Đề Xuất 12/2022 # Các Trường Hợp Được Cộng Nối Thời Gian Trong Quân Đội / 2023 # Top 21 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Các Trường Hợp Được Cộng Nối Thời Gian Trong Quân Đội / 2023 # Top 21 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Các Trường Hợp Được Cộng Nối Thời Gian Trong Quân Đội / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

(Chinhphu.vn) – Ông Trần Minh Cộng (Hà Nội) đi nghĩa vụ quân sự từ năm 1986, đến năm 1989 ra quân và tham gia công tác, đóng BHXH được 19 năm. Ông Cộng hỏi, thời gian đi nghĩa vụ quân sự ông có được tính đóng BHXH không? Thủ tục thế nào?

Được cộng nối thời gian công tác trong quân đội, công an trước đó với thời gian công tác có đóng BHXH sau này để tính hưởng BHXH

Về vấn đề này, BHXH TP. Hà Nội trả lời như sau:

a) Quyết định số 47/2002/QĐ-TTg ngày 11/4//2002 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ đối với quân nhân, công nhân viên quốc phòng tham gia kháng chiến chống Pháp đã phục viên (giải ngũ, thôi việc) từ ngày 31/12/1960 trở về trước;

b) Điểm a Khoản 1 Điều 1 của Quyết định số 290/2005/QĐ-TTg ngày 8/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ, chính sách đối với một số đối tượng trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhưng chưa được hưởng chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước;

c) Quyết định số 92/2005/QĐ-TTg ngày 29/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chế độ đối với quân nhân là người dân tộc ít người thuộc Quân khu 7, Quân khu 9, tham gia kháng chiến chống Mỹ, về địa phương trước ngày 10/1/1982;

d) Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương;

đ) Quyết định số 38/2010/QĐ-TTg ngày 6/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương;

e) Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg ngày 20/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân tham gia kháng chiến chống Mỹ có dưới 20 năm công tác trong Công an nhân dân đã thôi việc, xuất ngũ về địa phương;

g) Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 9/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ, chính sách đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, giúp bạn Lào sau ngày 30/4/1975 đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc.

Trường hợp của ông nếu thuộc đối tượng nêu trên thì đề nghị ông cung cấp hồ sơ theo quy định tại Khoản 1.6, Phụ lục 01, Quyết định 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 của BHXH Việt Nam hồ sơ bao gồm:

– Quyết định: Phục viên hoặc xuất ngũ hoặc thôi việc;

– Giấy xác nhận chưa hưởng chế độ trợ cấp theo Quyết định số 47/2002/QĐ-TTg ngày 11/4/2002; Điểm a Khoản 1 Điều 1 Quyết định số 290/2005/QĐ-TTg ngày 8/11/2005; Quyết định số 92/2005/QĐ-TTg ngày 29/4/2005; Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 2/10/2008; Quyết định số 38/2010/QĐ-TTg ngày 6/5/2010; Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg ngày 20/8/2010 và Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 9/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ;

– Quyết định về việc thu hồi Quyết định hưởng chế độ và số tiền trợ cấp một lần theo Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008 và Quyết định số 38/2010/QĐ-TTg ngày 6/5/2010 của Thủ tưởng Chính phủ đối với cán bộ xã (nếu có).

chúng tôi

Từ khóa: cộng nối , BHXH , quân đội , xuất ngũ , nghĩa vụ quân sự

Chính Sách Nhà Ở Trong Quân Đội Qua Các Thời Kỳ / 2023

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, từ năm 1954-1976, Nhà nước chưa có quy định cụ thể về tiêu chuẩn, chế độ bảo đảm chỗ ở cho gia đình cán bộ. Việc giải quyết chỗ ở chủ yếu căn cứ vào điều kiện, khả năng thực tế của từng đơn vị, địa phương. Gia đình cán bộ được bố trí ở tại các khu gia binh, khu cư xá sĩ quan tiếp quản từ chế độ cũ và một số nhà kho, nhà làm việc trong khu vực doanh trại (chủ yếu là nhà tạm, nhà cấp IV) cải tạo thành nhà ở. Từ năm 1960 – 1970, tại Thành phố Hà Nội, BQP xây dựng một số khu nhà ở (chủ yếu là nhà cao tầng) bố trí cho gia đình có cán bộ được điều động đi các chiến trường B – C – K đang cư trú ở các đô thị. Từ năm 1964 – 1973 do chiến tranh ác liệt, nhu cầu nhà ở của gia đình cán bộ ít, việc giải quyết nhà ở không gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, sau năm 1975, đất nước thống nhất, bước vào thời kỳ vừa khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh, việc bảo đảm đời sống, nhà ở cho Nhân dân và lực lượng vũ trang càng khó khăn gay gắt.

Để thống nhất việc quản lý, phân phối hợp lý theo tiêu chuẩn diện tích nơi làm việc và nhà ở, đáp ứng nhu cầu ở của công nhân, viên chức, cán bộ trong biên chế Nhà nước, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 150/CP ngày 10/6/1977 về “Tiêu chuẩn phân phối diện tích làm việc và diện tích ở”, áp dụng thống nhất trong cả nước. BQP ban hành Quyết định số 13/QĐ-QP ngày 10/02/1984 về tiêu chuẩn nhà ở gia đình cán bộ Quân đội tại khu tập thể và cho mượn đồ dùng sinh hoạt. Căn cứ cấp bậc, chức vụ, số lượng thành viên gia đình, áp dụng theo trường hợp điều chỉnh nhà hiện có đã phân phối và xây dựng nhà mới để phân phối. Việc bảo đảm nhà ở hoàn toàn được bao cấp bằng ngân sách Nhà nước. Hằng năm, ngân sách quốc phòng được trích một phần để xây dựng nhà ở phân phối cho cán bộ. Tuy nhiên, so với nhu cầu, ngân sách bảo đảm quá thấp, nhà ở trong Quân đội chủ yếu do cán bộ tự khai thác vật liệu và xây dựng theo phương châm “trên cho 1 dưới làm 3”.

Giai đoạn từ năm 1984-1991, việc giải quyết chế độ CSNƠ rất đa dạng, từng bước tiền tệ hóa vật tư, đồ dùng sinh hoạt gia đình, xóa bỏ bao cấp bằng hiện vật. BQP đã ban hành các chỉ thị về việc giao đất cho cán bộ làm nhà ở; hóa giá nhà cấp III, cấp IV tại các đô thị do Quân đội quản lý cho cán bộ sử dụng; khuyến khích cán bộ tự xây nhà ở, có sự hỗ trợ của Quân đội…

Với sự chỉ đạo chặt chẽ, quyết liệt, từ 1987-1991, BQP đã xây dựng mới, cải tạo, đưa vào sử dụng 15.554 căn hộ; giao đất cho 48.430 cán bộ với tổng diện tích khoảng 655 ha; trợ cấp cho 110.332 cán bộ với số tiền là 61.639 triệu đồng; nhượng bán hàng chục nghìn tấn xi măng, thép, than cám, xăng dầu; hàng chục nghìn mét khối gỗ tròn, hàng chục triệu viên gạch, ngói, hàng vạn tấn vôi… cho cán bộ làm nhà với giá bao cấp. Các chính sách nói trên đã góp phần quan trọng vào việc điều chỉnh chiến lược và chấn chỉnh tổ chức lực lượng của Quân đội không gây xáo trộn tư tưởng, tổ chức trong Quân đội, giữ ổn định chính trị, góp phần ổn định đất nước. Căn cứ Pháp lệnh số 51-LCT/HĐNN8 ngày 06/4/1991 của Hội đồng Nhà nước về nhà ở, Thủ tướng Chính phủ ban hành các Quyết định: Số 118/TTg ngày 27/11/1992 về giá cho thuê nhà ở và đưa tiền nhà ở vào tiền lương; số 33/TTg ngày 05/02/1993 về chuyển việc quản lý quỹ nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước sang phương thức kinh doanh; bãi bỏ chế độ phân phối nhà ở theo Quyết định số 150-CP ngày 10/6/1977 của Hội đồng Chính phủ. Các quyết định trên đã đánh dấu giai đoạn Nhà nước chấm dứt hoàn toàn việc bao cấp về nhà ở. Để giải quyết nhu cầu cấp thiết về nhà ở, một số đơn vị đã tận dụng một phần đất dư thừa sau khi quy hoạch lại doanh trại hoặc tận dụng diện tích ao hồ, đầm lầy, đất trống quanh doanh trại… tổ chức san lấp, xin ý kiến địa phương để giao đất cho cán bộ tự làm nhà ở theo quy định tại Luật Đất đai năm 1987. Tuy nhiên, một số địa phương chưa đồng tình với cách giải quyết này nên có đơn vị gặp nhiều khó khăn, vướng mắc khi làm thủ tục hợp thức quyền sử dụng đất cho cán bộ Quân đội.

Thực hiện Nghị định số 60-CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị; Nghị định số 61-CP về mua bán và kinh doanh nhà ở; số 245/TTg ngày 24/4/1996 về tổ chức thực hiện một số việc cấp bách trong quản lý sử dụng đất, nghiêm cấm các tổ chức tự chia đất cho cán bộ làm nhà ở. BQP ban hành Công văn số 1870/QP ngày 03/10/1994 quy định các đơn vị Quân đội không được tự chuyển mục đích đất quốc phòng để chia cho cán bộ làm nhà ở. Để triển khai công tác bán nhà ở theo Nghị định số 61-CP, BQP ban hành Văn bản số 1782/QP ngày 21/9/1994 báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập riêng Hội đồng bán nhà ở Quân khu 7 tại Thành phố Hồ Chí Minh và giao Công ty kinh doanh nhà Hà Nội BQP (nay là Tổng Công ty Đầu tư phát triển Nhà và đô thị BQP) tại Thành phố Hà Nội để thực hiện. BQP đề xuất thành lập ban chỉ đạo để triển khai thực hiện và đề xuất chế độ miễn, giảm cho các đối tượng chính sách và cán bộ Quân đội; được sử dụng một phần tiền bán nhà thu được của Quân đội vào mục đích phát triển quỹ nhà ở; hóa giá nhà cấp III, cấp IV còn tồn đọng. Tại thành phố Hải Phòng, Ủy ban Nhân dân Thành phố đã thống nhất với BQP giao cho Ban chỉ đạo CSNƠ, đất ở Quân khu 3 (trực tiếp là Bộ Tư lệnh Hải quân) lập hồ sơ bán nhà ở trình UBND Thành phố phê duyệt.

Ngày 15/10/2014, tại Hội nghị tổng kết đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị được Bộ giao nhiệm vụ bán nhà theo quy định đã khẳng định, toàn quân cơ bản hoàn thành công tác bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước theo Nghị định số 61/CP. Kết quả này có ý nghĩa chính trị to lớn, đáp ứng nhu cầu bức thiết về nhà ở của cán bộ quân đội; giải quyết những vấn đề tồn tại của công tác CSNƠ và việc quản lý, sử dụng quỹ nhà ở cũ.

Từ năm 2000 đến nay, với chủ trương xã hội hóa về nhà ở, quỹ nhà ở trong xã hội có tăng lên nhưng do chưa có cơ chế phù hợp nên nhu cầu nhà ở cho Quân đội chưa được cải thiện. Năm 2005, Luật Nhà ở được ban hành, quy định về phát triển nhà ở dành cho người có thu nhập thấp (bao gồm cán bộ Quân đội). Trên thực tế, việc triển khai thực hiện các chính sách trên rất khó khăn do thiếu những quy định cụ thể, chưa gắn trách nhiệm của các cấp, các ngành, địa phương; quỹ nhà ở công vụ, nhà ở xã hội của các địa phương rất hạn chế, chưa có điều kiện bảo đảm nhà ở cho các lực lượng Quân đội đóng quân trên địa bàn.

Để giải quyết nhu cầu cấp bách về nhà ở, BQP đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị toàn quân phát huy mọi nguồn lực để tạo lập quỹ nhà ở và hỗ trợ nhà ở cho cán bộ của mình. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong khi BQP lập phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, đồng ý cho ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện việc thu hồi đất quốc phòng giao cho địa phương quản lý, giao đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng. BQP đã thống nhất với một số địa phương tổ chức triển khai một số dự án nhà ở chính sách (nhà ở thương mại giá thấp không nhằm mục đích kinh doanh) cho cán bộ Quân đội. Căn cứ quy định tại Luật Nhà ở năm 2005; Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở, Cục Doanh trại/Tổng cục Hậu cần phối hợp các cơ quan tham mưu với Bộ trưởng BQP ban hành Thông tư số 196/2010/TT-BQP ngày 26/11/2010 quy định phân cấp trách nhiệm tổ chức thực hiện các dự án phát triển nhà ở gia đình cán bộ Quân đội. Từ khi Thông tư số 196/2010 có hiệu lực thi hành, công tác phát triển nhà ở cho cán bộ Quân đội đã được nâng lên một bước. Giai đoạn năm 2010-2019, toàn quân triển khai 231 dự án phát triển nhà ở gia đình, trong đó đã hoàn thành 149 dự án với tổng số 21.571 căn hộ được bàn giao đưa vào sử dụng; 36 dự án đang triển khai với quy mô khoảng 11.917 căn hộ; 32 dự án đang thực hiện thủ tục đầu tư; đầu tư xây dựng 251 khu nhà ở công vụ tương đương 15.141 căn hộ, góp phần giải quyết đáng kể nhu cầu bức xúc về nhà ở của cán bộ Quân đội.

Với vai trò là Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Chính sách nhà ở BQP, Cục Doanh trại tiếp tục nghiên cứu, tham mưu đề xuất, tổ chức thực hiện kịp thời, toàn diện các nội dung CSNƠ, góp phần thiết thực nâng cao hiệu quả công tác chính sách hậu phương quân đội.

Đại tá NGUYỄN HỒNG THÀNH, Cục Doanh trại

Thời Gian Nghỉ Trưa Có Được Tính Thời Gian Làm Việc / 2023

Căn cứ thông tin bạn cung cấp có thể hiểu bạn đang thắc mắc về thời gian tăng ca của bạn có được tính bao gồm cả thời gian ăn giữa ca hay không? Do đó, theo quy định tại Bộ luật Lao động 2012 thì thời giờ làm việc bình thường không quá 8 giờ trong một ngày và không quá 48 giờ trong một tuần (Điều 104). Trường hợp bạn làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường thì sẽ được xác định là làm thêm giờ theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Lao động 2012:

“Điều 106. Làm thêm giờ

1. Làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường được quy định trong pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc theo nội quy lao động.

…”

Trường hợp người lao động có thời gian làm việc liên tục trên 8 giờ thì được nghỉ giữa giờ ít nhất 30 phút tính vào thời gian làm việc theo quy định tại Điều 108 Bộ luật Lao động 2012:

“Điều 108. Nghỉ trong giờ làm việc

1. Người lao động làm việc liên tục 08 giờ hoặc 06 giờ theo quy định tại Điều 104 của Bộ luật này được nghỉ giữa giờ ít nhất 30 phút, tính vào thời giờ làm việc.

2. Trường hợp làm việc ban đêm, thì người lao động được nghỉ giữa giờ ít nhất 45 phút, tính vào thời giờ làm việc.

3. Ngoài thời gian nghỉ giữa giờ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, người sử dụng lao động quy định thời điểm các đợt nghỉ ngắn và ghi vào nội quy lao động.”

Để xác định thời giờ làm việc liên tục theo quy định nêu trên hiện nay không có quy định cụ thể trong bộ luật lao động mà thông qua Công văn số 1290/LĐTBXH-LĐTL trả lời công văn số 38/CĐKKT của Công đoàn Khu kinh tế Hải Phòng giải thích như sau:

“1. Về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

a) Về cách hiểu một số thuật ngữ

– “Làm việc liên tục 8 giờ”: được hiểu là làm việc trong 8 giờ liên tục về mặt thời gian (bao gồm cả thời gian nghỉ trong ca được tính là thời giờ làm việc).

…”

Căn cứ theo các quy định nêu trên, có thể thấy pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể về việc tính thời gian nghỉ ăn trưa hoặc ăn tối vào giờ làm việc mà chỉ quy định trong ca làm việc liên tục phải có ít nhất 30 phút nghỉ giữa giờ đối với ca ngày và nghỉ giữa giờ 45 phút đối với ca đêm. Thời gian nghỉ giữa giờ này được tính vào thời giờ làm việc.

Đối chiếu với trường hợp cụ thể của bạn, bạn không đề cập rõ thời giờ làm việc liên tục của bạn là bao nhiêu tiếng nên chúng tôi không thể xác định thời gian nghỉ giữa giờ đó có được tính vào thời gian làm việc hay không. Vì vậy, bạn có thể tham khảo ví dụ sau đây:

Giả sử thời giờ làm việc bình thường của bạn là 8 tiếng/ngày, ca sáng bắt đầu từ 8h – 12h, nghỉ ăn trưa từ 12h – 13h, ca chiều bắt đầu từ 13h – 16h giờ, tăng ca từ 16h – 20h trong đó có 30 phút nghỉ từ 16h – 16h30 để người lao động ăn giữa ca trước khi làm thêm giờ. Như vậy, có thể thấy từ 13h – 20h doanh nghiệp bố trí cho người lao động làm liên tục 8 tiếng, do đó 30 phút ăn giữa giờ sẽ được tính vào thời giờ làm việc theo quy định nêu trên.

Trân trọng.

LS TRẦN MINH HÙNG

Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình

Thời Gian Thực Hiện Nghĩa Vụ Quân Sự Là Bao Nhiêu Lâu? Thời Gian Nhập Ngũ, Thời Hạn Phục Vụ Tại Ngũ Trong Thời Bình? / 2023

Thời hạn đi nghĩa vụ quân sự? Điều kiện phục vụ lâu dài trong quân đội khi đi nghĩa vụ quân sự? Đi nghĩa vụ quân sự theo luật cũ có phải kéo dài thời hạn không? Áp dụng thời gian đi nghĩa vụ quân sự tăng thêm khi nào? Trách nhiệm đi nghĩa vụ quân sự đối với nam?

Thời hạn thực hiện nghĩa vụ quân sự là khoảng thời gian công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân, bao gồm phục vụ tại ngũ và phục vụ trong ngạch dự bị của Quân đội nhân dân, khoảng thời gian này được xác định kể từ thời điểm nhập ngũ theo lệnh gọi nhập ngũ đến thời điểm được xuất ngũ khi hết thời hạn theo quy định. Công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự, và không thuộc trường hợp được tạm hoãn, miễn tham gia nghĩa vụ quân sự thì không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú phải thực hiện nghĩa vụ quân sự theo quy định của Luật nghĩa vụ quân sự.

Luật nghĩa vụ quân sự quy định về thời hạn thực hiện nghĩa vụ quân sự là khoảng thời gian hợp lý để đào tạo huấn luyện người dân, cũng như rèn luyện sức khỏe để nhằm giữ vững nền chính trị vững mạnh và nền hòa bình cho Tổ quốc, sau thời hạn quy định thì cá nhân nếu có nguyện vọng vẫn được xem xét để tiếp nhận tham gia vào lực lượng dự bị của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Căn cứ vào Điều 21 Luật nghĩa vụ quân sự 2015 quy định thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan, binh sĩ là 24 tháng. Trong khoảng thời gian 2 năm phục vụ tại ngũ trong Quân đội nhân dân công dân phải thực hiện nghiêm chỉnh những quy định khắt khe trong Quân đội để nâng cao rèn luyện sức khỏe, tinh thần khả năng chiến đấu để nhằm phục vụ Đất nước khi chiến tranh diễn ra. Trong trường hợp để đảm bảo nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu; đảm bảo thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn thì Bộ trưởng Bộ Quốc phòng được quyết định kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ nhưng không quá 06 tháng. Thời gian phục vụ tại ngũ được tính kể từ ngày nhập ngũ hoặc ngày xuất quân.

Do vậy, có thể xác định khoảng thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự của công dân đã được quy định tại Luật nghĩa vụ dân sự thông thường là 24 tháng được tính kể từ ngày giao nhận quân, hoặc kể từ ngày có quyết định nhập ngũ của cơ quan có thẩm quyền, và thời gian ra hạn thêm tối đa là không quá 06 tháng.

Căn cứ tại khoản 2, Điều 43 Luật nghĩa vụ quân sự 2015 thì: Đ ang trong thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự mà người đó bị bệnh có kết luận của Hội đồng y khoa kết luận là không đủ sức khỏe để tiếp tục phụ tại ngũ thì được xuất ngũ trước thời hạn.

Căn cứ theo hướng dẫn bởi Điều 4 Thông tư 279/2017/TT-BQ

– Trường hợp không đủ sức khỏe ở đây là trường hợp có kết luận của Hội đồng giám định sức khỏe từ cấp sư đoàn và tương đương trở lên hoặc Hội đồng giám định y khoa từ cấp Quận, Huyện trở lên kết luận không đủ tiêu chuẩn sức khỏe phục vụ tại ngũ thì kể cả đang trong thời gian phục vụ tại ngũ cũng được xem xét để được xuất ngũ trước hạn quy định.

– Người đang phục vụ tại ngũ nếu không đủ tiêu chuẩn chính trị theo quy định tại Điều 5, Thông tư 50/2016 TTLT-BQP-BCA cơ quan bảo vệ an ninh quân đội đưa ra quyết định để xem xét buộc người này phải xuất ngũ

Năm 2020 lịch khám sức khỏe đã kết thúc vào ngày 31/12/2019. Lệnh gọi khám sức khỏe sẽ được gửi đến công dân trước thời điểm khám sức khỏe 15 ngày. Sau khi có kết quả khám sức khỏe, Công dân được gọi nhập ngũ khi đáp ứng đủ các tiêu chuẩn về tuổi đời, tiêu chuẩn văn hóa, tiêu chuẩn chính trị, tiêu chuẩn sức khỏe quy định tại Điều 4 Thông tư 140/2015/TT-BQP. Cụ thể như sau

– Về độ tuổi: Công dân từ 18 tuổi đến 25 tuổi; trường hợp được tạm hoãn nghĩa vụ quân sự vì lý do đang theo học theo chương trình đào tạo Phổ thông, Đại học, Cao đẳng thì độ tuổi được tính đến 27 tuổi.

– Tiêu chuẩn sức khỏe: Bộ Y tế và Bộ Quốc phòng quy định tiêu chuẩn sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự dựa trên tiêu chí về thể lực (cân nặng, chiều cao, vòng ngực), về mắt, về răng, tai, mũi, họng, về tâm thần, thần kinh, về nội khoa, da liễu, ngoại khoa để xây dựng phân loại sức khỏe theo sức khỏe loại từ 1 đến 8. Trong phiếu khám sức khỏe tham gia nghĩa vụ quân sự sẽ có 8 chỉ tiêu đánh giá, sức khỏe loại 1 là sức khỏe có cả 8 chỉ tiêu đạt điểm 1 và sức khỏe loại 3 là sức khỏe có ít nhất một chỉ tiêu bị điểm 3, còn sức khỏe loại 4 là sức khỏe có ít nhất một chỉ tiêu bị điểm 4, người có sức khỏe loại 4 trở đi thì được tạm hoãn nghĩa vụ quân sự. Ngoài ra không gọi nhập ngũ vào Quân đội những công dân có sức khỏe loại 3 có tật khúc xạ về mắt (cận thị 1,5 điop trở lên, viễn thị các mức độ); nghiện ma túy, nhiễm HIV, AIDS. Do đó sẽ tuyển chọn những công dân có chỉ tiêu sức khỏe loại 1, 2, 3.

– Tiêu chuẩn văn hóa: Tuyển chọn và gọi nhập ngũ những công dân có trình độ văn hóa từ lớp 8 trở nên tuy nhiên nhiều trường hợp một số địa phương có điều kiện kinh tế khó khăn, người dân không đủ điều kiện để đi học, để đảm bảo đủ chỉ tiêu giao quân thì báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định tuyển chọn kể cả công dân có trình độ văn hóa lớp 7 và lấy từ cao đến thấp. Ở khu vực đồng bào dân tộc thiểu số dưới 10.000 người thì tiêu chí tuyển quân ở đây có cả công dân ở trình độ tiểu học, trung học cơ sở.

Năm 2020 tới đây thì thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự vẫn quy định là 24 tháng. Hết thời hạn quy định công dân được phép xuất ngũ và hưởng các chế độ ưu đãi từ ngân sách Nhà nước bao gồm: chế độ bảo hiểm xã hội, trợ cấp xuất ngũ một lần, trợ cấp tạo việc làm theo Điều 7, Nghị định số 27/2016 NĐ-CP. tổng số tiền được hưởng trên vào khoảng 14,000,000 đồng cộng với thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự được đóng bảo hiểm xa hội để cộng nối vào quá trình tham gia bảo hiểm của người đó.

Chào luật sư, tôi có vấn đề cần được tư vấn như sau: Con trai tôi có giấy gọi đi nghĩa vụ quân sự, có phải bây giờ tăng thời gian đi nghĩa vụ quân sự trong thời bình lên 24 tháng không?

“Điều 21. Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ

Theo Điều 4 Thông tư 140/2015/TT-BQP về quy định tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ như sau:

Như vậy, trường hợp của bạn là 24 tuổi vẫn đủ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự, đến 25 tuổi là bạn quá tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự.

“Điều 6. Đối tượng và điều kiện xét chuyển sang phục vụ theo chế độ quân nhân chuyên nghiệp

d) Công dân có trình độ chuyên môn, kỹ thuật ngoài độ tuổi nhập ngũ quy định tại Điều 12 của Luật Nghĩa vụ quân sự.”

Điều kiện xét chuyển sang phục vụ theo chế độ quân nhân chuyên nghiệp:

+ Khi Quân đội nhân dân Việt Nam có nhu cầu;

+ Công nhân, viên chức quốc phòng có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, được huấn luyện quân sự theo quy định của Bộ Quốc phòng và tự nguyên;

+ Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam khi chức vụ đang đảm nhiệm không còn nhu cầu bố trí sĩ quan;

+ Công dân có trình độ chuyên môn, kỹ thuật ngoài độ tuổi nhập ngũ quy định tại Điều 12 của Luật Nghĩa vụ quân sự, được động viên vào Quân đội.

Như vậy, bạn phải có trình độ, chuyên môn kỹ thuật phù hợp với yêu cầu mà đơn vị quân đội cần thì bạn sẽ được xét ở lại. Nếu không đủ điều kiện bạn sẽ không được ở lại trong quân dội.

Luật nghĩa vụ quân sự áp dụng vào năm 1.1.2016 là những người thực hiện luật nghĩa vụ quân sự có thời gian tại ngũ là 24 tháng. Vậy cho tôi xin hỏi những đồng chí đi vào ngày 08.09.2015 là đợt cuối có thời gian tại ngũ là 18 tháng. Vậy chúng tôi có thể đi thêm 6 tháng nữa là 24 tháng không ạ hay là chúng tôi vẫn thực hiện nhiệm vụ tại ngũ là 18 tháng? Đã có quyết định cụ thể chưa ạ!

Điều 21 Luật nghĩa vụ quân sự 2015 quy định:

Quy định tại khoản 1 Điều 61 Luật nghĩa vụ quân sự 2015:

Như vậy, theo khoản 1 Điều 21 Luật nghĩa vụ quân sự 2015 này đã thống nhất quy định thời gian phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ là 24 tháng, có hiệu lực và áp dụng từ ngày 01-01-2016. Do đó, luật mới sẽ có hiệu lực thi hành với tất cả các trường hợp đang ký tham gia và thực hiện các nghĩa vụ sau khoảng thời gian Luật nghĩa vụ quân sự 2015 có hiệu lực.

Hay nói cách khác, đối vói những trường hợp đăng ký tham gia nghĩa vụ tại thời điểm luật cũ còn hiệu lực thì vẫn áp dụng các quy định của luật đó. Do vậy, trong trường hợp này, đối với những người đi nghĩa vụ vào ngày 08.09.2015 là đợt cuối thì vẫn có thời gian phục vụ tại ngũ là 18 tháng theo điều Điều 14 Luật nghĩa vụ quân sự sửa đổi 2005 đối với hạ sĩ quan, binh sĩ và 24 tháng đối với hạ sĩ quan chỉ huy, hạ sĩ quan và binh sĩ chuyên môn kỹ thuật do quân đội đào tạo, hạ sĩ quan và binh sĩ trên tàu hải quân và việc tính thời điểm bắt đầu và kết thúc thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định.

Nếu như luật nghĩa vụ quân sự áp dụng vào ngày 01.01.2016 kéo dài thêm 6 tháng vậy cho tôi xin hỏi tại sao đợt 1 thực hiện nghĩa vụ vào tháng 03.2015 lại không phải đi thêm 6 tháng tới tháng 7 này đợt 1 tháng 03.2015 những đồng chí đó ra quân vậy ạ? Những người đợt 1 đi có 18 tháng vậy tại sao đợt 1 không áp dụng luật nghĩa vụ quân sự vào ngày 01.01.2016 mà đợt 2 của ngày 08.09.2015 lại áp dụng cho luật nghĩa vụ 01.01.2016 vậy ạ??

Luật Nghĩa vụ quân sự 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016 có nhiều điểm mới so với Luật nghĩa vụ quân sự sửa đổi 2005. Trong đó, quy định về thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ cũng đã có sự thay đổi đáng kể.

Theo quy định tại Điều 21 Luật nghĩa vụ quân sự 2015.

Điều 21. Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ

1. Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan, binh sĩ là 24 tháng.

2. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng được quyết định kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ nhưng không quá 06 tháng trong trường hợp sau đây:

a) Để bảo đảm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu;

b) Đang thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn.

3. Thời hạn phục vụ của hạ sĩ quan, binh sĩ trong tình trạng chiến tranh hoặc tình trạng khẩn cấp về quốc phòng được thực hiện theo lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ.

Theo quy định này, thì kể từ ngày 01/01/2016, thời gian phục vụ nghĩa vụ quân sự được nâng lên là 24 tháng thay vì là 18 tháng theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 2005.

Trong trường hợp này theo như bạn trình bày thì hiện nay địa phương bạn đã tiến hành gọi nhập ngũ thành hai lần, lần thứ nhất vào tháng 3/2015 và lần thứ hai vào tháng 9/2015. Trong đó, lần thứ nhất được tính từ tháng 3/2015 cho đến hết tháng 7/2015 các đồng chí đi đợt một được ra quân. Và lần tuyển quân thứ hai bắt đầu vào ngày 08/09/2015. Cả hai lần kêu gọi nhập ngũ này đều xảy ra trước ngày 01/01/2016 chính vì vậy cả hai lần tuyển quân này đều phải tuân thủ theo các quy định tại Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi năm 2005. Tức là, trong trường hợp này, cả hai đợt tuyển quân mà bạn kể trên đều phải tuân thủ các quy định về thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ tại Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 2005 là 18 tháng.

Căn cứ theo Điều 14 Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 2005:

“Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan và binh sĩ là mười tám tháng.

Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan chỉ huy, hạ sĩ quan và binh sĩ chuyên môn kỹ thuật do quân đội đào tạo, hạ sĩ quan và binh sĩ trên tàu hải quân là hai mươi bốn tháng”.

Về hiệu lực thi hành Luật Nghĩa vụ quân sự 2015 sẽ được thực hiện kể từ ngày 01/01/2016. Các sự kiện xảy xa trước ngày 01/01/2016 vẫn sẽ được áp dụng theo Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 2005. Căn cứ theo Điều 61 Luật nghĩa vụ quân sự 2015:

Điều 61. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2016.

2. Luật nghĩa vụ quân sự ngày 30 tháng 12 năm 1981; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự ngày 21 tháng 12 năm 1990; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự ngày 22 tháng 6 năm 1994 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự số 43/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.

Việc tính thời điểm bắt đầu và kết thúc thời hạn tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định. Thời gian đào ngũ không được tính vào hời hạn phục vụ tại ngũ. Tuy nhiên, bạn cũng cần lưu ý là đợt tuyển quân lần 2 có thuộc thời gian bắt đầu sau ngày 01/01/2016.

Năm nay tôi 18 tuổi tôi đang đi học trường cao đẳng nghề. Tôi thì không muốn đi nghĩa vụ quân sự, 3 năm nữa là tôi học xong (21 tuổi) mà lại nằm trong độ tuổi nghĩa vụ quân sự không biết luật sư có cách nào để tránh nghĩa vụ quân sự không?

– Điều 4 Luật nghĩa vụ quân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ quân sự

– Điều 7 Nghị định 120/2013/NĐ-CP quy định về trường hợp vi phạm quy định về nhập ngũ

Theo đó, người này sẽ bị sẽ bị phạt tiền từ 1.500.00 đồng đến 2.500.000 đồng và bị buộc chấp hành lệnh gọi nhập ngũ.

Trong trường hợp Nếu đã xử lý hành chính mà bạn không chấp hành, thì người này có thể bị khởi tố, chịu trách nhiệm hình sự về Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự theo quy định tại Bộ luật hình sự

Hành vi phạm tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự được thể hiện thông qua các hành vi sau:

+ Không chấp hành quy định của Nhà nước về đăng ký nghĩa vụ quân sự là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng việc đăng ký nghĩa vụ quan sự theo quy định của pháp luật như: đã có lệnh gọi, nhưng không đến cơ quan quân sự đăng ký nghĩa vụ quan sự hoặc đến không đúng thời gian, địa điểm đăng ký…

+ Không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ là hành vi của người đăng ký nghĩa vụ quan sự, có lệnh gọi nhập ngũ nhưng không nhập ngũ hoặc đã đến nơi nhập ngũ lại bỏ trốn không thực hiện các thủ tục cần thiết để nhập ngũ.

+ Không chấp hành lệnh gọi tập trung huấn luyện là trường hợp người có đủ điều kiện theo quy định của luật nghĩa vụ quan sự phải có nghĩa vụ huấn luyện và đã có lệnh gọi tập trung huấn luyện nhưng không đến nơi tập trung huấn luyện hoặc có đến nhưng bỏ về nên không thực hiện được trương trình huấn luyện.

Như vậy, nghĩa vụ quân sự là bắt buộc, bạn không được trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự. Trừ các trường hợp được tạm hoãn và miễn nghĩa quân sự được quy định tại Điều 41 Luật nghĩa vụ quân sự năm 2015

Bạn đang đọc nội dung bài viết Các Trường Hợp Được Cộng Nối Thời Gian Trong Quân Đội / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!