Đề Xuất 11/2022 # Các Nguyên Tắc Cơ Bản Của Luật Lao Động Việt Nam / 2023 # Top 13 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 11/2022 # Các Nguyên Tắc Cơ Bản Của Luật Lao Động Việt Nam / 2023 # Top 13 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Các Nguyên Tắc Cơ Bản Của Luật Lao Động Việt Nam / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

44844

Khái niệm: Nguyên tắc cơ bản của Luật lao động là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ hệ thống quy phạm pháp luật Lao động trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội về Lao động .

Cơ sở hình thành: các nguyên tắc cơ bản của luật lao động được hình thành từ những cơ sở

– Các quan điểm , tư tưởng đường lối mang tính chất định hướng , chỉ đạo về lĩnh vực Lao động, sử dụng Lao động , bảo vệ Lao động , thực hiện quan hệ lao động trong các nội dung, nghị quyết tại các cuộc họp Đại hội, Hội nghị của Đảng và Nhà nước.

– Các văn bản quy phạm pháp luật như văn bản luật và văn bản dưới luật

– Xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa về kinh tế-xã hội trong đó có cả lĩnh vực lao động Mỗi một ngành luật độc lập đều có những nguyên tắc cơ bản cụ thể, ví dụ như bộ luật dân sự, luật tố tụng dân sự, luật thương mại, luật hình sự, luật tố tụng hình sự, luật hành chính, luật đất đai ,….. Đều có những nguyên tắc cụ thể.

Nếu như luật dân sự bao gồm 5 nguyên tắc là nguyên tắc bình đẳng( Khoản 1 Điều 3 BLDS 2015); nguyên tắc tự do cam kết thỏa thuận (Khoản 2 Điều 3 BLDS 2015); nguyên tắc thiện chí trung thực (Khoản 3 Điều 3 BLDS 2015); nguyên tắc tôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác (Khoản 4 Điều 3 BLDS 2015) và nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự (Khoản 5 Điều 3 BLDS 2015).

Thì luật thương mại cũng bao gồm 6 nguyên tắc sau: Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động thương mại; Nguyên tắc tự do, tự nguyện thoả thuận trong hoạt động thương mại; Nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại được thiết lập giữa các bên; Nguyên tắc áp dụng tập quán trong hoạt động thương mại; Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng; Nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt động thương mại

Hay luật hình sự cũng có 5 nguyên tắc cơ bản, đó là nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc dân chủ, nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc hành vi và nguyên tắc có lỗi, nguyên tắc phân hóa trách nhiệm dân sự

Luật đất đai bao gồm 5 nguyên tắc: nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước là đại diện chủ sở hữu, nguyên tắc thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, nguyên tắc sử dụng đất đai một cách hợp lý, tiết kiệm, cải tạo và bồi bổ đất đai, nguyên tắc quan tâm đến lợi ích của người sử dụng đất, nguyên tắc ưu tiên bảo vệ và phát triển quỹ đất nông nghiệp.

2. Các nguyên tắc cơ bản của Luật lao động

Và cũng tương tự các ngành luật trên, luật lao động bao gồm 5 nguyên tắc cơ bản, đó là:

a) Nguyên tắc bảo vệ người lao động

– Đảm bảo quyền được tự do làm việc , nơi làm việc của người lao động

+ Vấn đề tự do việc làm, nơi làm việc là một trong những nội dung mà nhà nước, pháp luật quan tâm, vừa mang tính cấp bách, vừa có tính chiến lược lâu dài trong chính sách phát triển của đất nước

+ Nội dung của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ đảm bảo về mặt pháp lý cho người lao động trong phạm vi , khả năng, nguyện vọng của mình, có cơ hội để tìm kiếm việc làm, có quyền làm việc, quyền lựa chọn công việc để làm phù hợp với nhu cầu , khả năng của bản thân với điều kiện sinh hoạt, điều kiện sống của bản thân và gia đình , phát huy hết những tố chất , khả năng từ đó đảm bảo năng suất chất lượng và hiệu quả công việc

– Đảm bảo về thu nhập cho người lao động

+ Trong nền KTTT hiện nay, pháp luật không quy định mức tiền lương mà người sử dụng lao động trả cho người lao động mà tạo điều kiện cho các chủ thể thỏa thuận với nhau trên cơ sở ý chí của các bên , thời gian, năng suất , hiệu quả công việc

+ Nội dung: thể hiện rất rõ ở chỗ pháp luật quy định về việc trả lương như trả lương trên cơ sở thỏa thuận của các bên nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu , trả lương làm thêm giờ, trả lương đầy đủ và đúng thời hạn,…..

– Đảm bảo an toàn vệ sinh cho người lao động trong quá trình làm việc

– Đảm bảo quyền được nghỉ ngơi cho người lao động

+ Nghỉ ngơi là một quyền không thể thiếu của người lao động, do đó pháp luật luôn quan tâm đến quyền nghỉ ngơi này nhằm đảm bảo cho người lao động tái sản xuất sức lao động, duy trì ổn định sức lao động, duy trì quan hệ lao động, đảm bảo quyền, lợi ích của các bên

+ Nội dung: bao gồm nghỉ được hưởng lương, nghỉ không được hưởng lương, nghỉ theo thỏa thuận với người sử sụng lao động,

– Đảm bảo quyền được gia nhập, thành lập tổ chức công đoàn theo quy định của pháp luật

– Đảm bảo thực hiện bảo hiểm xã hội cho người lao động

+ Thực hiện bảo hiểm xã hội đối với người lao động có ý nghĩa thiết thực, góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động. Khắc phục được khó khăn, tạo tâm lý an toàn và tăng hiệu quả trong sản xuất kinh doanh khi người lao động gặp các rủi ro

+ Nội dung thể hiện ở chỗ các chủ thể đều phải tham gia đóng góp. Do đó để bảo đảm quyền được hưởng bảo hiểm xã hội, luật lao động không chỉ quy định quyền được hưởng các chế độ bảo hiểm mà còn quy định trách nhiệm của nhà nước, của các đơn vị sử dụng lao động trong việc đóng góp và thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động, không được có sự phân biệt đối xử trong việc thực hiện bảo hiểm. Nếu thực hiện Bảo hiểm mà không đảm bảo đúng theo quy định thì cũng có quyền yêu cầu cơ quan tổ có thẩm quyền để bảo vệ cho người lao động

– Đảm bảo quyền được đình công và các quyền khác của người lao động

+ Đình công là một trong những quyền tất yếu của người lao động được pháp luật quy định và bảo vệ

+ Quyền được đình công là quyền của tập thể người lao động đấu tranh để đảm bảo các lợi ích thông qua việc tập thể người lao động ngừng việc trong một thời gian nhất định, đưa ra những yêu cầu buộc người sử dụng lao động phải chấp nhận

+ Trong quá trình khai thác sử dụng sức lao động, nếu xảy ra các xung đột về quyền, nghĩa vụ thì tập thể người lao động cũng có quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền giải quyết để bảo vệ những lợi ích đó. Trường hợp có sự thiệt hại thì cũng có quyền yêu cầu được bồi thường

b) Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động

Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật lao động. Bởi lẽ, người sử dụng lao động là một bên của quan hệ lao động, cùng với việc bảo vệ người lao động, không thể không tính đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động.

Điều 57 Hiến pháp 1992 quy định: ” công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật”, và Điều 58 Hiến pháp cũng quy định là công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế khác. Nếu như người lao động có quyền tự do lựa chọn việc làm, được hưởng các quyền lợi trong lao động, thì người sử dụng lao động trong bất kỳ thành phần kinh tế nào cũng có quyền tuyển chọn lao động, quyền tăng hoặc giảm lao động phù hợp nhu cầu sản xuất, kinh doanh, quyền ban hành nội quy và các quy chế lao động, có quyền khen thưởng, kỷ luật, chấm dứt hợp đồng lao động v.v… theo quy định của pháp luật. Nếu tài sản của người sử dụng lao động bị người lao động làm thiệt hại thì họ có quyền yêu cầu được bồi thường. Người sử dụng lao động cũng có quyền phối hợp với tổ chức Công đoàn trong quá trình sử dụng lao động để quản lý lao động dân chủ và hiệu quả; có quyền thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể trong đơn vị cho phù hợp với tình hình sản xuất, kinh doanh và khả năng kinh tế, tài chính của đơn vị mình.

Trong quá trình hoạt động, người sử dụng lao động có quyền tham gia các tổ chức của người sử dụng lao động. Nếu các quyền, lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm thì họ có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ cho mình.

c) Nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội

Quan hệ lao động vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội. Khi điều tiết quan hệ lao động, Nhà nước phải chú ý đến các bên trong quan hệ này, nhất là người lao động, về tất cả các phương diện như: lợi ích vật chất, tinh thần, nhu cầu xã hội v. v… và đặt những vấn đề đó trong mối tương quan phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước. Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã khẳng định: ” phải có chính sách xã hội là động lực để phát triển kinh tế, nhưng đồng thời phải có chính sách kinh tế là cơ sở và tiền đề để thực hiện chính sách xã hội”. Như vậy, bên cạnh mục tiêu kinh tế như lợi nhuận, tiền lương, sự tăng trưởng trong sản xuất, kinh doanh, Luật lao động phải giải quyết các vấn đề xã hội như: việc làm, công bằng, dân chủ, tương trợ cộng đồng ngay trong quá trình lao động, ngay tại các doanh nghiệp. Nếu pháp luật lao động tách rời hoặc coi nhẹ chính sách xã hội thì sẽ không hạn chế được những tiêu cực của cơ chế thị trường; ngược lại, nếu coi trọng các vấn đề xã hội quá mức so với điều kiện kinh tế thì sẽ không có tính khả thi. Ở tầm vĩ mô, Chính phủ có sự hỗ trợ về tài chính cho những địa phương, ngành có nhiều người thiếu việc làm, hoặc mất việc làm do thay đổi cơ cấu công nghệ. Pháp luật lao động cũng có những ưu tiên về vay vốn, giảm thuế cho những doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động tàn tật, lao động nữ để giải quyết các vấn đề xã hội và đảm bảo mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp. Quán triệt nguyên tắc này, pháp luật lao động đã góp phần quan trọng bảo vệ người lao động, khuyến khích đầu tư, tạo điều kiện phát triển các doanh nghiệp nhằm tăng trưởng kinh tế đất nước, xây dựng xã hội công bằng và văn minh

d) Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

e) Nguyên tắc tự do lựa chọn việc làm và tuyển dụng lao động

Cơ sở của nguyên tắc này xuất phát từ quan điểm chủ trương của đảng là:xây dựng hệ thống pháp luật về lao động và thị trường sức la động nhằm đảm bảo quyền lựa chọn chỗ làm việc và nơi cư trú của người lao động ,thực hiện rộng rãi chế độ hợp đồng lao động,đảm bảo quyền lợi của cả người lao động và người sử dụng lao động.

Về mặt nội dung của nguyên tắc này hiểu theo nghĩa chung nhất, khi một công dân có nhu cầu tham gia thị trường lao động thì pháp luật phải đảm bảo cho công dân có toàn quyền lựa chọn tư cách tham gia:là người lao động hay người sử dụng lao động. Với tư cách là người lao động điểm a khoản 1 điều 5 bộ luật lao động 2012 đảm bảo họ có quyền: làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử. Còn với tư cách người sử dụng lao động điểm a khoản 1 điều 6 bộ luật lao động 2012 quy định họ có quyền:tuyển dụng, bố trí, điều hành lao động theo nhu cầu sản xuất kinh doanh.Như vậy người sử dụng lao động có quyền quyết định về thời điểm, cách thức tổ chức, số lượng, chất lượng… tuyển dụng lao động và sau đó có quyền sắp xếp, bố trí, sử dụng lao động, chấm dứt quan hệ lao động… theo nhu cầu của đơn vị và không trái quy định của pháp luật.

Như vậy luật lao động bên cạnh các đối tượng điều chỉnh riêng, phương pháp điều chỉnh riêng thì luật lao động cũng có hệ thống các nguyên tắc hoạt động riêng không giống với nguyên tắc của luật dân sự, thương mại hay luật hành chính. Do đó nguyên tắc cơ bản đã góp phần làm rõ quan điểm luật lao động là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Những Nguyên Tắc Cơ Bản Của Các Bộ Luật Dân Sự Trên Thế Giới Và Kinh Nghiệm Cho Việt Nam / 2023

Cần phải khẳng định rằng, không phải mọi BDL đều quy định một cách rõ ràng, tách bạch về các nguyên tắc chung; hay nói khác đi là trong tiến trình lập pháp, có hai quan điểm đối lập nhau về sự xuất hiện của các nguyên tắc chung, có BDL không chế định hẳn một phần dành cho các nguyên tắc chung, cũng có BDL quy định theo hướng ngược lại.

1.2 Những BDL có ghi nhận sự tồn tại một cách rõ ràng của nguyên tắc cơ bản

Trong số 11 BDL còn lại nằm trong các BDL mà chúng tôi lựa chọn để phân tích, dù ít hay nhiều, dù thật rõ ràng hay chưa thực sự cụ thể, các BDL này cũng đã ghi nhận một cách chính thức các nguyên tắc cơ bản của mình. Chúng tôi đơn cử một số trường hợp như sau:

Thiên mở đầu của BDL Napoleon trứ danh (BDL Pháp) gồm 6 điều quy định tất cả những vấn đề chung nhất, mang tính cốt lõi, nền tảng của toàn bộ BDL nói riêng cũng như nền pháp chế luật thành văn Pháp nói chung. Các quy tắc như mức độ điều chỉnh của cảnh luật, luật cho bất động sản và quy chế về nhân trạng và năng lực cho những người pháp ở nước ngoài tại Điều 3 được sử dụng làm khuôn mẫu cho các BDL của nhiều nước, nhất là các xứ thuộc Pháp. Điều 4 và Điều 5 mang tính song trùng và thực sự không thể tách rời nhau, là hai mặt của một đồng tiền. Điều 4 loại trừ khả năng khước từ thụ lý xét xử một vụ việc của thẩm phán với lý do là luật không điều chỉnh, thậm chí điều này còn áp chế tài thật nặng (truy tố về tội không thụ lý) cho thẩm phán khi thẩm phán thực hành hành vi này. Thực tế là, khi thẩm phán xét xử mà không cần tham chiếu các điều khoản của luật thành văn thì lẽ dĩ nhiên là các án văn này sẽ mang tính mới, và điều này có thể dẫn đến việc thiết lập các án lệ, làm mất màu sắc của nền pháp lý Pháp. Các nhà lập pháp của BDL Napoleon đã ngay lập tức đề ra một “cơ chế phòng bị” là Điều 5 khi khẳng định là các nguyên tắc, tư tưởng áp dụng cho một vụ việc thì chỉ có hiệu lực với chính vụ việc đó mà thôi, tuyệt đối cấm áp dụng cho vụ việc khác. Cuối cùng, Điều 6 nêu lên giới hạn của các giao dịch dân sự khi tuyên bố rằng những thỏa thuận dân sự nào mà trái trật tự công hoặc đạo đức thì đương nhiên bị bãi bỏ.

Ở Trung Quốc không có một BDL thống nhất. Trung Quốc chỉ có một Bộ Quy tắc chung về dân luật ban hành năm 1987 đóng vai trò như là một BDL khi quy định các vấn đề bao hàm hầu hết các nội dung cơ bản của đời sống dân sự. Bộ quy tắc này gồm tổng cộng 9 chương, bao gồm các vấn đề rất chi tiết như: các nguyên tắc cơ bản, tự nhiên nhân, pháp nhân, hành vi dân sự và đại diện, quyền dân sự, nghĩa vụ dân sự, giới hạn, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và điều khoản bổ sung. Trong Chương I về Các nguyên tắc cơ bản, nhà làm luật quy định trước hết là về các mục đích của BDL. Theo đó, BDL nhằm hướng đến việc điều hòa lợi ích công và lợi ích tư khi khẳng định rằng các lợi ích tư nhân được tôn trọng và bảo vệ chỉ khi nào nó không trái với chủ trương, chính sách nhằm xây dựng mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Quyền và nghĩa vụ của các bên là bình đẳng, không bên nào được xâm phạm bên nào, các nguyên tắc tự nguyện, công bằng, bồi thường ngang giá trị, thiện chí và tin cẩn được áp dụng triệt để. Điều 6 và Điều 7 thể hiện rất rõ tính chất điều hòa của Bộ Quy tắc này, vì nếu như các BDL khác chỉ giới hạn quyền tự do giao lưu dân sự khi chúng xâm phạm trật tự công, đạo đức và thuần phong mỹ tục thì Bộ Quy tắc chung về luật dân sự Trung Quốc lại quy định rằng những thỏa thuận dân sự còn phải tôn trọng và tuân theo những chính sách, kế hoạch của Nhà nước đã đề ra.

BDL bang Louisiana (Hoa Kỳ) dành cho Thiên mở đầu 3 chương quy định về các vấn đề chung nhất cho toàn bộ BDL. Chương I về những nguyên tắc chung (General provisions) khẳng định một cách dứt khoát rằng nguồn của luật bang Louisiana là luật thành văn và tập quán, trong đó luật thành văn mang tính nệ thức (trọng hình thức) và thể hiện rõ ý chí của nhà lập pháp, còn tập quán lặp đi lặp lại nhiều lần qua một thời gian dài và được xem như là luật, đương nhiên tập quán không thể phủ nhận luật thành văn. Còn trong trường hợp không có cả tập quán, thì cơ quan xét xử, khi giải quyết một vụ việc, có thể xử theo lẽ công bằng. Để đạt được tính công bằng của một bản án, phán quyết của tòa án phải dựa vào công lý (justice), tính hữu lý (reason) và tính phổ dụng (prevailing usages). Điều này thể hiện rõ việc pháp luật của bang Louisiana đã chịu ảnh hưởng của hệ thống thông luật (được áp dụng tại 49 bang còn lại của Hoa Kỳ) như thế nào. Tuy nhiên BDL này lại không có điều khoản loại trừ hẳn khả năng sáng tạo và áp dụng án lệ như BDL Pháp. Chúng tôi cho rằng điều này là hiển nhiên vì dù cho Louisiana có theo hệ thống dân luật đi nữa thì nó vẫn chịu nhiều ảnh hưởng của hệ thống thông luật của các bang khác, vì dù Louisiana là một nhà nước độc lập thì nó vẫn thuộc nền pháp chế Hoa Kỳ và những đặc tính của pháp luật Liên bang chắc chắn sẽ ảnh hưởng lên nó, dù ít hay nhiều.

2. Những nguyên tắc cơ bản của một bộ dân luật

Trước hết, có thể nhìn nhận một cách khách quan rằng sự tồn tại của các nguyên tắc trong một BDL dựa trên những nguyên nhân nhất định mà phần nhiều là căn cứ vào quan điểm của cơ quan soạn thảo, hệ thống pháp luật của quốc gia, thời gian và không gian soạn thảo BDL cũng như những sự tiếp nhận, học hỏi kinh nghiệm lập pháp từ các BDL khác. Sau khi nghiên cứu chế định về các nguyên tắc cơ bản của BDL, trên cơ sở nghiên cứu những điểm tương đồng, dị biệt của từng BDL, với phương châm xem xét một cách khách quan theo lối đại đồng, tiểu dị, chúng tôi tạm đúc kết một số nguyên tắc cơ bản mà một BDL thường có như sau[4]:

2.2. Nguyên tắc trung thực, thiện chí

Nguyên tắc này được đưa lên phân tích đầu tiên vì nó thể hiện rõ ràng và sinh động nhất bản chất của dân luật nói chung và BDL nói riêng là tính tự do định đoạt. Điều 10 BDL Iran khẳng định rằng khế ước ràng buộc các bên trừ trường hợp xung đột rõ ràng với quy định của luật. BDL Iran tuyệt đối bảo vệ quyền tự do lập ước và ràng buộc nghĩa vụ lẫn nhau của các bên, và chỉ giới hạn sự ràng buộc này khi nó trái pháp luật. Điều 7 Bộ Quy tắc về dân luật Trung Quốc còn mở rộng hơn nữa sự hạn chế mang tính công cộng và các sự kết ước của các tư nhân bằng việc phủ nhận khế ước cả khi nó xung đột với các kế hoạch của Chính phủ hoặc các mục tiêu kinh tế, xã hội đã được đề ra. Bên cạnh yếu tố là trái pháp luật, một thỏa thuận vẫn có thể bị bãi bỏ nếu xâm phạm trật tự công cộng (public order). Trật tự công cộng là một ý niệm rất rộng rãi, mềm dẻo để bảo vệ lợi ích chung của xã hội. Một cách thuần phác nhất, ý niệm trật tự công thường đi đôi với ý niệm thuần phong mỹ tục và thường được viện dẫn trong cùng một bản án[5]. Điều này được ghi nhận tại Điều 6 BDL Philippines, Điều 6 BDL Pháp, Điều 7 BDL bang Louisiana. Đạo đức xã hội cũng là một lĩnh vực mà các thỏa thuận không thể xâm phạm, vì nó là các quy tắc xử sự chung, định ra các chuẩn mực cư xử cho nhóm cộng đồng dân cư qua một thời gian dài. Vì thế nếu các giao dịch dân sự bị xem là phi đạo đức thì đương nhiên vô hiệu vì nó trái với cách hành xử mang tính luân lý đã được thừa nhận rộng rãi.

Nguyên tắc trung thực, thiện chí là nền tảng của mọi giao dịch dân sự, bởi lẽ một giao dịch dân sự dù đơn giản hay phức tạp, mức độ dù lớn hay nhỏ thì khi thực hiện các quyền và thi hành các nghĩa vụ, sự trung thực, thiện chí luôn được đặt lên vị trí hàng đầu. Trung thực, thiện chí là thực hiện hành vi với ý định tốt một cách ngay thẳng, chính trực[6], nên cũng có tài liệu ghi nhận nguyên tắc này dưới tên là “nguyên tắc thẳng thắn và ngay tình”[7]. Cùng một nội hàm như nhau nhưng hai hệ thống pháp luật thông luật và dân luật lại định nghĩa dưới hai tên gọi khác nhau là good faith và pacta sunt servanda. Khoản 1 Điều 2 BDL Thụy Sỹ quy định rằng các bên phải trung thực, thiện chí khi thực hiện nghĩa vụ, và sự trung thực, thiện chí mang tính giả định[8] và do pháp luật quy định, các bên không được xem là trung thực, thiện chí khi không thực hiện hành vi một cách mẫn cán, cẩn trọng và không đáp ứng được các điều kiện đặt ra. Khoản 2 Điều 1 BDL Nhật Bản, Điều 19 BDL Philippines, Điều 4 Bộ Quy tắc chung về dân luật của Trung Quốc và Điều 5 BLDS và Thương mại Thái Lan cũng rất đề cao nguyên tắc trung thực và định chế nó vào trong BDL.

Bất hồi tố là việc chỉ áp dụng luật về tương lai, không áp dụng về quá khứ, nó được thừa nhận rộng rãi cả ở cả hệ thống luật thành văn và hệ thống thông luật. Nguyên tắc bất hồi tố này bắt nguồn từ luật hình với câu nói nổi tiếng của Fuerbach là nullum crimen sine lege, nulla poena sine lege (không là tội phạm mà không có luật, không có hình phạt mà không có luật), dần dà nguyên tắc này cũng được chuyển sang địa hạt dân luật.

Nguyên tắc này thể hiện rất rõ tính nhân văn và hợp lý của một nền pháp chế, vì, một cách tất yếu, người ta không thể bị điều chỉnh bởi hành vi trong quá khứ khi sự điều chỉnh này lại đến từ pháp luật hiện tại. Nguyên tắc bất hồi tối được một số BDL như BDL Pháp (Điều 2), BDL Iran (Điều 4), BDL Philippines (Điều 4) và BDL bang Louisiana (Điều 6) minh định một cách rõ ràng.

Một nền pháp luật theo hệ thống dân luật thường có hai nguồn cơ bản là luật thành văn và tập quán pháp. Khi các cơ quan tố tụng tiến hành hoạt động xét xử, có những trường hợp trên thực tế họ không tìm thấy một quy định pháp luật phù hợp nào có thể điều chỉnh vụ việc mà mình đang xử lý, thẩm phán sẽ cầu viện đến các tập quán pháp để điều chỉnh vấn đề đó. Thực tiễn cuộc sống vô cùng phong phú với tầng tầng lớp lớp các quan hệ đan xen chằng chịt, một nền pháp chế nói chung cũng như một BDL nói riêng dù có hoàn thiện đến mấy cũng sẽ bỏ sót một số quan hệ nhất định, thẩm phán về nguyên tắc là không thể từ chối thụ lý, buộc phải sử dụng các tập quán được áp dụng lâu đời để giải quyết vụ việc. Việc thừa nhận tập quán như là một nguồn chính thống của dân luật mang lại rất nhiều lợi ích cho nhiều bên, các bên đương sự được giải quyết vụ việc của mình, thẩm phán không vi phạm nguyên tắc cấm từ chối thụ lý, còn nền pháp chế, khi có những khiếm khuyết pháp luật, sẽ luôn được lấp đầy bởi các tập quán pháp.

Tuy nhiên, như quy định tại Điều 11 BDL Philippines các phong tục nếu trái luật, trật tự công, chính sách công thì đương nhiên không được áp dụng. Khoản 1 Điều 1 BDL Thụy Sỹ, Điều 4 BLDS và Thương mại Thái Lan, Điều 3 BDL Louisiana có cùng quan điểm khi đề cập về vấn đề tập quán pháp. Duy chỉ có Bộ Quy tắc chung về dân sự Trung Quốc không thừa nhận tập quán pháp như là một nguồn của luật, mà, trong trường hợp khiếm khuyết về luật điều chỉnh, sẽ áp dụng các chủ trương, chính sách của Nhà nước.

Nguyên tắc này có phần liên hệ với nguyên tắc áp dụng tập quán vì thông thường, trong trường hợp pháp luật có điều chỉnh đầy đủ về vấn đề đang cần xét xử, thẩm phán sẽ không từ chối thụ lý vụ việc. Thẩm phán chỉ thường từ chối xét xử vụ việc khi luật khiếm khuyết. Tuy nhiên, như phần trên đã trình bày, nguồn của luật trong một nước theo hệ thống dân luật không chỉ là luật thành văn mà còn bao gồm cả tập quán pháp. Nếu trong trường hợp không có tập quán pháp thì vẫn còn những giải pháp khác để sử dụng làm nguồn luật như các giải pháp phổ biến, các nguyên tắc chung của BDL, chính sách của nhà nước, thậm chí là lẽ công bằng và tính hữu lý. Điều 4 BDL Pháp cấm các thẩm phán từ chối xét xử, nếu từ chối xét xử sẽ bị truy tố về tội không ban phát công lý. Điều 9 BDL Philippines, Điều 4 BDL Thụy Sỹ và Điều 4 BDL Louisiana cũng quy định theo hướng tương tự.

3. Kinh nghiệm cho Việt Nam

Việc tôn trọng và không được phép xâm phạm các quyền dân sự, lợi ích hợp pháp và phẩm giá của người khác là nguyên tắc rất cơ bản của bất cứ một BDL nào. Thực ra, nguyên tắc này là sự cụ thể hóa quy định về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong hiến pháp của các quốc gia mà BDL là một thành tố trong hệ thống các văn bản pháp luật của nó. Các chủ thể, bất kể địa vị, xuất thân, thành phần, tôn giáo, giới tính đều được bình đẳng với nhau trong đời sống dân sự. Không một chủ thể nào được phép cản trở hoặc xâm hại các giá trị đã được hiến pháp bảo đảm. Điều 26 BDL Philippinesquy định: Mọi người đều phải tôn trọng phẩm giá, nhân cách, sự riêng tư và sự yên tĩnh của láng giềng và người khác. Những hành vi sau, dù không cấu thành tội phạm vẫn là nguyên nhân của hành vi xâm phạm, hạn chế các vấn đề trên: (1) vào nơi ở của người khác, (2) can thiệp, quấy rối đời sống cá nhân của người khác hay gia đình của họ, (3) có dụng ý làm cho bạn bè người khác xa lánh họ, (4) làm phiền hà hoặc quấy rầy người khác dựa vào niềm tin tôn giáo, mức sống thấp, nơi sinh, khiếm khuyết cơ thể, hay các điều kiện cá nhân khác. Tương tự Điều 5 Bộ Quy tắc chung về dân sự Trung Quốc quy định theo hướng đảm bảo các quyền và lợi ích dân sự của các chủ thể, tuyệt đối cấm những hành vi xâm phạm đến những vấn đề này. Khoản 3 Điều 1 BDL Nhật Bản cấm các chủ thể lạm dụng quyền của mình, còn khoản 2 Điều 2 BDL khẳng định rõ ràng rằng các sự lạm dụng đương nhiên không được pháp luật bảo vệ.

Nếu không tính BDL Giản Yếu 1883, BDL Bắc 1931, BDL Trung 1939 và BDL Sài Gòn năm 1972, Việt Nam đến nay đã có hai BDL là BLDS 1995 và BLDS 2005, cả hai BDL này đều chọn phương án là quy định một cách cụ thể các nguyên tắc của BDL, hay nói cách khác, trong hai BDL này có sự hiện diện một cách rõ ràng các nguyên tắc chung.

BLDS 1995 đánh dấu một bước quan trọng trong quá trình lập pháp của nước ta. Bộ luật này có tầm quan trọng chỉ sau Hiến pháp, điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội biến thiên không ngừng với mức độ ngày càng phức tạp. BLDS 1995 được đánh giá là bộ luật đồ sộ nhất từ trước đến nay của nền lập hiến Việt Nam với 838 điều. BLDS 1995 đề cập đến 13 nguyên tắc bao gồm: nguyên tắc tôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; nguyên tắc tuân thủ pháp luật; nguyên tắc tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp; nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền nhân thân; nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền sở hữu, các quyền khác đối với tài sản; nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận; nguyên tắc bình đẳng; nguyên tắc thiện chí, trung thực; nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự; nguyên tắc hoà giải; bảo vệ quyền dân sự; căn cứ xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự; nguyên tắc áp dụng tập quán, áp dụng tương tự pháp luật. Những nguyên tắc của BLDS 1995 không chỉ là những quy phạm khi điều tiết mà còn là những phương châm chỉ đạo áp dụng luật, đặc biệt là áp dụng tương tự pháp luật[9]. Các nguyên tắc này xuất phát từ những nguyên tắc cơ bản hơn, đặc trưng cho hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Khi biên soạn BLDS 2005, căn cứ vào tình hình mới cũng như các quan điểm lập pháp đã có nhiều thay đổi, những thành viên ban soạn thảo BLDS 2005 đã không những sửa đổi, bổ sung mà còn sắp xếp lại thứ tự các nguyên tắc cho phù hợp với các quan hệ dân sự[10]. Các nguyên tắc này bao gồm: nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận; nguyên tắc bình đẳng; nguyên tắc thiện chí, trung thực; nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự; nguyên tắc tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp; nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự; nguyên tắc tôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; nguyên tắc tuân thủ pháp luật; nguyên tắc hoà giải; căn cứ xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự.

Nhận định một cách cơ bản thì các nguyên tắc của BLDS 2005 được sắp xếp tương đối khoa học, liền mạch và bao quát hầu hết mọi quy tắc cơ bản của những BDL tiên tiến trên thế giới. Tuy nhiên, đáp ứng nhu cầu cải cách tư pháp, mà cụ thể là sửa đổi, bổ sung BLDS 2005 hoặc biên soạn BLDS mới – một BDL tốt hơn trong tương lai, chúng tôi có một kiến nghị sau:

1) BLDS 2005 không chế định nguyên tắc áp dụng tập quán và tương tự pháp luật thành một nguyên tắc của BDL mà lại đặt nó trong Chương I về Nhiệm vụ và hiệu lực của BLDS là chưa phù hợp, vì thế nên chuyển hẳn Điều này vào Chương II về Các nguyên tắc của BLDS. Tuy nhiên, tiếp thu nguyên tắc cấm từ chối thụ lý như phần trên đã trình bày, BLDS mới cần quy định hẳn vấn đề này ngay trong Chương II về Các nguyên tắc chung, và nội dung nguyên tắc cấm từ chối thụ lý có thể đan xen với nguyên tắc áp dụng tập quán và tương tự pháp luật vì chúng quan hệ rất mật thiết với nhau.

* Bỏ nguyên tắc bình đẳng tại Điều 5

2) BLDS mới nên bỏ hẳn một số nguyên tắc:

* Bỏ nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự tại Điều 7

Ngoài Điều 2 BDL Nhật Bản quy định về sự tôn trọng phẩm giá cá nhân và bình đẳng giữa hai giới tính, và Điều 2 Bộ Quy tắc chung về dân luật Trung Quốc quy định về sự bình đẳng giữa các chủ thể, các BDL khác không đề cập đến điều này. Chúng tôi cho rằng sự bình đẳng trước pháp luật nói chung và dân luật nói riêng là một vấn đề mặc nhiên vì dân luật chi phối toàn bộ đời sống con người và “mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng”. Sự bình đẳng của các chủ thể trước pháp luật là nguyên tắc hiến định, không cần phải lặp lại trong BDL.

* Bỏ nguyên tắc tôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác tại Điều 10

Thông qua các BDL đã phân tích, có thể thấy rằng nguyên tắc chịu trách nhiện dân sự không phổ biến, nguyên tắc này chỉ được quy định tại Điều 4 Bộ Quy tắc chung về dân luật Trung Quốc. Nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự không nên trở thành một nguyên tắc cốt yếu của BDL và cũng không nên xuất hiện bởi lẽ nguyên tắc này là đương nhiên, các thiệt hại dù vô tình hay hữu ý do một chủ thể gây ra cho người khác đương nhiên ràng buộc trách nhiệm của người gây ra thiệt hại, việc này sẽ được quy định chi tiết tại các điều luật cụ thể. Tính chịu trách nhiệm dân sự này được trật tự công bảo đảm và xem như là một nguyên tắc luân lý bất di bất dịch, không cần phải luật hóa.

* Bỏ nguyên tắc tuân thủ pháp luật tại Điều 11

Nguyên tắc này thực ra đã nằm trong nội hàm của Điều 9, bởi vì các quyền dân sự mang đến các lợi ích dân sự của các chủ thể như Nhà nước, công dân đều đã được BDL bảo vệ thông qua việc thượng tôn nguyên tắc bảo vệ quyền dân sự. Việc quy định thêm một điều riêng về nguyên tắc tôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác gây nên sự trùng lấp.

* Bỏ nguyên tắc hòa giải tại Điều 12

Cùng với sự phát triển của các định chế dân sự, việc tuân thủ pháp luật đương nhiên được đặt ra và là một thành tố cơ bản của nhà nước pháp quyền. Các chủ thể khi tham gia vào các giao dịch dân sự đương nhiên phải tuân thủ pháp luật, vì nếu trái luật thì mặc nhiên vô hiệu. Việc nhắc lại nguyên tắc phổ biến này làm BDL dài thêm một cách không cần thiết.

* Bỏ căn cứ xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự tại Điều 13

Khi BDL thừa nhận các bên có quyền tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận, họ đương nhiên có quyền tự do lựa chọn chủ thể mình sẽ giao kết, các quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên đồng thời chọn luôn các phương thức giải quyết tranh chấp nếu phát sinh. Việc tách hẳn phương thức hòa giải thành một nguyên tắc là không phù hợp vì đây chỉ là một hình thức giải quyết tranh chấp, hơn nữa BDL chỉ quy định về luật nội dung, vấn đề hòa giải nên được điều chỉnh bởi luật hình thức là Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quy định này xác lập các căn cứ để hình thành các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Đây không phải là một nguyên tắc mà chỉ là một quy định thuần túy, vì thế chúng tôi đề nghị chuyển Điều này lên Chương I sẽ tốt hơn./.

Luật Nhập Cư Lao Động Lành Nghề Của Đức: Cơ Hội Cho Lao Động Việt Nam (Kỳ Cuối) / 2023

Theo giới chuyên môn, Luật chưa đáp ứng hoàn toàn mong muốn của nhà tuyển dụng Đức và giải quyết triệt để thách thức hiện nay. Tuy nhiên, Luật đã đưa ra một số điểm mới đáng chú ý như: Thống nhất định nghĩa về đối tượng được coi là lao động lành nghề, bao gồm cả những người tốt nghiệp đại học và học nghề chất lượng cao; Bãi bỏ quy định kiểm tra ưu tiên lao động nội địa; Bãi bỏ hạn chế đối với một số ngành nghề hiếm; Quy định điều kiện cho lao động chất lượng cao, phù hợp với quy định hiện hành đối với những người đã tốt nghiệp đại học, có thời gian để tìm việc ở Đức (có trình độ tiếng Đức và tự bảo đảm cuộc sống) và tạo điều kiện cho học sinh nước ngoài nâng cao tay nghề tại Đức.

Nhiều cải tiến mới

Đầu tiên, theo Luật đối tượng được coi là lao động lành nghề và là đối tượng áp dụng Luật gồm người nước ngoài, trừ những người có cư trú hợp pháp tại Liên minh châu Âu (EU), Iceland, Liechtenstein, Na Uy và Thụy Sỹ, do họ hưởng quy chế tự do đi lại và tìm việc làm trong EU, đã có chứng chỉ học nghề/tốt nghiệp đại học của Đức hoặc nước thứ ba được công nhận tương đương.

Về nguyên tắc, Luật áp dụng cho công dân tất cả các nước, nhưng Bộ Nội vụ Liên bang, sau khi thống nhất với Hội đồng Liên bang, có thể quy định chưa hoặc không áp dụng đối với một số nước nhất định, đặc biệt với nước có nhiều công dân sang Đức học tập làm việc, nhưng không hồi hương mà nộp đơn xin tị nạn.

Thứ hai, Luật cũng bãi bỏ quy định ưu tiên lao động nội địa. Trước đây, với nhiều ngành nghề, khi xét cấp phép nhập cảnh hoặc giấy phép lao động, cơ quan chức năng sẽ kiểm tra xem có công dân Đức hay EU khác cùng xin việc này không; nếu có, họ sẽ được ưu tiên.

Bãi bỏ quy định này sẽ tạo cơ hội công bằng cho lao động từ nước thứ ba. Tuy nhiên, số ít ngành nghề, khu vực nhất định hay trường hợp học nghề vẫn áp dụng quy định ưu tiên. Người nước ngoài chỉ được cấp thị thực nhập cảnh nếu chứng minh rằng có thể tự chủ tài chính để bảo đảm cuộc sống của bản thân và thân nhân.

Thứ ba, theo Luật mới, việc cấp thị thực học nghề sẽ thuận lợi hơn. Trước đây, để được cấp thị thực học nghề ở Đức, học sinh phải đáp ứng điều kiện ngặt nghèo về tiếng Đức: Với đa số ngành nghề, họ cần có bằng B1 trở lên. Riêng ngành điều dưỡng yêu cầu bằng B2; số ít ngoại lệ có thể được cấp thị thực sau khi có bằng B1, nhưng khi sang Đức phải học và đạt chứng chỉ B2 (đã có hợp đồng đào tạo tiếng Đức lên trình độ B2).

Theo Luật về ngành điều dưỡng có hiệu lực từ ngày 1/1 và Luật về nhập cư lao động lành nghề có hiệu lực từ 1/3, điều kiện ngoại ngữ trở nên dễ dàng hơn. Tuy nhiên, học sinh học nghề sẽ chỉ được cấp thị thực sang Đức nếu đã ký thỏa thuận đào tạo/học nghề với đơn vị đào tạo hay doanh nghiệp Đức. Thông tin về việc được cấp thị thực học nghề nếu có bằng A2 tiếng Đức đã gây nhiều hiểu lầm và tranh cãi, ngay cả ở Đức. Đa số cơ sở đào tạo điều dưỡng vẫn yêu cầu học viên phải có bằng B1 hoặc B2 tiếng Đức.

Cơ hội cho học sinh học nghề Việt Nam

Vốn đánh giá tốt từ kinh nghiệm trước đây với lao động Việt Nam, Đức tiếp tục tìm kiếm sự hợp tác từ phía Việt Nam.

Ngày 1/7/2015, Bộ Kinh tế và Năng lượng Đức và Bộ Lao động và thương binh xã hội Việt Nam đã ký “Ý định thư chung” về tuyển chọn và đưa lao động Việt Nam sang Đức. Tháng 7/2017 tại Berlin, Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến và Bộ trưởng Kinh tế, Lao động và Y tế bang Mecklenburg-Vorpommern (MV) Harry Glawe đã ký Ý định thư về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực y tế. Những thỏa thuận này đã tạo cơ sở pháp lý cho hợp tác đào tạo, đưa học sinh học nghề và lao động Việt Nam sang Đức.

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến ký và Bộ trưởng Kinh tế, Lao động và Y tế bang Mecklenburg-Vorpommern (MV) Harry Glawe ký Ý định thư về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực y tế vào tháng 7/2017 tại Berlin. (Nguồn: Báo Giáo dục)

Mới đây, năm 2019, Cục Quản lý Lao động Ngoài nước thuộc Bộ Lao động – Thương binh xã hội, Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) và Tổ chức Môi giới Lao động Nước ngoài (ZAV) thuộc Cục Việc làm (BA) Đức đã ký Thỏa thuận đưa điều dưỡng viên sang Đức. Bang MV và Uỷ ban Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh cũng ký Ý định thư và Thỏa thuận cụ thể về đào tạo và tuyển chọn học sinh điều dưỡng sang bang MV vào năm 2017 và 2019.

Dù không phải bang mạnh về kinh tế và chịu chung tình trạng thiếu hụt lao động trong ngành điều dưỡng như các bang khác, nhưng bang MV đã có bước đi quyết liệt và có tính bền vững, lâu dài. Để tạo sự tin tưởng nơi phụ huynh và học sinh lựa chọn sang học nghề ở Đức, Bộ Kinh tế bang đã ký văn bản hợp tác với chính quyền địa phương ở Việt Nam, bảo đảm 100% đầu ra cho học sinh tốt nghiệp B2 tiếng Đức.

Khi học xong B1, bang sẽ ký với học sinh thỏa thuận học/dạy nghề, hỗ trợ một phần chi phí học lên B2. Học sinh đỗ B2 sẽ được nhận ngay sang học nghề với ưu đãi và đối xử bình đẳng như người Đức. Không những được học nghề miễn phí, học sinh Việt Nam còn được hỗ trợ trang trải cho cuộc sống, được đóng bảo hiểm y tế, hỗ trợ mua sắm đồ dùng ban đầu.

Cơ sở đào tạo cũng cử người giúp học sinh học nghề Việt Nam mới sang và trong suốt quá trình học tập. Học sinh tham gia các khóa học hội nhập và khi tốt nghiệp, họ được nhận ngay vào làm việc ở cơ sở đào tạo đó hoặc nơi khác. Bộ Kinh tế, Lao động và Y tế tại Schwerin cũng lập riêng bộ phận theo dõi, hỗ trợ công tác đào tạo học sinh Việt Nam. Nhân viên bộ phận cùng các cơ sở đào tạo thường xuyên giữ liên lạc với học sinh trước và trong thời gian học tiếng, làm việc tại bang. Họ cũng thường xuyên hợp tác với đơn vị phái cử, cơ quan chức năng Việt Nam và cơ sở đào tạo, dạy nghề Đức để bảo đảm học sinh Việt Nam được đối xử bình đẳng, hưởng các chế độ như học sinh Đức, xử lý vấn đề phát sinh.

Trung tâm ngoại ngữ và dạy nghề Hà Tĩnh (TTMV Hà Tĩnh) là kết quả của hợp tác song phương giữa bang MV và tỉnh Hà Tĩnh. Dù mới tuyển sinh tháng 8/2019 và khai trương chính thức tháng 11/2019, nhưng sau chỉ nửa năm, TTMV đã có hơn 200 học sinh nhập học, từ mọi miền đất nước cùng đội ngũ giáo viên chuyên nghiệp, yêu nghề, trong đó có 8 giáo viên Đức. Đến nay, TTMV là đối tác duy nhất của bang Mecklenburg-Vorpommern tại Việt Nam nhận ủy thác đào tạo tiếng Đức đến trình độ B2 để học nghề tại Đức. TTMV cũng được lãnh đạo và các sở ban ngành địa phương quan tâm, hỗ trợ tích cực.

Trung tâm TTMV Hà Tĩnh. (Nguồn: Facebook TTMV Hà Tĩnh)

Với kết quả này, thời gian tới, hy vọng rằng hợp tác đào tạo lao động song phương sẽ mở rộng trong nhiều lĩnh vực khác như một số ngành nghề thủ công, nhà hàng, khách sạn, quản lý du lịch, cơ khí, điện tử… chứ không chỉ giới hạn trong lĩnh vực y tế, điều dưỡng.

Tranh thủ lợi thế cạnh tranh, thuận lợi từ các quy định pháp luật mới của Đức sẽ đòi hỏi sự đồng hành sát sao của các cấp chính quyền cùng quyết tâm học tập nghiêm túc của học sinh. Với những thế hệ cha anh từng sinh sống, học tập và lao động ở Cộng hòa Dân chủ Đức, hình ảnh nước Đức vẫn luôn trong trái tim họ. Kiến thức, kinh nghiệm, tác phong chuyên nghiệp chuyên nghiệp và kỷ luật là phẩm chất cần thiết trong giai đoạn phát triển hiện nay của Việt Nam.

Nếu tận dụng tốt cơ hội này, 10 năm tới, Việt Nam sẽ có lực lượng lao động lành nghề tại Đức, đóng vai trò cầu nối cho quan hệ giữa nhân dân hai nước và trở thành lực lượng nòng cốt trong quá trình dựng xây quê hương, đất nước một khi trở về.

Tư vấn, vận động lao động Việt Nam tại Hàn Quốc về nước đúng hạn

TGVN. Chiều 3/11, tại thành phố Busan, miền Nam Hàn Quốc đã diễn ra buổi giao lưu, tư vấn pháp luật và vận động lao động …

Không kích ở Idlib: NATO lên án Chính phủ Syria tấn công ‘bừa bãi’, Đức gọi là ‘tội ác chiến tranh’

TGVN. Ngày 28/2, Người phát ngôn của Tổng thư ký Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) cho biết, ông Jens Stoltenberg đã …

Cháy chợ của người Việt ở Cheb (CH. Czech) gần biên giới với Đức

TGVN. Vụ hỏa hoạn bùng phát lúc 1 giờ sáng ngày 25/2 (giờ địa phương) đã phá hủy dãy quầy khoảng hơn 10 gian hàng …

Nguyên Tắc Quốc Tịch Theo Pháp Luật Việt Nam / 2023

Quốc tịch gắn liền với mỗi con người từ khi sinh ra đến khi chết và là tiền đề để họ được hưởng các quyền công dân và thực hiện nghĩa vụ công dân đối với nhà nước mà mình mang quốc tịch.

Cùng với sự phát triển của xã hội, mỗi quốc gia lại có một chế định riêng về vấn đề quốc tịch, Việt Nam cũng không phải ngoại lệ. Nguyên tắc một quốc tịch là nguyên tắc phổ biến nhất, bao gồm nguyên tắc một quốc tịch triệt để và nguyên tắc một quốc tịch mềm dẻo.

Theo Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp Luật này có quy định khác. Vậy, với quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam thì nước ta tuân theo nguyên tắc một quốc tịch “mềm dẻo”. Tuy nhiên, nguyên tắc này đang gặp phải một số vướng mắc trong thực tiễn thi hành. Hơn thế nữa, nguyên tắc này đã và đang trở thành một thách thức đòi hỏi Việt Nam cũng như một số nước khác phải quan tâm và tìm giải pháp tháo gỡ do có những xung đột pháp luật về quốc tịch giữa Việt Nam và một số nước.

Nguyên tắc xác định quốc tịch Nguyên tắc một quốc tịch

Nguyên tắc này còn được hiểu là nguyên tắc một quốc tịch triệt để. Luật quốc tịch các nước không quy định thành nguyên tắc cứng nhưng quan điểm 1 quốc tịch là quan điểm xuyên suốt toàn bộ nội dung của pháp luật quốc tịch các nước trên thế giới, chỉ trừ những trường hợp đặc biệt luật quy định thì công dân của nước đó mới được phép mang 2 quốc tịch.

Do tình trạng pháp lý đặc biệt của người 2 hay nhiều quốc tịch, nên trong pháp luật quốc tế cũng như pháp luật của các quốc gia đều quan tâm giải quyết. Trong những thập kỷ trước, vấn đề này được giải quyết theo hướng hạn chế, giảm tối đa tình trạng 2 hay nhiều quốc tịch, người đó thường trú hoặc cư trú chủ yếu ở nước ngoài và nếu họ đáp ứng các điều kiện quy định trong pháp luật quốc gia về thôi quốc tịch.

Cũng cần phải thấy rằng, về phía cá nhân người có 2 quốc tịch, mặc dù có khó khăn nhất định khi cùng một lúc phải thực hiện nghĩa vụ công dân ở 2 nước khác nhau, nhưng thuận lợi do 2 quốc tịch mang lại cũng không phải nhỏ.

– Đối với công dân có nhiều hộ chiếu (đa quốc tịch), nhập cảnh bằng hộ chiếu nào sẽ được coi là công dân của nước đó và khi có xung đột sẽ được bảo hộ theo quốc gia trên hộ chiếu lúc nhập cảnh.

– Đối với quyền ứng cử, thông thường các quốc gia chỉ công nhận công dân ứng cử là công dân chỉ có một quốc tịch nước ứng cử. Do vậy, nếu ứng cử viên có nhiều quốc tịch sẽ không được tham gia ứng cử vào hệ thống chính trị hoặc là người đó phải từ bỏ quốc tịch khác của mình, thậm chí phải cư trú trên lãnh thổ quốc gia người này ứng cử một thời gian nhất định.

– Đối với quyền bầu cử, thông thường các quốc gia chậm phát triển hoặc đang phát triển tiềm lực kinh tế chưa lớn không quy định rõ ràng về việc công dân của mình ở nước ngoài có được bầu cử hay không. Tuy nhiên, ở một số quốc gia phát triển thì công dân của họ ở nước ngoài có thể có quyền bầu cử thông qua các hình thức được tổ chức tại các cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự ở nước ngoài.

– Đối với trẻ em, thông thường các nước dành tối đa sự ưu đãi vì việc xung đột quốc tịch là rất ít, hiếm có. Việc tạo điều kiện cho trẻ em được công nhận nhiều quốc tịch để tối đa hóa quyền lợi mà trẻ em được hưởng và quy định để một độ tuổi nhất định khi trẻ em đó lớn lên sẽ được toàn quyền lựa chọn quốc tịch cho mình.

Nguyên tắc đa quốc tịch

Vì nhiều lý do chủ quan và khách quan, trong đó phần đáng kể là do sự khác biệt trong quy định pháp luật quốc tịch của các quốc gia nên dẫn tới tình trạng 1 người có 2 hoặc nhiều quốc tịch.

Ưu điểm của nguyên tắc trên đó là vừa đảm bảo nguyên tắc một quốc tịch, vừa đảm bảo nguồn lực phát triển, giúp các quốc gia xử lý linh hoạt hơn đối với trường hợp 2 hay nhiều quốc tịch, đặc biệt, nguyên tắc trên dung hòa giữa nguyên tắc một quốc tịch triệt để và nguyên tắc đa quốc tịch.

Qua nghiên cứu các văn bản pháp luật về quốc tịch của Việt Nam cho thấy, Việt Nam lấy nguyên tắc một quốc tịch làm chủ đạo trong xây dựng, thực thi pháp luật và quản lý nhà nước về quốc tịch, phù hợp xu hướng chung của các quốc gia trên thế giới.

Luật Quốc tịch năm 2008 và các văn bản chi tiết hướng dẫn thi hành đã quy định cơ bản đầy đủ điều chỉnh các vấn đề về quốc tịch. Chính vì vậy, đã đạt được một số mặt tích cực như sau:

(i). Việt Nam là một trong các quốc gia có số lượng người không quốc tịch, người không rõ quốc tịch cư trú nhiều. Họ di cư tự do từ các nước láng giềng sang sinh sống tại các tỉnh biên giới Việt Nam. Tuy nhiên, hầu hết họ không có giấy tờ để chứng minh quốc tịch của mình.

Căn cứ quy định của Điều 22 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008), Chính phủ Việt Nam đã hướng dẫn trình tự, thủ tục và hồ sơ nhập quốc tịch cho những người này hết sức đơn giản, miễn giảm các điều kiện, lệ phí, trình tự thủ tục rút gọn hơn so với thủ tục thông thường…. Cụ thể, Luật Quốc tịch Việt Nam đã tạo cơ sở pháp lý giải quyết cho nhập quốc tịch Việt Nam đối với hơn 4400 người người không quốc tịch đã cư trú ổn định, lâu dài trên lãnh thổ Việt Nam không quốc tịch được nhập quốc tịch Việt Nam.

(ii). Khoản 2 Điều 16 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 quy định:”Trường hợp trẻ em được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam mà cha mẹ không thoả thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con thì trẻ em đó có quốc tịch Việt Nam”. Quy định này cho thấy, pháp luật Việt Nam đã đảm bảo trẻ sinh ra trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam, có cha và mẹ là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam. Qua đó, đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng cho trẻ, đảm bảo nguyên tắc huyết thống tuyệt đối và góp phần hạn chế tình trạng trẻ em không có quốc tịch.

(iii). Khoản 3 Điều 19 và Khoản 5 Điều 23 Luật Quốc tịch năm 2008 cho thấy, pháp luật về quốc tịch của Việt Nam đã được xây dựng với nguyên tắc 1 quốc tịch một cách “mềm dẻo” bằng cơ sở pháp lý để tiếp nhận, đề xuất giải quyết các trường hợp xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam muốn giữ quốc tịch nước ngoài, trong trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép.

Khoản 1 Điều 37 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã tạo cơ sở pháp lý để công nhận tình trạng 2 quốc tịch của trẻ được người nước ngoài nhận làm con nuôi thì vẫn giữ quốc tịch Việt Nam.

Điều 9 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 qui định công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài mà pháp luật quốc gia đó quy định tự động có quốc tịch thông qua hôn nhân (Thụy Sĩ, Pháp…) mà không bắt buộc phải thôi quốc tịch Việt Nam.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực nêu trên khi áp dụng Luật Quốc tịch Việt Nam vẫn còn một số vướng mắc do một số quy định trong Luật Quốc tịch năm 2008 chưa rõ ràng và cụ thể, dẫn đến việc khó triển khai thực hiện, như:

– Luật Quốc tịch Việt Nam quy định khá rõ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết các việc về quốc tịch Việt Nam, nhưng chưa có quy định về cơ chế thu hồi các quyết định về quốc tịch để bảo đảm tôn trọng nguyên tắc một quốc tịch Việt Nam. Điều đó cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa quy định rõ các biện pháp hữu hiệu để bảo đảm thực thi nguyên tắc một quốc tịch mà chỉ sửa đổi cho “mềm dẻo” để phù hợp hơn với nhiệm vụ, hoàn cảnh thực tế của đất nước.

– Luật Quốc tịch Việt Nam chưa giải quyết triệt để vấn đề quốc tịch của người không quốc tịch và quốc tịch của trẻ là con của công dân Việt Nam và người nước ngoài và vấn đề giữ quốc tịch nước ngoài. Vẫn còn khá nhiều trường hợp người không quốc tịch chưa được nhập quốc tịch Việt Nam không được hưởng đầy đủ quyền và thực hiện nghĩa vụ như công dân Việt Nam. Vẫn còn tình trạng trẻ là con của công dân Việt Nam với người nước ngoài đang cư trú trên lãnh thổ Việt Nam nhưng không có quốc tịch hoặc mang quốc tịch nước ngoài chưa được đảm bảo đầy đủ quyền trẻ em. Hầu hết các hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam, xin trở lại quốc tịch Việt Nam, đồng thời xin giữ quốc tịch nước ngoài đều bị trả lại do đương sự không thể chứng minh được mình thuộc trường hợp “đặc biệt”.

– Khoản 2 Điều 37 Luật Quốc tịch năm 2008 quy định: “Trẻ em là người nước ngoài được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi thì có quốc tịch Việt Nam, kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam công nhận việc nuôi con nuôi”. Tuy nhiên chưa có hướng dẫn việc công nhận/xác nhận quốc tịch Việt Nam cho các trẻ này.

– Về những giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 11 của Luật Quốc tịch. Kể từ ngày 01/01/2016, Luật Căn cước công dân có hiệu lực thi hành, theo đó tại Khoản 1 Điều 20 Luật Căn cước công dân quy định “Thẻ Căn cước công dân là giấy tờ tùy thân của công dân Việt Nam có giá trị chứng minh về căn cước công dân của người được cấp thẻ để thực hiện các giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam”. Tuy nhiên, Điều 11 Luật Quốc tịch Việt Nam chưa quy định loại giấy tờ này là một trong những loại giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam.

– Về thủ tục hành chính trong giải quyết các việc về quốc tịch

+ Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 20 và điểm d Khoản 1 Điều 24 Luật Quốc tịch thì một trong những giấy tờ phải có trong hồ sơ của người xin nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam có thời gian cư trú ở nước ngoài là Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp. Yêu cầu này, rất khó cho người dân, và trong nhiều trường hợp là không thể thực hiện được.

+ Quy định tại Điều 19 Luật Quốc tịch và Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22/9/2009 của Chính phủ là quy định rất khó khăn cho người xin nhập quốc tịch là người không quốc tịch. Vì để được cấp thẻ thường trú, họ phải bảo đảm điều kiện theo quy định tại Khoản 4 Điều 39; khoản 1 Điều 42 Luật Nhập cảnh, Xuất cảnh, quá cảnh các văn bản hướng dẫn thi hành

Điều 12 Luật Quốc tịch năm 2008 quy định:”Vấn đề phát sinh từ tình trạng công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài được giải quyết theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, trường hợp chưa có điều ước quốc tế thì được giải quyết theo tập quán và thông lệ quốc tế”.

Bên cạnh những quy định còn chưa cụ thể, rõ ràng như trên, hiện nay, Việt Nam còn thiếu cả cơ chế pháp lý cũng như cơ chế vận hành để giải quyết hậu quả phát sinh từ tình trạng người có 2 hay nhiều quốc tịch.

3. Một số kiến nghị

Từ thực trạng pháp luật và thực tế áp dụng pháp luật về nguyên tắc quốc tịch Việt Nam, tác giả có một số kiến nghị sau:

Thứ nhất, chú trọng giải pháp hài hòa giữa nguyên tắc 1 quốc tịch với việc thừa nhận một số ngoại lệ theo quy định về vấn đề 2 quốc tịch, nhưng phải ưu tiên áp dụng quốc tịch Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam.

Do vậy, cần phải cụ thể hóa các trường hợp đặc biệt (khoản 3 điều 19 Luật Quốc tịch 2008) bởi Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 và các văn bản quy định chi tiết thi hành chưa quy định rõ “thế nào là trường hợp đặc biệt” để được Chủ tịch nước cho phép giữ quốc tịch nước ngoài khi xin nhập quốc tịch, xin trở lại quốc tịch Việt Nam. Cụ thể:

Tại Khoản 3 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định “Người nhập quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ những người quy định tại khoản 2 Điều này, trong trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép gồm:

a) Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam;

b) Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam;

c) Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”

Khoản 5 Điều 23 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định: “Người được trở lại quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ những người sau đây trong trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép:

a) Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam;

b) Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam;

c) Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”

Chính vì chưa có quy định, hướng dẫn rõ thế nào là “trường hợp đặc biệt”, nên đã gây khó khăn trong việc áp dụng điều luật này, dẫn đến nhầm tưởng là nếu thuộc một trong các trường hợp trên thì khi xin nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam sẽ được coi là “trường hợp đặc biệt” để xin Chủ tịch nước cho giữ quốc tịch nước ngoài. Do đó, hầu hết hồ sơ xin nhập/xin trở lại quốc tịch Việt Nam đều ghi nguyện vọng được giữ quốc tịch nước ngoài đang có. Trong khi đó, các hồ sơ trên đều bị Bộ Tư pháp từ chối giải quyết theo nguyện vọng giữ lại quốc tịch nước ngoài và buộc người yêu cầu người xin nhập/người xin trở lại quốc tịch Việt Nam phải thôi quốc tịch nước ngoài.

+ Bổ sung quy định nhằm hủy bỏ giá trị của giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam (Điều 11 Luật Quốc tịch) của những người đã được thôi quốc tịch bị tước quốc tịch, bị hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam

+ Cần có cơ chế thông tin giữa Bộ Tư pháp và Bộ Công an để thực hiện việc xóa đăng ký thường trú, thu hồi hộ chiếu Việt Nam, chứng minh thư nhân dân của những người đã được thôi quốc tịch, bị tước quốc tịch, bị hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam.

Thứ ba, thực hiện rà soát, thống kê và có biện pháp xử lý các trường hợp cấp chưa đúng giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam cho người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam.

Thứ tư, tổ chức tập huấn chuyên sâu pháp luật về quốc tịch cho công chức tư pháp, hộ tịch người có trách nhiệm có trách nhiệm cấp các giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam.

Thứ năm, Việt Nam cân nhắc tham gia các Điều ước về quốc tịch như Công ước năm 1954 về người không quốc tịch, Công ước năm 1961 về hạn chế tình trạng không quốc tịch nhằm đảm bảo quyền của người không quốc tịch tại Việt Nam. Muốn vậy, phải giải quyết các vướng mắc sau:

+ Việt Nam chưa có văn bản quy phạm pháp luật BQPPL riêng biệt nào qui định về địa vị pháp lý, biện pháp ngăn ngừa, giảm thiểu tình trạng người không quốc tịch cũng như biện pháp đảm bảo quyền cho người người không quốc tịch. Do đó cần đánh giá, rà soát toàn diện hệ thống pháp luật về người quốc tịch nhằm nội luật hóa 2 công ước kể trên.

+ Chuẩn bị nguồn lực cho công tác quản lý.

+ Hiện nay công tác thống kê về người không quốc tịch chưa được kiểm tra, rà soát toàn diện nên sẽ không có số liệu chính xác. Do vậy, Việt Nam sẽ khó khăn trong việc báo cáo với ủy ban điều hành của các Công ước Liên hợp quốc về kết quả cũng như khó khăn trong việc giải quyết tình trạng không quốc tịch tại Việt Nam.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Các Nguyên Tắc Cơ Bản Của Luật Lao Động Việt Nam / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!