ: “Vun xới cơn mơ bằng trái tim ấp ủ/ Để cây đời có tán lá xum xuê” như thế nào? Từ ý thơ này, hãy viết một đoạn văn ngắn nêu vai trò của mái trường và thầy cô đối với cuộc đời của mỗi người. trả lời trong 5-10 dòng.

Câu 1. Phong cách ngôn ngữ báo chí

Câu 2. Hành động đi bộ xuyên Việt của anh Nguyễn Quang Thạch:

– Về hành trình: từ Hà Nội vào TP Hồ Chí Minh

– Về thời gian: khởi hành từ ngày mồng 1 Tết Ất Mùi và dự kiến sẽ hoàn thành vào trung tuần tháng 6-2015.

– Về mục đích: kêu gọi cộng đồng chung tay nhân rộng tủ sách trong trường học, dòng họ… để đạt con số 300 nghìn tủ sách được xây dựng trên toàn quốc vào năm 2017, giúp hơn 10 triệu học sinh nông thôn có sách đọc.

Câu 3: – Mục tiêu: 10 triệu trẻ em nông thôn có quyền đọc sách và có sách đọc như trẻ em thành phố.

– Kết quả đạt được của chương trình “Sách hóa nông thôn Việt Nam”: thực hiện thành công năm loại tủ sách, với hơn 3.800 tủ sách được xây dựng, giúp hơn 200 nghìn người dân nông thôn, đặc biệt là 100 nghìn học sinh nông thôn có cơ hội đọc 40 đầu sách/năm

Câu 4: Cần nêu được quan điểm của bản thân về anh Nguyễn Quang Thạch và ý nghĩa của chương trình “Sách hóa nông thôn Việt Nam”. Câu trả lời phải chặt chẽ, có sức thuyết phục.

– Anh Nguyễn Quang Thạch: là một người có tâm huyết với cộng đồng, có lí tưởng sống đẹp, biết chăm lo cho sự phát triển của thế hệ trẻ, đặc biệt là trẻ em nông thôn.

– Chương trình “Sách hóa nông thôn Việt Nam”: là một chương trình thiết thực, ý nghĩa, giúp cho mỗi người có nhận thức đúng hơn về sách và quan tâm nhiều hơn đến việc đọc sách.

Câu 5: Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ: biểu cảm.

Câu 6: Câu thơ Thoáng quên mất giữa tháng ngày ngọt đắng sử dụng phép tu từ ẩn dụ: ngọt đắng: chỉ những thăng trầm, buồn vui trong cuộc đời.

Câu 7: Nội dung chính của đoạn thơ trên:

Đoạn thơ ghi lại tâm trạng, suy nghĩ của một người học trò khi đã rời xa mái trường với tình cảm yêu thương, trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc. Càng trưởng thành, càng nếm trải những thăng trầm, buồn vui trong cuộc sống, mỗi người lại càng thấm thía hơn tấm lòng bao dung, yêu thương và công lao của thầy cô, mái trường.

Câu 8: Hai dòng thơ: “Vun xới cơn mơ bằng trái tim ấp ủ/ Để cây đời có tán lá xum xuê” thể hiện công lao to lớn của thầy cô đối với học trò: chăm chút, thắp sáng ước mơ, niềm tin cho học trò bằng cả trái tim yêu thương để từ đây, các em bước ra đời vững vàng, cứng cáp, sẵn sàng cống hiến cho cuộc đời.

Đoạn văn cần nêu được vai trò của thầy cô và mái trường đối với cuộc đời mỗi người: giúp mỗi người hoàn thiện bản thân về trí tuệ, tâm hồn.

Đọc Hiểu Chí Khí Anh Hùng

1. Kiều bị lừa vào lầu xanh lần thứ hai, tâm trạng nàng vô cùng đau khổ và tuyệt vọng. May sao Từ Hải đột ngột xuất hiện, đã coi Kiều như một tri kỉ và cứu nàng ra khỏi lầu xanh. Hai người đều thuộc hạng người bị xã hội đương thời coi thường (một gái giang hồ và một là giặc) đã đến với nhau tâm đầu ý hợp trong một tình cảm gắn bó của đôi tri kỉ. Từ Hải đánh giá cao sự thông minh, khéo léo và nhạy cảm của Kiều. Kiều nhận ra Từ là đấng anh hùng hiếm có trong thiên hạ, là người duy nhất có thể giải thoát cho nàng. Nhưng dù yêu quý, trân trọng Từ Hải, Kiều cũng không thể giữ chân bậc anh hùng cái thế. Đã đến lúc Kiều để Từ Hải ra đi lập sự nghiệp anh hùng.

2. Cách đọc

Đọc chậm, thể hiện chí khí, khát khao vẫy vùng của nhân vật Từ Hải – một nhân vật lí tưởng của Nguyễn Du.

Từ Hải xuất hiện trong tác phẩm, trước hết là một anh hùng cái thế, đầu đội trời chân đạp đất. Khi cứu Kiều ra khỏi lầu xanh, là vì việc nghĩa, là vì trọng Kiều như một tri kỉ. Nhưng khi kết duyên cùng Kiều, Từ thực sự là một người đa tình. Song dẫu đa tình, Từ không quên mình là một tráng sĩ. Trong xã hội phong kiến, đã làm thân nam nhi phải có chí vẫy vùng giữa đất trời cao rộng. Từ Hải là một bậc anh hùng có chí lớn và có nghị lực để đạt được mục đích cao đẹp của bản thân. Chính vì thế, tuy khi đang sống với Kiều những ngày tháng thực sự êm đềm, hạnh phúc nhưng Từ không quên chí hướng của bản thân. Đương nồng nàn hạnh phúc, chợt “động lòng bốn phương”, thế là toàn bộ tâm trí hướng về “trời bể mênh mang”, với “thanh gươm yên ngựa” lên đường đi thẳng.

Không gian trong hai câu thứ ba và thứ tư (trời bể mênh mang, con đường thẳng) đã thể hiện rõ chí khí anh hùng của Từ Hải.

Tác giả dựng lên hình ảnh “Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng dong”rồi mới để cho Từ Hải và Thuý Kiều nói lời tiễn biệt. Liệu có gì phi lôgíc không ? Không, vì hai chữ “thẳng giong” có người giải thích là “vội lời”, chứ không phải lên đường đi thẳng rồi mới nói thì vô lí. Vậy có thể hình dung, Từ Hải lên yên ngựa rồi mới nói những lời chia biệt với Thuý Kiều. Và, có thể khẳng định cuộc chia biệt này khác hẳn hai lần trước khi Kiều từ biệt Kim Trọng và Thúc Sinh. Kiều tiễn biệt Kim Trọng là tiễn biệt người yêu về quê hộ tang chú, có sự nhớ nhung của một người đang yêu mối tình đầu say đắm mà phải xa cách. Khi chia tay Thúc Sinh để chàng về quê xin phép Hoạn Thư cho Kiều được làm vợ lẽ, hi vọng gặp lại rất mong manh vì cả hai đều biết tính Hoạn Thư, do đó gặp lại được là rất khó khăn. Chia tay Từ Hải là chia tay người anh hùng để chàng thoả chí vẫy vùng bốn biển. Do vậy, tính chất ba cuộc chia biệt là khác hẳn nhau.

Lời Từ Hải nói với Kiều lúc chia tay thể hiện rõ nét tính cách nhân vật. Thứ nhất, Từ Hải là người có chí khí phi thường. Khi chia tay, thấy Kiều nói :

Nàng rằng : “Phận gái chữ tòng, Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi”.

Từ Hải đã đáp lại rằng :

Từ rằng : “Tâm phúc tương tri, Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình”.

Trong lời đáp ấy bao hàm lời dặn dò và niềm tin mà Từ Hải gửi gắm nơi Thuý Kiều. Chàng vừa mong Kiều hiểu mình, đã là tri kỉ thì chia sẻ mọi điều trong cuộc sống, vừa động viên, tin tưởng Kiều sẽ vượt qua sự bịn rịn của một nữ nhi thường tình để làm vợ một người anh hùng. Chàng muốn lập công, có được sự nghiệp vẻ vang rồi đón Kiều về nhà chồng trong danh dự :

Bao giờ mười vạn tinh binh, Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường. Làm cho rõ mặt phi thường, Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia”.

Quả là lời chia biệt của một người anh hùng có chí lớn, không bịn rịn một cách yếu đuối như Thúc Sinh khi chia tay Kiều. Sự nghiệp anh hùng đối với Từ Hải là ý nghĩa của sự sống. Thêm nữa, chàng nghĩ có làm được như vậy mới xứng đáng với sự gửi gắm niềm tin, với sự trông cậy của người đẹp.

Thứ hai, Từ Hải là người rất tự tin trong cuộc sống :

Đành lòng chờ đó ít lâu, Chầy chăng là một năm sau vội gì !

Từ ý nghĩ, đến dáng vẻ, hành động và lời nói của Từ Hải trong lúc chia biệt đều thể hiện Từ là người rất tự tin trong cuộc sống. Chàng tin rằng chỉ trong khoảng một năm chàng sẽ lập công trở về với cả một cơ đồ lớn.

Trong đoạn trích, tác giả đã sử dụng kết hợp nhuần nhuyễn từ Hán Việt và ngôn ngữ bình dân, dùng nhiều hình ảnh ước lệ và sử dụng điển cố, điển tích. Đặc biệt, nhân vật Từ Hải được Nguyễn Du tái tạo theo khuynh hướng lí tưởng hoá. Mọi ngôn từ, hình ảnh và cách miêu tả, Nguyễn Du đều sử dụng rất phù hợp với khuynh hướng này.

Về từ ngữ, tác giả dùng từ trượng phu, đây là lần duy nhất tác giả dùng từ này và chỉ dùng cho nhân vật Từ Hải. Trượng phu nghĩa là người đàn ông có chí khí lớn. Thứ hai là từ thoắt trong cặp câu :

Nửa năm hương lửa đương nồng, Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.

Nếu là người không có chí khí, không có bản lĩnh thì trong lúc hạnh phúc vợ chồng đang nồng ấm, người ta dễ quên những việc khác. Nhưng Từ Hải thì khác, ngay khi đang hạnh phúc, chàng “thoắt” nhớ đến mục đích, chí hướng của đời mình. Tất nhiên chí khí đó phù hợp bản chất của Từ, thêm nữa, Từ nghĩ thực hiện được chí lớn thì xứng đáng với niềm tin yêu và trân trọng mà Thuý Kiều dành cho mình. Cụm từ động lòng bốn phương theo Tản Đà là “động bụng nghĩ đến bốn phương” cho thấy Từ Hải “không phải là người một nhà, một họ, một xóm, một làng mà là người của trời đất, của bốn phương” (Hoài Thanh). Hai chữ dứt áo trong Quyết lời dứt áo ra đi thể hiện được phong cách mạnh mẽ, phi thường của đấng trượng phu trong lúc chia biệt.

Về hình ảnh, “Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi” là một hình ảnh so sánh thật đẹp đẽ và đầy ý nghĩa. Tác giả muốn ví Từ Hải như chim bằng cưỡi gió bay cao, bay xa ngoài biển lớn. Không chỉ thế, trong câu thơ còn diễn tả được tâm trạng của con người khi được thoả chí tung hoành “diễn tả một cách khoái trá giây lát con người phi thường rời khỏi nơi tiễn biệt”. Nói thế không có nghĩa là Từ Hải không buồn khi xa Thuý Kiều mà chỉ khẳng định rõ hơn chí khí của nhân vật. Hình ảnh : “Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng dong” cho thấy chàng lên ngựa rồi mới nói lời tiễn biệt, điều đó diễn tả được cái cốt cách phi thường của chàng, của một đấng trượng phu trong xã hội phong kiến.

Về lời miêu tả và ngôn ngữ đối thoại cũng có những nét đặc biệt. Kiều biết Từ Hải ra đi trong tình cảnh “bốn bể không nhà” nhưng vẫn nguyện đi theo. Chữ “tòng” không chỉ giản đơn như trong sách vở của Nho giáo rằng phận nữ nhi phải “xuất giá tòng phu” mà còn bao hàm ý thức sẻ chia nhiệm vụ, đồng lòng tiếp sức cho Từ khi Từ gặp khó khăn trong cuộc sống. Từ Hải nói rằng sao Kiều chưa thoát khỏi thói nữ nhi thường tình không có ý chê Kiều nặng nề mà chỉ là mong mỏi Kiều cứng rắn hơn để làm vợ một người anh hùng. Từ nói ngày về sẽ có 10 vạn tinh binh, Kiều tin tưởng Từ Hải. Điều đó càng chứng tỏ hai người quả là tâm đầu ý hợp, tri kỉ, tri âm.

Đoạn trích ngợi ca chí khí anh hùng của nhân vật Từ Hải và khẳng định lại một lần nữa tình cảm của Thuý Kiều và Từ Hải là tình tri kỉ, tri âm chứ không chỉ đơn thuần là tình nghĩa vợ chồng.

Đọc đoạn thơ (trích Truyện Kiều – Nguyễn Du) thể hiện hình ảnh Từ Hải sau khi giúp Kiều trả ân báo oán :

Nàng từ ân oán rạch ròi, Bể oan dường đã vơi vơi cạnh lòng. Tạ ân, lạy trước Từ công : “Chút thân bồ liễu mà mong có rày ! Trộm nhờ sấm sét ra tay, Tấc riêng như cất gánh đầy đổ đi ! Khắc xương ghi dạ xiết chi, Dễ đem gan óc đền nghì trời mây !”. Từ rằng : “Quốc sĩ xưa nay, Chọn người tri kỉ một ngày được chăng ? Anh hùng tiếng đã gọi rằng : Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha. Huống chi việc cũng việc nhà, Lọ là thâm tạ mới là tri ân ! Xót nàng còn chút song thân, Bấy nay kẻ Việt người Tần cách xa. Sao cho muôn dặm một nhà, Cho người thấy mặt là ta cam lòng”. Vội truyền sửa tiệc quân trung, Muôn binh, nghìn tướng hội đồng tẩy oan. Thừa cơ trúc chẻ, ngói tan, Binh uy từ ấy sấm ran trong ngoài. Triều đình riêng một góc trời, Gồm hai văn võ, rạch đôi sơn hà. Đòi phen gió quét mưa sa, Huyện thành đạp đổ năm toà cõi nam. Phong trần mài một lưỡi gươm, Những phường giá áo, túi cơm sá gì ! Nghênh ngang một cõi biên thuỳ, Thiếu gì cô quả, thiếu gì bá vương ! Trước cờ, ai dám tranh cường ? Năm năm hùng cứ một phương hải tần !

(Theo Đào Duy Anh, Từ điển “Truyện Kiều”, Sđd)

Các Dạng Câu Hỏi Thường Gặp Và Gợi Ý Cách Làm Bài Đọc Hiểu

GD&TĐ – Cô Lê Thị Băng Tuyền và Nguyễn Thị Hồng Phấn (Trường THPT Mạc Đĩnh, Châu Thành, Bến Tre) chia sẻ Đề cương ôn luyện phần lý thuyết đọc hiểu biên soạn từ kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy. Trong đó chia sẻ cụ thể các dạng bài thường gặp và gợi ý cách làm bài.

Phần đọc – hiểu văn bản thường gặp các dạng câu hỏi sau:

Dạng 1: Xác định chủ đề, nội dung chính của văn bản

Gợi ý cách làm bài: Xác định chủ đề phải căn cứ vào các từ ngữ lặp đi, lặp lại nhiều lần; mối liên hệ, gắn kết giữa các ý, các vế, các câu (cùng nói về vấn đề gì, nhấn mạnh điều gì ?)

Dạng 2: Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ (BPTT)

Gợi ý cách làm bài: Câu trả lời phải nêu được các ý:

Tên gọi của BPTT? BPTT đó thể hiện qua những từ ngữ, hình ảnh, cách nói nào? (chỉ rõ biểu hiện, minh chứng).

Nêu tác dụng của việc sử dụng BPTT trong văn bản (Đây là nội dung khó trình bày. HS cần bám sát văn bản vì sử dụng BPTT chủ yếu là làm nổi bật nội dung chính của văn bản).

Một số kiến thức bổ trợ – các BPTT thường gặp:

BPTT ngữ âm: Tạo nhịp điệu và âm hưởng cho câu văn, câu thơ; Điệp âm: một phụ âm đầu được lặp lại nhiểu lần; Điệp vần: một vần được lặp lại; Điệp thanh: một dấu thanh được lặp lại; Hài thanh: sự hài hòa, linh hoạt trong việc phối hợp các thanh điệu.

Tác dụng chung của các BPTT này là làm cho câu văn, câu thơ có sự nhịp nhàng, trầm bổng, có những hiệu ứng, cảm giác về âm thanh, tạo tính nhạc, khơi gợi cảm xúc .

Các biện pháp tu từ từ vựng:

Nhân hóa: (biến thành, trở nên như con người) lấy những từ ngữ chỉ tâm trạng, suy nghĩ của con người để dùng cho những sự vật vô tri vô giác (đồ vật, con vật, cây cỏ…)

Ví dụ Cứ thế, hai ba năm nay, rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng… (Rừng xà nu- Nguyễn Trung Thành- SGK Ngữ Văn 12 , tập 2)

Câu văn sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa,cây xà nu biết “ưỡn ngực, che chở” cho con người, làm cho cây xà nu trở nên thân thiết gần gũi, không còn là nạn nhân của mưa bom bão đạn mà đã trở thành lá chắn che chở cho dân làng.

Từ đó , thấy được sự anh dũng hiên ngang của xà nu như những người anh hùng bảo vệ nhân dân, bảo vệ đất nước. Câu văn trở nên sinh động, hấp dẫn.

So sánh: đối chiếu hai sự vật, hai hình ảnh với nhau, thường có các từ ngữ so sánh: như, tựa, bằng… theo mô hình “A như B”.

Ví dụ: Đàn quạ trên những cây gạo cao chót vót ngoài bãi chợ hốt hoảng bay vù lên, lượn thành tùng đám mây vẩn trên nền trời như những đám mây đen. (Vợ nhặt- Kim Lân)

Câu văn sử dụng thủ pháp so sánh “đàn quạ” với “đám mây đen”, có tác dụng gợi tả không khí chết chóc, tâm tối, u ám trong nạn đói; gợi lên sự thê lương, buồn bã trong lòng người, làm cho câu văn sinh động và hấp dẫn.

Ẩn dụ: (so sánh ngầm) Dùng sự vật này để chỉ sự vật kia, giữa chúng có điểm giống nhau (tương dồng) nhưng đã ẩn đi vế được so sánh (vế A).

Ví dụ: “Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt” (Đàn ghi ta của Lorca- Thanh Thảo-)

Câu thơ sử dụng BPTT ẩn dụ ở hình ảnh “áo choàng đỏ gắt “. Thanh Thảo dùng hình ảnh này để gợi lên không khí căng thẳng của đấu trường đấu bò tót và sự ngột ngạt, nặng nề, căng thẳng của đấu trường chính trị mà Lorca đang dấn thân vì các đấu trường này có nét giống nhau: đều căng thẳng, gay go, nhiều thách thức đòi hỏi người tham gia phải dũng cảm, táo bạo, bản lĩnh.

(Nói đầy đủ: Đấu trường chính trị, nghệ thuật cũng căng thẳng, ngột ngạt như đấu trường đấu bò tót, nhưng vế đấu trường chính trị, nghệ thuật đã ẩn đi).

Hoán dụ: dùng sự vật hình ảnh này để chỉ hình ảnh, sự vật khác và gữa chúng có quan hệ gần gũi (tương cận), thường đi kèm với nhau.

Ví dụ: “Áo chàm đưa buổi phân li/ Cầm tay nhau, biết nói gì hôm nay” (Việt Bắc-Tố Hữu)

Câu thơ sử dụng BPTT hoán dụ ở hình ảnh “áo chàm”(vế B), dùng hình ảnh này để chỉ người dân Việt Bắc (vế A) (đồng bào miền núi ở Việt Bắc thường mặc áo được nhuộm bởi lá chàm), gợi tả sự mộc mạc mà keo sơn, bền bỉ (áo được nhuộm bởi lá chàm rất khó nhạt màu, bền và chắc).

Lưu ý: Cách phân biệt ẩn dụ và hoán dụ: Trước hết là xác định được hai vế A và vế B. Nếu hai vế này đặt được vào mô hình so sánh “A như B” nhưng ẩn đi vế A thì đó là ẩn dụ. Không đặt được vào mô hình A như B là hoán dụ .

Chẳng hạn: Người cha mái tóc bạc / Đốt lửa cho anh nằm” (Đêm nay Bác không ngủ- Minh Huệ)

Trong câu thơ này Bác Hồ (vế A) được so sánh vời người cha (vế B) vì Bác cũng dành tình thương bao la vô bờ bến cho các anh bộ đội, cho nhân dân như tấm lòng người cha dành cho con. Ta có thể đặt vào cấu trúc “A như B” nhưng vế A đã ẩn đi (ngầm); thì đó là ẩn dụ.

Hoặc: ” Áo bào thay chiếu anh về đất / Sông Mã gầm lên khúc độc hành” (Tây Tiến- Quang Dũng)

Áo bào là hình ảnh gợi tả sự trang trọng, oai hùng của người lính, họ như những dũng tướng thời xưa khoác áo bào xông pha trận mạc. Áo là trang phục hằng ngày gần gũi với người lính (tương cận). Ta không thể đặt vào mô hình: A như B

(không thể viết: Người lính Tây Tiến như áo bào) nên đây là BPTT hóan dụ.

Nói giảm, nói tránh: sử dụng cách nói nhẹ nhàng, tế nhị làm giảm mức độ nặng nề của vấn đề .

Ví dụ: “Áo bào thay chiếu anh về đất / Sông Mã gầm lên khúc độc hành” (Tây Tiến- Quang Dũng)

Câu thơ sử dụng BPTT nói giảm nói tránh ở cụm từ “anh về đất”: chỉ sự hi sinh, đau thương, mất mác nhưng sắc thái nhẹ nhàng, đó chỉ là sự trở về với lòng đất mẹ, được đất mẹ ôm ấp, vỗ về.

Đất mẹ trường tồn, linh hồn, tên tuổi các anh cũng trường tồn cùng đất mẹ anh hùng, xương máu các anh đã hòa vào lòng đất góp phần vào việc giữ gìn bảo vệ, đất nước.

Nói quá (thậm xưng, ngoa ngữ, cường điệu, phóng đại): cách nói quá sự thật nhằm một dụng ý nhất định như: nhấn mạnh, tạo ấn tượng, mỉa mai …

Ví dụ : “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc” (Tây Tiến – Quang Dũng)

Câu thơ nói quá ở cụm từ “không mọc tóc ” nhằm gây ấn tượng về vẻ ngoài của những chàng trai Tây Tiến.Thời đó, bệnh sốt rét rừng hoành hành, làm người lính xanh xao, tiều tụy và tóc không mọc lại được.

Cách nói “không mọc tóc” như không cần đến tóc và điều đó đã tạo một nét riêng cho gười lính Tây Tiến. Từ đó còn cho thấy tinh thần lạc quan, hài hước trẻ trung đối mặt với gian khổ, thiếu thốn.

Điệp từ, điệp ngữ: Trong một câu, một đoạn văn, thơ có một hay nhiều từ ngữ được lặp lần nhiều lần (ít nhất là hai lần).

Ví dụ: ” Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi / Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi” (Tây Tiến – Quang Dũng)

Câu thơ sử dụng điệp từ “nhớ” hai lần nhằm nhấn mạnh, khắc sâu nỗi nhớ của Quang Dũng về đoàn quân Tây Tiến, về sông Mã và núi rừng Tây Bắc.

Biện pháp tu từ cú pháp: bao gồm các biện pháp: liệt kê, câu hỏi tu từ, điệp cấu trúc câu, chêm xen, im lặng …Trong đó thường gặp là liệt kê, câu hỏi tu từ, điệp cấu trúc câu.

Liệt kê: kể, nêu lên nhiều sự vật, sự việc, hình ảnh liên tiếp nhau.

Ví dụ: ” Nhớ từng rừng nứa, bờ tre / Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy” (Việt Bắc -Tố Hữu)

Tố Hữu đã kể ra những địa danh cụ thể ở Việt Bắc: ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê nhằm nhấn mạnh: người về xuôi không chỉ nhớ người mà còn nhớ rõ từng con sông, con suối cụ thể. Tất cả đã trở thành hồi ức đẹp về chiến khu Việt Bắc.

Điệp cú pháp: một kiểu câu, một dạng cấu trúc được lặp lại nhiều lần (điệp cấu trúc, lặp cấu trúc).

Ví dụ: “Dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!” (Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh )

Câu văn sử dụng BPTT điệp cấu trúc câu “Dân tộc đó phải được …” để tạo giọng văn hùng hồn, mạnh mẽ , khẳng định một cách dứt khoát quyền được tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam.

Câu hỏi tu từ: mượn hình thức câu hỏi để nhằm một mục đích khác như: bộc lộ cảm xúc, gợi suy nghĩ cho người đọc …

Ví dụ: “Mình về có nhớ chiến khu / Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai” (Việt Bắc- Tố Hữu)

Câu thơ tuy là lời hỏi nhưng chứa hàm ý nhắc nhở: người về xuôi đừng quên chiến khu Việt Bắc mà hãy luôn nhớ những ân tình, những lúc cùng chung chí hướng, cùng lí tưởng đấu tranh với con người Việt Bắc.

Dạng 3: Xác định phương thức biểu đạt

Gơi ý: Các phương thức biểu đạt thường gặp:

Miêu tả: Tái hiện, giúp người đọc hình dung về đường nét, màu sắc, kích thước, vẻ ngoài… của sự vật, hiện tượng.

Biểu cảm: bộc lộ cảm xúc, thái độ, tâm trạng của người nói, người viết.

Tự sự: kể lại các sự viêc, sự kiện xảy ra theo một trình tự.

Nghị luận: bày tỏ ý kiến, quan điểm của người viết về một vấn đề bằng các lí lẽ, dẫn chứng.

Thuyết minh: giới thiệu, trình bày về một đối tượng nhất định.

Lưu ý: một văn bản có thể có nhiều phương thức biểu đạt

Dạng 4: Xác định phong cách ngôn ngữ

Gợi ý: Có các PCNN cơ bản sau:

PCNN sinh hoạt: lời ăn tiếng nói trong giao tiếp hằng ngày, mộc mạc, bình dị.

PCNN văn chương (nghệ thuật) kiểu diễn đạt dùng trong các văn bản văn học với những cách nói giàu hình ảnh, có vần, có điệu, mang sắc thái nghệ thuật, sử dụng phong phú các BPTT.

PCNN khoa học: dùng trong các lĩnh vưc khoa học, sử dụng nhiều thuật ngữ chuyên ngành khoa học.

PCNN báo chí: dùng trên các phương tiên truyền thông, nhằm cung cấp tin tức, thời sự.

PCNN chính luận: nêu lên ý kiến, quan điểm của người viết về một vấn đề chính trị,sử dụng nhiều thuật ngữ chính trị, xã hội.

PCNN hành chính: các văn bản, biểu mẫu dùng trong các công việc hành chính, thường theo khuôn mẫu.

Lưu ý: Đôi khi một văn bản thuộc hai hoặc nhiều phong cách.

Dạng 5: Xác định thể thơ

Thể thất ngôn: mỗi câu 7 chữ;

Thể ngũ ngôn: mỗi câu 5 chữ;

Thể thơ tự do: số câu trong bài, số chữ trong câu, gieo vần, ngắt nhịp và giọng thơ thoải mái, linh hoạt, không theo quy định, Đây là thể thơ thường gặp trong thơ hiện đại.

Dạng 6: Sửa các lỗi về dùng từ, đặt câu, chính tả

Trong dạng này, chủ yếu nhấn mạnh sắp xếp câu (cần sắp xếp theo quan hệ nội dung, logic giữa các câu). Khi sắp xếp xong cần đọc lại để kiểm tra.

Các lỗi về dùng từ: Thừa từ; lặp từ; dùng từ không rõ nghĩa; dùng từ không đúng nghĩa, không đúng ngữ cảnh.

Các lỗi về chính tả: t/c;n/ng/tr/t;/dấu hỏi/dấu ngã;ô/o…(chú ý các từ mà bản thân cho là có vấn đề, có cảm giác thấy lạ, có sự nghi hoặc…

Bạn đang đọc nội dung bài viết Cách Đọc Hiểu &Amp; Đoán Nghĩa Trong Tiếng Anh trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!