Đề Xuất 11/2022 # Các Nghị Quyết Của Tổ Chức Liên Chính Phủ Có Ý Nghĩa Quan Trọng Trong Quá Trình Hình Thành Cũng Như Viện Dẫn, Áp Dụng Quy Phạm Tập Quán Và Quy Phạm Điều Ước / 2023 # Top 19 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 11/2022 # Các Nghị Quyết Của Tổ Chức Liên Chính Phủ Có Ý Nghĩa Quan Trọng Trong Quá Trình Hình Thành Cũng Như Viện Dẫn, Áp Dụng Quy Phạm Tập Quán Và Quy Phạm Điều Ước / 2023 # Top 19 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Các Nghị Quyết Của Tổ Chức Liên Chính Phủ Có Ý Nghĩa Quan Trọng Trong Quá Trình Hình Thành Cũng Như Viện Dẫn, Áp Dụng Quy Phạm Tập Quán Và Quy Phạm Điều Ước / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bài tập học kì công pháp: các nghị quyết của tổ chức liên chính phủ có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hình thành cũng như viện dẫn, áp dụng quy phạm tập quán và quy phạm điều ước

LỜI MỞ ĐẦU:

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ A. Một số vấn đề cơ bản: 1. Quy phạm pháp luật quốc tế: Quy phạm pháp luật quốc tế là quy tắc xử sự, được tạo bởi sự thoản thuận của các chủ thể của luật quốc tế và có giá trị ràng buộc các chủ thể đó đối với các quyền, nghĩa vụ hay trách nhiệm pháp lý quốc tế khi tham gia quan hệ pháp luật quốc tế. Quy phạm pháp luật quốc tế là hạt nhân của cấu trúc hệ thống luật quốc tế. Căn cứ vào cách thức hình thành và hình thức biểu hiện của quy phạm có thể chia thành quy phạm điều ước và quy phạm tập quán. Quy phạm tập quán: là quy tắc xử sự chung hình thành trong thực tiễn sinh hoạt quốc tế, được các chủ thể của Luật Quốc tế thừa nhận là quy phạm có giá trị pháp lí bắt buộc. Quy phạm điều ước: là quy phạm được ghi nhận trong điều ước quốc tế do quốc gia và chủ thể khác của Luật Quốc tế thỏa thuận xây dựng nên trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, thông qua đấu tranh và thương lượng nhằm ấn định, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể trong Luật Quốc tế. 2. Tổ chức quốc tế liên chính phủ: Tổ chức quốc tế liên chính phủ là một trong những chủ thể của Luật Quốc tế. Đó là những thực thể liên kết các quốc gia và các chủ thể khác của Luật Quốc tế, hình thành trên cơ sở điều ước quốc tế, có quyền năng chủ thể của Luật Quốc tế, có hệ thống các cơ quan để duy trì hoạt động thường xuyên theo đúng mục đích và tôn chỉ của tổ chức đó. Một số tổ chức quốc tế liên chính phủ tiêu biểu như: Liên hợp quốc (United Nation), Tổ chức thương mại thế giới ( World Trade Organisation), Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế (International Civil Aviation Organization) … 3. Nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ Khi tiến hành các hoạt động chức năng, tổ chức quốc tế thường thông qua các nghị quyết và quyết định. Ở đây ta chỉ đề cập đến nghị quyết vì nghị quyết của các tổ chức liên chính phủ là một trong những nguồn bổ trợ cơ bản của Luật quốc tế. Điều 38 quy chế Tòa án quốc tế coi phán quyết của Tòa và học thuyết của các chuyên gia giỏi nhất về công pháp quốc tế là phương tiện bổ trợ để xác định quy phạm pháp luật quốc tế. quy định này ngày càng không đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn quốc tế. Việc này cũng dễ hiểu, bởi lẽ nội dung tương tự như điều 38 đã được hình thành từ sau thế chiến thứ nhất đối với Pháp viện thường trực quốc tế. Khi tòa án quốc tế được thành lập, nhiều nội dung của Quy chế Pháp viện thường trực quốc tế được chuyền tải vào Quy chế của Tòa. Khi các văn kiện quốc tế còn quá ít ỏi, nên điều 38 không đề cập đến loại văn kiện cực kì quan trọng đó là nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ. Có hai loại nghị quyết của các tổ chức liên chính phủ. Đó là nghị quyết mang tính quy phạm và nghị quyết có tính khuyến nghị. Trong đó, nghị quyết có tính khuyến nghị của Đại hội đồng Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác là văn kiện quốc tế, trong đó có các định hướng, chủ trương, biện pháp giải quyết từng vấn đề nhất định mang tính thời sự của đời sống quốc tế, hoặc tuyên bố về nguyên tắc giải quyết những vấn đề nào đó trong quan hệ quốc tế. Tự bản thân các nghị quyết này chỉ mang tính khuyến nghị mà không sinh ra quy phạm pháp lý, không có hiệu lực pháp lý bắt buộc các quốc gia phải tuân theo. Tuy vậy nhiều nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc giữ vai trò quan trọng trong quá trình hình thành của quy phạm điều ước và quy phạm tập quán. Trên cơ sở nghị quyết của các tổ chức liên chính phủ, các thành viên thỏa thuận kí kết điều ước quốc tê, góp phần hình thành quy phạm điều ước và quy phạm tập quán quốc tế mới. Hiện nay số lượng các điều ước và quy phạm tập quán quốc tế được hình thành bằng con đường này ngày càng gia tăng làm cho quá trình xây dựng quy phạm pháp luật quốc tế được rút ngắn lại. B. Chứng minh: I. Đối với quy phạm tập quán: 1. Trong quá trình hình thành quy phạm tập quán: Nghị quyết của các tổ chức liên chính phủ là một trong những nguồn quan trọng trong quá trình hình thành quy phạm tập quán. Ban đầu, chúng ta nghe có vẻ rất vô lý. Quy phạm tập quán là những quy tắc xử xự chung, được lặp đi lặp lại nhiều lần và trải qua quá trình lâu dài. Trong những thế kỉ trước, người ta vẫn cho rằng thời gian đó là 50 đến 100 năm hoặc nhiều hơn nữa. Còn nghị quyết của các tổ chức liên chính phủ là một khái niệm rất là mới vì các tổ chức liên chính phủ cũng chỉ mới xuất hiện. Khái niệm tổ chức quốc tế chỉ mới ra đời đầu tiên vào khoảng thế kỉ XIX sau khi Ủy ban thường trực sông Ranh ra đời năm 1815. Nhưng sau đây chúng ta sẽ đi tìm hiểu những tình huống thực tế trên thế giới để chứng minh rằng nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ chính là một nguồn để hình thành nên quy phạm tập quán. Điểm mới trong quá trình hình thành các quy phạm tập quán từ nửa sau thế kỉ XX là việc xuất hiện các quy phạm tập quán hình thành từ nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ, đặc biệt là Liên hợp quốc. Thông thường nếu như các nghị quyết của Liên hợp quốc trong nhiều năm đều tập trung thống nhất quyết định về một vấn đề và tất cả các quốc gia đều hành động theo quy tắc này, khi ấy đã có thể nói đến sự hình thành quy phạm tập quán mới. Loại quy phạm này thường được hình thành trong linh vực duy trì hòa bình và an ninh quốc tế cũng như trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia. Trong thực tiễn có rất nhiều quy phạm tập quan hình thành từ con đường nghị quyết của tổ chức Liên hợp quốc. Ví dụ như: câu hỏi đặt ra là những hành vi nào của một quốc gia được coi là tấn công vũ trang để từ đó các quốc gia khác thực hiện quyền tự vệ chính đáng đã được làm sáng tỏ trong Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc số 3314 ( XXIX) ngày 14 tháng 12 năm 1974. Nghị quyết đã chỉ rõ hành vi xâm lược là các hành vi của quốc gia này sử dụng bất hợp pháp lực lượng vũ trang tấn công vào lãnh thổ quốc gia khác, cũng như bất kì sự bao vây phong toả nào bằng lực lượng vũ trang chống lại quốc gia ấy. 2. Trong quá trình viện dẫn cũng như áp dụng quy phạm tập quán: Như vậy, trong ví dụ cụ thể nêu trên, Tòa án Quốc tế đã viện dẫn và áp dụng nghị quyết 2625 (XXV) của Liên hợp quốc để giải thích cho việc áp dụng quy định tập quán về không sử dụng vũ lực, không can thiệp để giải quyết vụ kiện này. Nếu không có Nghị quyết 2625 (XXV) của Liên hợp quốc thì Tòa án Quốc tế sẽ rất khó khăn trong việc giải quyết vụ việc này. II. Đối với quy phạm điều ước: 1. Trong quá trình hình thành quy phạm điều ước: Từ cuối năm 60 của thế kỉ XX đã xuất hiện quan điểm cho rằng một số nghị quyết của Liên hợp quốc có chứa đựng những quy phạm thực chất và nguyên tắc của luật pháp quốc tế, các công ước khung và những quy tắc ứng xử điều chỉnh hành vi của quốc gia có thể coi là một dạng đặc biệt của luật pháp quốc tế. Các quy tắc xử sự, khuyến nghị, hướng dẫn, nghị quyết rõ rằng không thuộc nguồn chính thức của luật pháp quốc tế theo điều 38 của Quy chế tòa án quốc tế của Liên hợp quốc. Tuy vậy, nhiều nghị quyết của các tổ chức liên chính phủ chứa đựng nhiều yếu tố của luật, thể hiện rõ cam kết của các quốc gia và được nhiều quốc gia tôn trọng. Từ đó, các văn bản đó có thể nhanh chóng được phát triển thành các điều ước quốc tế. Ví dụ Hướng dẫn và các Nguyên tắc Cairo của chương trình Toàn cầu của Liên hợp quốc (UNEP) về quản lí tố môi trường đối với các chất thải độc hại đã được các quốc gia pháp điển hóa thành Công ước Basen về kiểm soát việc vận chuyển qua biên giới quốc gia các chất thải độc hại ( Những phát triển của pháp luật quốc tế trong thế kỉ XXI). Đây là một văn bản pháp lý quan trọng trong vấn đề bảo vệ môi trường. Chất thải độc hại là một loại chất thải có tính nguy hiểm cao, nguy hại cho cả môi trường lẫn tính mạng con người. Vì vậy, chính như Hướng dẫn và các Nguyên tắc Cairo của chương trình Toàn cầu của Liên hợp quốc (UNEP) về quản lí tố môi trường đối với các chất thải độc hại đã tạo tiền đề cho việc kí kết nên Công ước Basen. Trên thực tế, đã có 18 phụ bản tiêu chuẩn và khuyến nghị thực hành quốc tế do ICAO đưa ra và được các quốc gia coi như là phụ lục của công ước Chicago 1944 về hàng không dân dụng quốc tế như Phụ lục về chứng chỉ của phi hành đoàn, phụ lục về quốc tịch phương tiện bay và chứng chỉ đăng kí phương tiện bay… Như vậy căn cứ vào những nghị quyết khuyến nghị mà ICAO đưa ra mà các quốc gia đã kí kết nên Công ước Chicago và coi phần đó như là phần phụ lục. Trong các điều ước quốc tế, phụ lục được xem là phần không thể tác rời của điều ước và có giá trị pháp lý như các quy định khác trong điều ước. Phần phụ lục trong Công ước Chicago đã đề cập và làm rõ thêm một số vấn đề quan trọng trong công ước, điều này giúp cho các quốc gia thành viên và các quốc gia khác sẽ dễ dàng hơn trong việc thực hiện điều ước. 2. Trong quá trình viện dẫn, áp dụng: Tuyên ngôn về quyền con người được thông qua trên cơ sở Nghị quyết số 217A(III) của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 10/12/1948. Đây chỉ là văn bản có tính khuyến nghị của Liên hợp quốc nhưng có ý nghĩa chính trị pháp lý quan trọng. Tuyên ngôn đã xác định một cách toàn diện các quyền tự do và cơ bản của con người cần được tôn trọng. Trên cơ sở đó, hai điều ước quốc tế quan trọng đã được các quốc gia thành viên Liên hợp quốc kí kết đó là Công ước về các quyền dân sự, chính trị và Công ước về các quyền kinh tế, xã hội năm 1966. Chính vì vậy, tuyên ngôn đã có uy tín rộng rãi và được viện dẫn trong nhiều quan hệ quốc tế. Trong thực tiễn quốc tế, khi xác định hoặc giải thích quy phạm pháp luật quốc tế, các quốc gia thường viện dẫn đến nghị quyết của Đại hội đồng liên hợp quốc. Các nghị quyết được viện dẫn nhiều hơn cả và có vai trò to lớn trong đời sống quốc tế là: Nghị quyết 1514 ngày 14/12/1960 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về việc trao trả nền độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa đã viết: “Mọi hành động vũ trang và mọi biện pháp đàn áp, bất kể thuộc loại nào, chống lại các dân tộc phụ thuộc sẽ phải được chấm dứt để các dân tộc đó có thể thực hiện quyền của họ về độc lập hoàn toàn một cách hoà bình và tự do, và toàn vẹn lãnh thổ của họ sẽ được tôn trọng”. Nhờ đó 16 nước Châu phi đã được trao trả độc lập vào năm 1960. Vào những năm 60, 70 của thế kỉ XX, cuộc đấu tranh giành độc lập của các nước thuộc địa bùng nổ mạnh mẽ và đã giải phóng thành công đất nước của chính mình. Nhờ vào Nghị quyết 1514 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, các nước thuộc địa đó đã chính thức trở thành nước độc lập, tự chủ. C. Nhận xét: Quy phạm tập quán và quy phạm điều ước đều là nguồn quan trọng của Luật Quốc tế. Con đường hình thành nên quy phạm điều ước và quy phạm tập quán khá là nhiều. Quy phạm điều ước có thể hình thành từ quy phạm tập quán, từ sự thỏa thuận giữa các chủ thể kí kết nên điều ước,… Quy phạm tập quán có thể hình thành từ chính quy phạm điều ước, từ hành vi đơn phương của quốc gia.. Nhưng thật thiếu sót nếu chúng ta không nhắc đến một nguồn khá là quan trọng, có vai trò không nhỏ trong việc hình thành nên quy phạm pháp luật quốc tế. Đó chính là nghị quyết của các tổ chức liên chính phủ. Nó như là một tiền để để cho các chủ thể của Luật Quốc tế dựa vào đó kí kết nên điều ước; hay trở thành một cách ứng xử trong quan hệ pháp luật quốc tế, từ đó dần trở thành quy phạm tập quán. Không chỉ có ý nghĩa trong quá trình hình thành mà các nghị quyết của tổ chức liên chính phủ còn là một nguồn quan trọng để viện dẫn cũng như áp dụng các quy phạm tập quán và quy phạm điều ước. Có những trường hợp để làm rõ hơn một quy phạm tập quán và quy phạm điều ước nào đó, các chủ thể phải dẫn giải ra các nghị quyết của tổ chức liên chính phủ để giải thích rõ ràng quy phạm đó hơn. Trong những thực tiễn áp dụng một quy phạm tập quán và quy phạm điều ước, nếu có những tranh chấp hay vướng mắc nào đó, các chủ thể của Luật Quốc tế cũng áp dụng các nghị quyết của tổ chức liên chính phủ để thực hiện quy phạm đó. KẾT THÚC VẤN ĐỀ Như vậy, chúng ta đã hiểu thêm được phần nào về vai trò của nghị quyết của các tổ chức liên chính phủ trong quá trình hình thành cũng như viện dẫn áp dụng các quy phạm tập quán và quy phạm điều ước. Điều đó càng được chứng minh rõ ràng trong thực tiễn quan hệ pháp luật quốc tế ngày nay.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

Bài tập học kì công pháp- các nghị quyết của tổ chức liên chính phủ có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hình thành cũng như viện dẫn, áp dụng quy ph.doc

Hoàn Thiện Các Quy Định Của Bộ Luật Hình Sự Liên Quan Đến Tội Phạm Và Trách Nhiệm Hình Sự / 2023

Trịnh Tiến Việt & Đoàn Ngọc Xuân

1.1. Khái niệm tội phạm

Điều 8 Bộ luật Hình sự có bảy vấn đề sửa đổi, bổ sung như sau:

– Trường hợp thứ nhất, một người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nhưng lại không có năng lực trách nhiệm hình sự. Ví dụ: Một người 20 tuổi (đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự) nhưng do bị tâm thần, bị điên (không có năng lực trách nhiệm hình sự) thực hiện hành vi giết người thì người này không phải chịu trách nhiệm hình sự vì họ không có năng lực trách nhiệm hình sự.

– Trường hợp thứ hai, một người có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng lại chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Đây là trường hợp mà Điều 8 Bộ luật Hình sự chưa điều chỉnh (mặc dù cũng có ý kiến cho rằng khi một người nào đó đạt đến độ tuổi nhất định thì họ sẽ có năng lực trách nhiệm hình sự, và năng lực trách nhiệm hình sự chứa trong đó (bao hàm) độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự). Ví dụ: Một người 15 tuổi thực hiện một tội phạm nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý. Lẽ dĩ nhiên, lúc này họ đã có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng theo quy định của pháp luật thì họ lại chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự vì khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự quy định: “… (2). Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.

Hai là, tên gọi Điều 8 là “Khái niệm tội phạm” nhưng nội dung này chỉ thể hiện ở khoản 1. Khoản 2, 3 là việc phân loại tội phạm. Khoản 4 là trường hợp tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể của hành vi, nên không phải là tội phạm để phân biệt với tội phạm. Cho nên, cần tách nội dung Điều 8 thành hai điều luật cho chính xác (khoản 1 và khoản 4 một điều và khoản 2, 3 một điều với tên gọi là “khái niệm tội phạm” và “phân loại tội phạm” như kinh nghiệm lập pháp trong các Điều 14, 15 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga) hoặc nếu giữ cần có tên gọi cho chính xác hơn bao quát cả ba nội dung trên.

Ba là, bổ sung cụm từ “của con người” sau cụm từ “của công dân” trong nhóm các khách thể của tội phạm được các nhà làm luật bảo vệ trong Điều 8 cho bao quát và thống nhất với các Chương XII – Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người và Chương XIII – Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân, đồng thời sắp xếp lại khách thể “tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm” trong Điều 8 thành “tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự” của con người cho đúng với tên gọi Chương XII đã nêu.

Bốn là, khoản 2 Điều 8 Bộ luật Hình sự chỉ nêu căn cứ: “tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này…”, trong khi đó, các loại tội phạm không chỉ dựa trên hai căn cứ đó mà còn dựa vào mức cao nhất của khung hình phạt đối với các tội phạm tương ứng đó (chế tài), mà cụ thể là: Đến 3 năm tù; đến 7 năm tù; đến 15 năm tù và; trên 15 năm tù, tù chung thân và tử hình, vì vậy, khoản 2 Điều luật này cần sửa đổi cho chính xác là: “Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự…”.

Năm là, cách định nghĩa: “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm… Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm…” (khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự) là chưa chuẩn xác ngay với khái niệm tội phạm khi quy định: “Tội phạm là hành vi…” ở khoản 1 Điều luật này. Hơn nữa, tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng thì cũng đều là tội phạm, mà tội phạm lại là “hành vi nguy hiểm cho xã hội…”. Do đó, cần sửa đổi lại cho thống nhất trong nội dung của điều luật này.

Sáu là, Điều 8 Bộ luật Hình sự còn chưa đề cập đến một khách thể cũng rất quan trọng trong Chương XXIV – Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh (từ Điều 341 đến Điều 344) là “hòa bình và an ninh của nhân loại”(1). Tương tự, các nhà làm luật nước ta cần ghi nhận bổ sung khách thể đã nêu vào trong nội dung điều luật này cho phù hợp với pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật quốc tế.

Bảy là, ngoài ra, khoản 4 Điều 8 Bộ luật Hình sự cũng quy định một trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi với nội dung: “Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”. Tuy nhiên, trong nội dung chưa nói rõ phạm vi của việc xử lý bằng các biện pháp khác là những biện pháp gì, vì vậy cần ghi nhận cụ thể các biện pháp xử lý là hành chính hoặc kỷ luật khác.

Như vậy, về Điều 8 Bộ luật Hình sự, chúng tôi đề xuất hai phương án khác nhau:

– Phương án thứ nhất: Vẫn quy định tội phạm và phân loại tội phạm trong cùng một điều luật thì Điều 8 Bộ luật Hình sự nên sửa đổi, bổ sung như sau (phần in nghiêng là̀ phần kiến nghị sửa đổi, bổ sung):

“Điều 8. Khái niệm tội phạm và phân loại tội phạm

1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, của con người, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, cũng như hòa bình và an ninh của nhân loại.

2. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội phạm được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Tội phạm ít nghiêm trọng là hành vi gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là hành vi gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là hành vi gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là hành vi gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

4. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp hành chính hoặc kỷ luật khác”.

– Phương án thứ hai: Tách nội dung khoản 2 và khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự thành một điều luật mới Điều 8a với tên gọi “Phân loại tội phạm”, còn Điều 8 chỉ có khoản 1 và khoản 4 của Điều 8 Bộ luật Hình sự (những nội dung cụ thể vẫn như phương án thứ nhất). Do đó, Điều 8 Bộ luật Hình sự mới nên sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 8. Khái niệm tội phạm

1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, của con người, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, cũng như hòa bình và an ninh của nhân loại.

2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp hành chính hoặc kỷ luật khác”.

Ngoài ra, Điều 8a Bộ luật Hình sự nên sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 8a. Phân loại tội phạm

1. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội phạm được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

2. Tội phạm ít nghiêm trọng là hành vi gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù.

3. Tội phạm nghiêm trọng là hành vi gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù.

4. Tội phạm rất nghiêm trọng là hành vi gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù.

5. Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là hành vi gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”.

1.2. Chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt

Điều 17 Bộ luật Hình sự có ba vấn đề cần sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là, đoạn 1 Điều 17 Bộ luật Hình sự mới chỉ tập trung đề cập đến hành vi của người chuẩn bị (bao gồm: Tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm) nhưng chưa đề cập đến hành vi của người này trong mối liên hệ với những người đồng phạm khác như hành vi tìm kiếm, liên kết những người đồng phạm. Do đó, cần bổ sung thêm vấn đề này cho phù hợp với thực tiễn xét xử và tham khảo như kinh nghiệm lập pháp trong Điều 30 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga…(2).

Hai là, Điều 17 Bộ luật Hình sự cũng chưa nói rõ nguyên nhân của việc dừng lại (bị phát hiện) trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội, vì chuẩn bị phạm tội là giai đoạn đầu của quá trình thực hiện tội phạm, do đó, cần bổ sung nguyên nhân của việc bị dừng lại này là do các nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội cũng tương tự như Điều 18 về “Phạm tội chưa đạt” trong Bộ luật Hình sự và tham khảo như kinh nghiệm lập pháp trong Điều 30 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga.

Ba là, đoạn 2 Điều 17 Bộ luật Hình sự quy định: “Người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện” cần được sửa đổi, bổ sung cụm từ “một” và “hoặc” để tránh hiểu sai – nếu một người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng, thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện, còn giả sử họ chuẩn bị hai tội rất nghiêm trọng hoặc hai tội đặc biệt nghiêm trọng; hay họ chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng và một tội đặc biệt nghiêm trọng lại không phải chịu trách nhiệm hình sự?. Do đó, cần sửa thành: “Người chuẩn bị phạm một hay nhiều tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì phải chịu trách nhiệm hình sự về một hay nhiều tội định thực hiện đó”.

Như vậy, Điều 17 Bộ luật Hình sự cần sửa đổi, bổ sung như sau (phần in nghiêng là phần kiến nghị sửa đổi, bổ sung):

“Điều 17. Chuẩn bị phạm tội

Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện, tìm kiếm, liên kết những người đồng phạm hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm, nhưng không thực hiện được tiếp hành vi của mình vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người chuẩn bị phạm tội.

Người chuẩn bị phạm một hay nhiều tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì phải chịu trách nhiệm hình sự về một hay nhiều tội định thực hiện đó”.

Ngoài ra, Điều 18 và Điều 52 Bộ luật Hình sự có ba vấn đề cần sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là, cần bổ sung và giải thích khái quát vào Điều 18 Bộ luật Hình sự hai trường hợp “phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành” và “phạm tội chưa đạt đã hoàn thành” để có cơ sở pháp lý truy cứu trách nhiệm hình sự chính xác và bảo đảm công bằng đối với người phạm tội trong từng trường hợp tương. Hơn nữa, trong Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự cũng đã nêu về hai dạng phạm tội chưa đạt này.

Hai là, về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt quy định tại khoản 2, 3 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với trường hợp tù có thời hạn “… thì mức hình phạt không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định và… mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định”. Tuy nhiên, các nhà làm luật nước ta lại chưa quy định rõ: Không quá một phần hai (1/2) hay không quá ba phần tư (3/4) mức phạt tù là của mức phạt tù cao nhất hay mức phạt tù thấp nhất hay chia trung bình chung… Do đó, theo chúng tôi cần sửa đổi theo hướng “mức phạt tù” được hiểu chính là “không quá một phần hai mức phạt tù thấp nhất đến không quá một phần hai mức phạt tù cao nhất” và “không quá ba phần tư mức phạt tù thấp nhất đến không quá ba phần tư mức phạt tù cao nhất”(3) cho phù hợp với lý luận và thực tiễn, đồng thời bảo đảm các nguyên tắc công bằng và phân hóa trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam.

Ba là, về trách nhiệm hình sự, tham khảo Bộ luật Hình sự Liên bang Nga cho thấy, hành vi phạm tội chưa đạt cũng giống như Bộ luật Hình sự Việt Nam, có nghĩa không đặt ra vấn đề giới hạn những trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự mà quy định tất cả các trường hợp phạm tội chưa đạt đều phải chịu trách nhiệm hình sự, không phân biệt tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, Điều 66 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga lại quy định: Mức hình phạt quyết định đối với hành vi phạm tội chưa đạt không vượt quá ba phần tư mức hình phạt trong khung của tội phạm hoàn thành, không áp dụng hình phạt tử hình và tù chung thân đối với người phạm tội chưa đạt. Trong khi đó, khoản 3 Điều 52 Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì chỉ có thể áp dụng các hình phạt này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng… Vì vậy, để nhân đạo hóa hơn nữa các quy định trong Bộ luật Hình sự, đồng thời phù hợp với thực tiễn xét xử, chỉ cần quy định áp dụng hình phạt tù chung thân trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng đối với trường hợp phạm tội chưa đạt là đã đủ sức răn đe và phòng ngừa chung.

Như vậy, Điều 18 và Điều 52 Bộ luật Hình sự cần sửa đổi, bổ sung như sau (phần in nghiêng là phần kiến nghị sửa đổi, bổ sung):

“Điều 18. Phạm tội chưa đạt

1. Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội.

2. Phạm tội chưa đạt thuộc một trong những trường hợp sau đây:

a) Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành là trường hợp vì những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn mà người phạm tội chưa thực hiện hết các hành vi cần thiết để gây ra hậu quả nên hậu quả chưa xảy ra;

b) Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành là trường hợp vì những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn mà người phạm tội đã thực hiện các hành vi cần thiết để gây ra hậu quả nên hậu quả chưa xảy ra hoặc đã xảy ra nhưng chưa phù hợp với dấu hiệu hậu quả trong cấu thành tội phạm.

3. Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt. Trường hợp phạm tội chưa đạt đã hoàn thành phải chịu trách nhiệm hình sự nghiêm khắc hơn so với phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành”.

“Điều 52. Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt

1. Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, hình phạt đựơc quyết định theo các điều của Bộ luật này về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng.

2. Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng là không quá hai mươi năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá một phần hai mức phạt tù thấp nhất đến không quá một phần hai mức phạt tù cao nhất mà điều luật quy định.

3. Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì chỉ có thể áp dụng hình phạt tù chung thân trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù thấp nhất đến không quá ba phần tư mức phạt tù cao nhất mà điều luật quy định”.

1.3. Đồng phạm

Điều 20 Bộ luật Hình sự có năm vấn đề cần sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là, các nhà làm luật nước ta cần ghi nhận bổ sung cụm từ “do cố ý” vào cuối khoản 1 Điều 20 Bộ luật Hình sự. Bởi lẽ, trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm do vô ý thì không bao giờ có đồng phạm cả (căn cứ vào các dấu hiệu chủ quan của đồng phạm mà khoa học luật hình sự đã luận giải).

Hai là, khoản 1 Điều 20 Bộ luật Hình sự mới chỉ bao quát được hành vi của người thực hành (đồng thực hành) khi ghi nhận “cùng thực hiện một tội phạm”, mà chưa phản ánh hành vi phạm tội của những người đồng phạm khác. Trong khi đó, những người đồng phạm khác họ không cùng thực hiện một tội phạm, mà họ chỉ tham gia cùng thực hiện một hoặc nhiều tội phạm…(4). Do đó, cần sửa thành “cố ý cùng tham gia thực hiện một hoặc nhiều tội phạm” mới đầy đủ và chính xác hơn.

Ba là, các Điều 79 (Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân), 81 (Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ), 82 (Tội bạo loạn); v.v… Bộ luật Hình sự quy định về các tội xâm phạm an ninh quốc gia có ghi nhận một cụm từ phản ánh một loại người đồng phạm “người hoạt động đắc lực” trong các cấu thành tội phạm này. Lẽ dĩ nhiên, về mặt thực tiễn có thể hiểu đây chính là “người thực hành” tham gia phạm tội tích cực, nhưng tại Điều 20 Bộ luật Hình sự, các nhà làm luật nước ta lại không đề cập đến loại người này hoặc giải thích trong nội dung của dạng người thực hành. Do đó, các điều luật cụ thể trong Chương các tội xâm phạm an ninh quốc gia cần thay cụm từ “người hoạt động đắc lực” thành “người thực hành tham gia đắc lực” cho chính xác.

Bốn là, đặc biệt, chưa làm sáng tỏ được trường hợp người thực hành không phải là người trực tiếp thực hiện tội phạm mà người đó đã lợi dụng (hoặc sử dụng) người khác (chưa đủ các điều kiện là chủ thể của tội phạm thực hiện như: Bị tâm thần, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự) là công cụ phạm tội, thì về mặt lý luận và thực tiễn, chúng ta vẫn quan niệm đó là người thực hành ở dạng thứ hai, nhưng rõ ràng, về mặt lập pháp hình sự, cần có sự ghi nhận vấn đề này để bảo đảm việc xử lý trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm nói chung, người thực hành nói riêng được chính xác. Tham khảo Bộ luật Hình sự Liên bang Đức, dạng người này được gọi là người thực hành (thực hiện) gián tiếp, người thực hiện hành vi cố ý được quy định trong cấu thành tội phạm qua hành vi của người khác, người khác ở đây đã bị họ sử dụng như công cụ phạm tội…(5) hay Điều 33 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga cũng quy định rõ ràng vấn đề này(6). Do đó, có thể sửa đoạn 2 khoản 2 Điều 20 Bộ luật Hình sự là: “Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm hoặc sử dụng người chưa đủ các điều kiện là chủ thể của tội phạm thực hiện hành vi phạm tội”.

Năm là, các nhà làm luật chưa quy định cụ thể trong Bộ luật Hình sự vấn đề trách nhiệm hình sự do hành vi thái quá (hành động vượt quá) của người thực hành, trong khi thực tiễn xét xử ở nước ta vẫn tồn tại và tham khảo kinh nghiệm lập pháp của Điều 37 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga(7). Do đó, cần bổ sung thành một điều luật mới là Điều 20a. Hành vi thái quá của người thực hành trong đồng phạm nhằm bao quát xử lý đầy đủ tư cách của một loại người đồng phạm trung tâm trong đồng phạm – là người thực hành hay đồng thực hành hoặc có thêm cả hành vi thái quá của họ, cũng như trách nhiệm hình sự riêng biệt khi thực hiện hành vi thái quá nằm ngoài ý định phạm tội chung của đồng bọn.

Như vậy, Điều 20 Bộ luật Hình sự cần sửa đổi, bổ sung như sau (phần in nghiêng là phần kiến nghị sửa đổi, bổ sung):

“Điều 20. Đồng phạm

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng tham gia thực hiện một hoặc nhiều tội phạm do cố ý.

2. Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm hoặc sử dụng người chưa đủ các điều kiện là chủ thể của tội phạm thực hiện hành vi phạm tội (hoặc có thể thay bằng – người gián tiếp thực hiện tội phạm).

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

3. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm”.

Tương tự, Điều 20a mới Bộ luật Hình sự như sau:

“Điều 20a. Hành vi thái quá của người thực hành trong đồng phạm

Hành vi thái quá của người thực hành trong đồng phạm là việc người thực hành đã thực hiện một tội phạm nằm ngoài ý định của những người đồng phạm khác. Những người đồng phạm khác không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi thái quá của người thực hành”.

2.1. Các nguyên tắc xử lý về hình sự

Điều 3 Bộ luật Hình sự có năm vấn đề cần sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là, tên gọi Điều 3 Bộ luật Hình sự là “Nguyên tắc xử lý” là chưa đầy đủ, vì trong nội dung của Điều luật này đã đề cập đến năm nguyên tắc trong chính sách hình sự của Nhà nước, chứ không phải một nguyên tắc xử lý. Hơn nữa, đó là các nguyên tắc xử lý về hình sự, nên cần sửa thành: “Các nguyên tắc xử lý về hình sự” cho chính xác hơn.

Hai là, khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự cần bổ sung thêm đoạn “không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan người vô tội” cho đầy đủ nội dung, bởi lẽ, mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật, song cần chú ý tập trung cả hai – không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, vì khoản 1 Điều 3 Bộ luật mới chỉ tập trung đến việc không bỏ lọt tội phạm, mà chưa chú ý đến yêu cầu không bỏ lọt người phạm tội, vì nếu không bỏ lọt tội phạm, mà lại bỏ lọt người phạm tội trong vụ án có đồng phạm, thì có nghĩa, chưa làm tốt công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, chưa bảo đảm yêu cầu xử lý tội phạm và người phạm tội. Vì vậy, tất cả các yêu cầu này cần được quán triệt và tuân thủ tuyệt đối trong quá trình xử lý tội phạm và người phạm tội, đồng thời đây còn là nguyên tắc cơ bản trong quá trình giải quyết bất kỳ một vụ án hình sự nào.

Ba là, đoạn 2 khoản 2 Điều 3 Bộ luật Hình sự quy định: “Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy…”, trong khi đó đoạn 3 khoản 2 Điều 20 về “Đồng phạm” lại quy định: “Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm…”. Do đó, để thống nhất, chỉ cần quy định “Nghiêm trị người tổ chức…” là đã đủ, đồng thời tùy thuộc vào quy mô (lớn hay nhỏ) của tội phạm mà các vai trò (tư cách) chủ mưu, cầm đầu hoặc chỉ huy có thể do một hoặc nhiều người thực hiện, chỉ nên cụ thể hóa trong Điều 20 Bộ luật Hình sự, còn khi nêu nguyên tắc xử lý cần ngắn gọn hơn.

Bốn là, đoạn 3 khoản 2 Điều 3 Bộ luật Hình sự cần khoan hồng cả “trường hợp tự nguyện khắc phục hậu quả”, bên cạnh đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra cho phù hợp với thực tiễn xét xử và quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Năm là, khoản 5 Điều 3 Bộ luật Hình sự quy định: “Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích”, tuy nhiên, cần nhấn mạnh hơn nữa trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc giúp đỡ họ hòa nhập với cộng đồng, tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, chứ chỉ quy định là họ được tạo điều kiện, nhưng chưa rõ là chủ thể nào tạo điều kiện giúp đỡ, tốt hơn cả là chính quyền địa phương nơi họ sinh sống là cơ quan chủ quản và có điều kiện nhất trong công tác này. Về vấn đề này, Nghị định số 80/2011/NĐ-CP ngày 16/9/2011 của Chính phủ “Quy định các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù” đã nêu rõ và trực tiếp trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã (Điều 25) và Công an cấp xã (Điều 28).

Như vậy, Điều 3 Bộ luật Hình sự cần sửa đổi, bổ sung như sau (phần in nghiêng là phần kiến nghị sửa đổi, bổ sung:

“Điều 3. Các nguyên tắc xử lý về hình sự

1. Mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan người vô tội.

2. Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội.

Nghiêm trị người tổ chức, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng.

Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra, tự nguyện khắc phục hậu quả.

3. Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đã hối cải, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục.

4. Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt trong trại giam, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có nhiều tiến bộ thì xét để giảm việc chấp hành hình phạt.

5. Người đã chấp hành xong hình phạt được chính quyền địa phương tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích”.

2.2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự

Điều 2 Bộ luật Hình sự có ba vấn đề cần sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là, quy định “Chỉ người nào phạm một tội đã được…” cần sửa thành “phạm một hay nhiều tội đã được…”, nếu không sẽ dẫn đến cách hiểu sai là: “chỉ người nào phạm một tội… mới phải chịu trách nhiệm hình sự, còn phạm từ hai, ba… tội trở lên thì không phải chịu trách nhiệm hình sự”. Hơn nữa, cần khẳng định đây là cơ sở “pháp lý…”.

Hai là, việc quy định “Chỉ người nào phạm một tội…” là đề cập đến việc một người đã thực hiện hành vi phạm tội được mô tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm rồi, nhưng sau đó, đoạn 2 Điều 17 Bộ luật Hình sự lại quy định: “Người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện”, có nghĩa, nếu một người mới “tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm đối với một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng” đã phải chịu trách nhiệm hình sự rồi, chứ chưa đòi hỏi thực hiện hành vi phạm tội. Hơn nữa, thực ra logíc khoa học là, một người họ chưa thực hiện hành vi được quy định trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm, thì rõ ràng, không thể áp dụng chế tài trong điều, khoản đó để buộc họ phải chịu trách nhiệm hình sự theo đúng nghĩa, nhưng đây chúng ta có quy định vấn đề này trong Điều 52 Bộ luật Hình sự. Sở dĩ có quy định vì đây là trường hợp đặc biệt vì, nếu để tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng xảy ra, sẽ gây nguy hại rất lớn hoặc đặc biệt lớn cho xã hội, do đó, các nhà làm luật mới quy định buộc một người phải chịu trách nhiệm hình sự nếu họ chuẩn bị phạm một trong các tội đã nêu. Tuy nhiên, để bảo đảm tính pháp chế xã hội chủ nghĩa, cần có quy định bổ sung để tránh việc không thống nhất giữa các điều luật trong Bộ luật Hình sự (Điều 2 và Điều 17), đồng thời, cụm từ “một” trong đoạn 2 Điều 17 Bộ luật Hình sự cũng cần bỏ đi để tránh cách hiểu sai như đã đề cập ở trên.

Ba là, để bảo đảm tính lôgíc và bao quát các trường hợp đặc biệt, Điều 2 Bộ luật Hình sự cần bổ sung thêm cụm từ “trên những cơ sở chung” vào cuối nội dung điều luật. Bởi lẽ, trên thực tế và căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, sẽ có những trường hợp một người phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự nhưng vẫn không phải chịu trách nhiệm hình sự. Ví dụ: Trường hợp do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 23) hoặc trường hợp “người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ” (khoản 6 Điều 289 Bộ luật Hình sự); v.v…

Như vậy, Điều 2 Bộ luật Hình sự cần sửa đổi, bổ sung như sau (phần in nghiêng là phần kiến nghị sửa đổi, bổ sung):

“Điều 2. Cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự

Chỉ người nào phạm một hay nhiều tội đã được Bộ luật hình sự quy định hoặc thuộc trường hợp quy định tại đoạn 2 Điều 17 Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự trên những cơ sở chung”.

2.3. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Căn cứ vào Điều 12 Bộ luật Hình sự cho thấy một vấn đề cần sửa đổi, bổ sung đó là sự thống nhất giữa quy định của Điều luật này với nội dung của Phần các tội phạm Bộ luật Hình sự. Khoản 1 Điều 12 Bộ luật Hình sự thì “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm…”. Tuy nhiên, giữa các quy định của Phần các tội phạm Bộ luật Hình sự và quy định về độ tuổi đã nêu tại Phần chung còn chưa thống nhất, nói cách khác chưa có khoản (quy định) nào về điều kiện của chủ thể đặc biệt. Ví dụ: Khoản 1 Điều 12 quy định như vậy, trong khi đó, khoản 1 Điều 115 Tội giao cấu với trẻ em lại quy định: “1. Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm…”. Do đó, rõ ràng ví dụ nếu một người là 17 tuổi mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự (khoản 1 Điều 115), trong khi đó nếu theo khoản 1 Điều 12 thì người này lại phải chịu trách nhiệm hình sự, vì các nhà làm luật đã quy định người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, đồng thời “mọi tội phạm” là bất kỳ tội phạm nào được quy định trong Phần các tội phạm của Bộ luật. Tương tự, trong Bộ luật Hình sự còn tồn tại nhiều tội phạm có kỹ thuật lập pháp như vậy.

Như vậy, Điều 12 Bộ luật Hình sự cần sửa đổi, bổ sung như sau (phần in nghiêng là phần kiến nghị sửa đổi, bổ sung):

“Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ trường hợp điều luật trong Phần các tội phạm Bộ luật Hình sự có quy định khác.

2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.

2.4. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Điều 23 Bộ luật Hình sự có bốn vấn đề cần sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là, các nhà làm luật nước ta vẫn chưa khẳng định dứt khoát hậu quả pháp lý của việc không truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, chúng ta có thể tham khảo kinh nghiệm lập pháp trong Điều 77 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga quy định hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự…(8).

Hai là, vấn đề gây thiệt hại (hậu quả) về vật chất hay tranh chấp dân sự bên cạnh việc phạm tội, nếu đã được hưởng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự rồi, thì người này cũng cần phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, cũng như giải quyết vấn đề dân sự để duy trì trật tự xã hội chung và bảo đảm quyền lợi của người bị hại hay nguyên đơn dân sự.

Ba là, đoạn 2 khoản 3 Điều 23 Bộ luật Hình sự quy định: “Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã, thì thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra tự thú hoặc bị bắt giữ” thực ra chỉ cần quy định “đã có lệnh truy nã” là đầy đủ, còn việc quy định “cố tình trốn tránh” hay “không cố tình trốn tránh” không có ý nghĩa gì.

Bốn là, về cách tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, cũng tại đoạn 2 khoản 3 Điều 23 Bộ luật Hình sự quy định: “Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã, thì thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu được tính lại kể từ khi người đó ra tự thú hoặc bị bắt giữ”. Theo chúng tôi, việc quy định cụm từ “tự thú” có lẽ chưa chính xác mà phải là “đầu thú”. Khái niệm “tự thú” đã quy định cụ thể tại Thông tư liên ngành số 05/TTLN ngày 02/06/1990 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp tiến hành hướng dẫn thi hành chính sách đối với người phạm tội ra tự thú. Ngoài ra, theo hướng dẫn tại Công văn số 81/2002/CV ngày 10/06/2002 của Tòa án nhân dân tối cao đã giải thích rõ hơn tự thú và phân biệt việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trong trường hợp “tự thú” và trong trường hợp “đầu thú” như sau: “Tự thú” là tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình, trong khi chưa ai phát hiện được mình phạm tội. Người nào bị bắt, bị phát hiện về một hành vi phạm tội cụ thể, nhưng trong quá trình điều tra đã tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội khác của mình mà chưa bị phát hiện, thì cũng được coi là tự thú đối với việc tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội của mình mà chưa bị phát hiện. Trong khi đó, “đầu thú” là có người đã biết mình phạm tội, nhưng biết không thể trốn tránh được nên đến cơ quan có thẩm quyền trình diện để cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Sự khác nhau giữa hai khái niệm này phản ánh qua việc người phạm tội đã có lệnh truy nã hay chưa. Đặc biệt, tình tiết giảm nhẹ “tự thú” được quy định khoản 1 Điều 46, tình tiết giảm nhẹ “đầu thú” được áp dụng theo quy định khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Do đó, nếu đã có “lệnh truy nã” rồi thì không thể gọi là “tự thú” vì lúc này, hành vi phạm tội và người thực hiện hành vi đó đã bị các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền biết. Vì vậy, trong nội dung điều luật này cần sửa thành cụm từ “đầu thú” cho chính xác hơn.

Như vậy, Điều 23 Bộ luật Hình sự cần sửa đổi, bổ sung như sau (phần in nghiêng là phần kiến nghị sửa đổi, bổ sung):

“Điều 23. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự và được miễn trách nhiệm hình sự.

2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

a) Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng;

b) Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng;

c) Mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng;

d) Hai mươi năm đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên một năm tù, thì thời gian đã qua không được tính và thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội đã có lệnh truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ”

(1). Xem: chúng tôi Lê Văn Cảm, Sách chuyên khảo sau đại học, Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, tr.159.

(2). Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Bộ luật Hình sự Liên bang Nga, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2011, tr.42.

(3). Xem: TS. Trịnh Quốc Toản, Hoàn thiện hình phạt tử hình, tù có thời hạn và phạt tiền theo yêu cầu cải cách tư pháp, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9 (tháng 5), 2008, tr.4.

(4). Xem: chúng tôi Lê Văn Cảm, Sách chuyên khảo sau đại học, Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, tr.474.

(5). Xem: chúng tôi Nguyễn Ngọc Hòa, chúng tôi Lê Thị Sơn, Phần thứ năm – Những vấn đề cơ bản về Phần chung pháp luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức, Trong sách: Thông tin khoa học pháp lý: Những vấn đề cơ bản về pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, số 8/2002, tr. 125.

(6). Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Bộ luật Hình sự Liên bang Nga, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2011, tr.42.

(7). Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Bộ luật Hình sự Liên bang Nga, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2011, tr.50.

(8). Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Bộ luật Hình sự Liên bang Nga, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2011, tr.45.

Quy Định Về Áp Dụng Quy Phạm Pháp Luật Hành Chính / 2023

Quy phạm hành chính là gì? Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính là gì? Quy định của pháp luật về các yêu cầu pháp lý khi áp dụng quy phạm pháp luật hành chính?

Dù ở bất cứ quốc gia nào, chế độ nào cũng cần một hệ thống pháp luật mang tính quy phạm bắt buộc để mọi người phải tuân theo nhằm ổn định trật tự, xã hội cũng như làm cân bằng các quan hệ xã hội buộc mọi người phải tuân theo các quy phạm hành chính. Quy phạm hành chính là gì? Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính là gì? Quy định của pháp luật về các yêu cầu pháp lý khi áp dụng quy phạm pháp luật hành chính? Trong phạm vi bài viết này thì chúng tôi sẽ giải đáp vấn đề này.

Quy phạm hành chính là gì?

Có thể hiểu quy phạm pháp luật hành chính là một trong những dạng cụ thể chi tiết của quy phạm pháp luật nên các quy phạm pháp luật hành chính cũng là các quy tắc xử sự chung nhằm thể hiện ý chí của nhà nước, được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh quyền lực nhà nước và nó cũng là tiêu chuẩn để đánh giá hành vi để xác định giới hạn của con người về tính hợp pháp phát sinh trong quá trình quản lý hành chính nhà nước theo phương pháp mệnh lệnh đơn phương.

Thông thường, quy phạm pháp luật hình chính có các tính chất như có tính bắt buộc chung, thường áp dụng nhiều lần và hiệu lực của chúng không chấm dứt khi đã được áp dụng.

Các quy phạm pháp luật hành chính có rất nhiều đặc điểm riêng so với các quy phạm pháp luật khác như sau:

Thứ nhất về nội dung thì đa số các quy phạm pháp luật hành chính có tính mệnh lệnh do quan hệ quản lý mà luật hành chính điều chỉnh có bản chất quyền uy và phương pháp quản lý chủ yếu là mệnh lệnh- phục tùng.

Thứ hai thông thường thì quy phạm pháp luật hành chính có số lượng lớn và tính ổn định không cao do đặc điểm biến động nhanh chóng của hoạt động hành chính là đối tượng điều chỉnh của nó.

Thứ ba các chủ thể ban hành quy phạm pháp luật hành chính rất đa dạng trong đó đa số thuộc về các cơ quan hành chính.

Thứ tư về mục đích điều chỉnh, quy phạm pháp luật hành chính là các quy phạm điều chỉnh quan hệ hành chính nhà nước.

Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính là gì?

Có thể hiểu áp dụng quy định pháp luật hành chính là hoạt động của cơ quan có thẩm quyền ban hành các quyết định cá biệt để giải quyết những việc cụ thể phát sinh trên cơ sở quy phạm pháp luật hành chính.

Khi áp dụng quy phạm pháp luật hành chính chủ yếu là những chủ thể bao gồm những cơ quan hành chính nhà nước hoặc cán bộ,công chức được trao quyền.

+ Phạm vi áp dụng quy phạm pháp luật hành chính chủ yếu là trong hoạt động hành chính nhà nước còn những trường hợp khác chỉ là cá biệt.

Do việc áp dụng quy phạm pháp luật hành chính rất quan trọng sẽ là tiền đề điều kiện cho việc chấp hành quy phạm pháp luật hành chính và chấp hành quy định pháp luật để áp dụng quy phạm pháp luật hành chính tốt nhất.

Hiện nay, có rất nhiều quy phạm pháp luật hành chính vì dụ nếu căn cứ vào nội dụng pháp lý thì quy phạm pháp luật hành chính có ba quy phạm hành chính như sau:

+ Quy phạm trao quyền là quy phạm trao quyền cho những đối tượng thực hiện hành vi nhất định ví dụ như các quyết định của cấp trên cho cấp dưới.

+ Quy phạm nội dung

+ Quy phạm thủ tục

+ Những quy phạm do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành

+ Quy phạm áp dụng lâu dài

+ Quy phạm áp dụng có thời hạn

+ Quy phạm pháp luật hành chính có phạm vi áp dụng trên cả nước

+ Quy phạm pháp luật hành chính về không gian và thời gian.

+ Quy phạm tạm thời

+ Quy phạm pháp luật do chủ tịch nước ban hành

+ Quy phạm pháp luật do hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao và viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành.

Quy định của pháp luật về các yêu cầu pháp lý khi áp dụng quy phạm pháp luật hành chính?

Quy phạm pháp luật hành chính là quy tắc hành vi do nhà nước đặt ra để điều chỉnh quan hệ xã hội mang tính chất chấp hành và điều hành phát sinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước.

Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính là một hình thức thực hiện quy phạm luật hành chính trong đó các cơ quan tổ chức, cá nhân có thẩm quyền căn cứ vào những quy phạm pháp luật hành chính hiện hàn để giải quyết cá công việc cụ thể phát sinh trong quá trình quản lí hành chính nhà nước: Ví dụ: Cán bộ, công chức sau một thời gian phục vụ công nhất đinh, theo quy định được lên lương. Trong trường hợp này, quy phạm luật hành chính tương ứng sẽ được áp dụng nếu cơ quan tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đó đưa ra quyết định lên lương cho người cán bộ, công chức căn cứ vào các tiêu chuẩn quy định trong quy phạm đó. Hoặc là khi có hành vi vi phạm hành chính mà cơ quan có thẩm quyền xử phạt không đưa ra quyết định xử phạt, có nghĩa là quy phạm luật hành chính về xử phạt hành chính không được thực hiện.

Việc áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải đáp ứng những yêu cầu pháp lí nhất định để bảo đảm hiệu lực quản lí của nhà nước và các quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức cá nhân. Những yêu cầu đó là:

– Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải đúng với nội dung, mục đích của quy phạm pháp luật được áp dụng.

– Áp dụng các quy phạm pháp luật hành chính phải được thực hiện bởi các chủ thể có thẩm quyền. Tùy thuộc vào từng quy định cụ thể của pháp luật, theo yêu cầu của phân cấp trong quản lí hành chính nhà nước, mỗi chủ thể quản li hành chính nhà nước chỉ có thẩm quyền áp dụng trong một số quy phạm pháp luật hành chính, trong những trường hợp cụ thể và đối với những đối tượng nhất định. Ví dụ: Bộ trưởng bộ công an có quyền quyết định áp dụng biện pháp xử phạt trục xuất đối với người nước ngoài có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam nhưng các bộ trưởng và thủ trưởng các cơ quan ngang bộ khác không có thẩm quyền này.

– Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định. Các công việc cụ thể cần phải áp dụng quy phạm pháp luật hành chính đều phải thực hiện theo thủ tục hành chính. Tùy từng loại việc mà việc áp dụng các quy phạm pháp luật hành chính sẽ được thực hiện theo các thủ tục hành chính khác nhau như: Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính, thủ tục đăng kí kết hôn, thủ tục giải quyết khiếu nại tố cáo…v…v..

– Việc áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải được thực hiện trong thời hạn thời hiệu do pháp luật quy định.

Đối với mỗi loại công việc pháp luật đều đòi hỏi những quy định đó phải được tuân thủ nghiêm chỉnh. Ví dụ: Thời hiệu khiếu nại đối với quyết định hành chính là 90 ngày kể từ ngày nhận được quyết định đó; hay thời hạn ra quyết định xử phạt là 10 ngày kể từ ngày lập biên bản về hành vi vi phạm hành chính…

Chủ thể của áp dụng quy phạm pháp luật chỉ do cơ quan tổ chức, người có thẩm quyền thực hiện vì chỉ có họ mới có quyền nhân danh quyền lực nhà nước ban hành các văn bản cá biệt cụ thể. Hoạt động áp dụng quy phạm pháp luật hành chính chủ yếu do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện. Ngoài ra có trường hợp mà các cơ quan như tòa án và viện kiểm sát cũng thực hiện hoạt động này. Chẳng hạn như tòa án có quyền xử phạt vi phạm hành chính, viện kiểm sát có quyền thực hiện quyền quản lí nội bộ. Ví dụ : đối với cán bộ văn phòng theo quy định của pháp luật hành chính, cả hai cơ quan này đều là chủ thể chủ yếu của tố tụng hành chính…

Chuyên Đề 14: Luật Hải Quan Sửa Đổi Và Các Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Có Liên Quan / 2023

Trước xu thế phát triển mạnh mẽ về kinh tế – xã hội của Việt Nam những năm qua đồng thời trong bối cảnh Việt Nam càng ngày càng tham dự sâu rộng vào các quan hệ quốc tế đa dạng, đặc biệt là các quan hệ kinh tế đối ngoại cốt lõi; tốc độ phát triển thương mại quốc tế và yêu cầu đòi hỏi phát triển các khu vực tự do thương mại; tốc độ phát triển công nghệ thông tin…;Việt Nam là thành viên chính thức của WTO; ký kết tham gia nhiều điều ước quốc tế và các bản ghi nhớ về lĩnh vực hải quan. Điều đó, đòi hỏi phải tiếp tục cải cách, hiện đại hóa để tạo thuận lợi cho kinh tế xã hội phát triển và phù hợp với cam kết quốc tế mà chúng ta là thành viên.

Chính phủ, Bộ Tài chính cũng như ngành hải quan đã xác định trong chiến lược phát triển của hải quan Việt Nam đến năm 2020: Xây dựng Hải quan Việt Nam hiện đại, có cơ chế, chính sách đầy đủ, minh bạch, thủ tục hải quan đơn giản, hài hòa đạt chuẩn mực quốc tế, trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin, xử lý dữ liệu tập trung và áp dụng rộng rãi phương pháp quản lý rủi ro, đạt trình độ tương đương với các nước tiến tiến trong khu vực. Đồng thời, xây dựng lực lượng hải quan đạt trình độ chuyên nghiệp, chuyên sâu có trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả góp phần tạo thuận lợi cho các hoạt động thương mại hợp pháp, phát triển du lịch, thu hút đầu tư nước ngoài, đảm bảo an ninh quốc gia, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và nghĩa vụ hợp pháp của tổ chức, cá nhân là mục tiêu chủ yếu và quan trọng trong bối cảnh hội nhập và xây dựng, phát triển ngành Hải quan trong giai đoạn đến năm 2020.

Để đạt được mục tiêu trên đòi hỏi hệ thống pháp luật về hải quan tiếp tục được hoàn thiện, hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành Luật Hải quan phải bao quát toàn diện về thủ tục hải quan, các hoạt động nghiệp vụ hải quan, các chế độ quản lý hải quan, quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu nhập khẩu. Các quy phạm pháp luật tiếp cận các chuẩn mực quốc tế, phù hợp với yêu cầu quản lý và tạo cơ sở triển khai một số hoạt động cải cách, phát triển hải quan.

14.1. Về Luật Hải quan sửa đổi

14.1.1. Tình hình thực hiện Luật Hải quan những năm qua

a. Đánh giá kết quả đạt được trong quá trình thực hiện Luật Hải quan

Sau hơn 10 năm thực hiện, Luật Hải quan đã góp phần thúc đẩy tiến trình cải cách hành chính, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh phát triển, bảo đảm an ninh kinh tế, lợi ích chủ quyền và an ninh quốc gia, đã đạt được kết quả quan trọng sau:

Luật Hải quan đã tiếp thu, kế thừa những ưu điểm của pháp luật hải quan hơn 56 năm qua, nhất là từ khi đất nước đổi mới, mở cửa và kinh nghiệm qua 10 năm thực hiện Pháp lệnh Hải quan, tiếp thu, tham khảo kinh nghiệm lập pháp của một số nước khu vực và trên thế giới về lĩnh vực hải quan; nội luật hóa tối đa những thỏa thuận trong Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập, có tính đến các tập quán và thông lệ quốc tế về lĩnh vực hải quan trên thế giới;

Một số quy định tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc là thành viên đã được nội luật hóa tại Luật hải quan, đặc biệt là các chuẩn mực của Công ước Quốc tế sửa đổi về Đơn giản hóa và Hài hòa hóa về Thủ tục Hải quan.

Luật đã góp phần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về hải quan và hiện đại hóa hoạt động quản lý hải quan, chuyển một bước từ phương thức quản lý thủ công sang phương thức quản lý hiện đại dựa trên ứng dụng công nghệ thông tin và thủ tục hải quan điện tử.

Các thủ tục hành chính về hải quan đã được quy định rõ ràng, minh bạch, đơn giản, thông thoáng hơn; tạo điều kiện thuận lợi để hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất, nhập cảnh được thông quan với thời gian và chi phí giảm đi đáng kể, góp phần nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Nhiều khâu trung gian không cần thiết đã được loại bỏ; thời gian tiến hành thủ tục hải quan được rút ngắn; các giấy tờ người khai hải quan phải nộp, phải xuất trình được giảm bớt.

– Đơn giản, giảm thiểu chứng từ thuộc hồ sơ hải quan.

– Đơn giản hóa, giảm bớt các khâu, các bước trong thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan, giảm thiểu, rút ngắn tối đa thời gian thông quan

Ngành Hải quan đã tiến hành nhiều biện pháp để cải tiến thủ tục hải quan, quy trình nghiệp vụ, sắp xếp lại bộ máy và dây chuyền thông quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; từng bước áp dụng các khuyến nghị, thông lệ hải quan quốc tế.

Thời gian thông quan đã được cải thiện hơn rất nhiều so với giai đoạn trước khi ban hành Luật Hải quan. Quá trình tổ chức thực hiện thủ tục hải quan được quán triệt theo mục tiêu: “tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp; đơn giản hóa, công khai hóa và từng bước hiện đại hóa các khâu trong thủ tục hải quan”; chống tiêu cực, phiền hà, ách tắc; giảm các chi phí không cần thiết, nhưng vẫn bảo đảm quản lý hải quan chặt chẽ, đúng pháp luật, nên thời gian thông quan (từ khi tiếp nhận hồ sơ đến khi thông quan) được rút ngắn. Chẳng hạn, năm 2010, thời gian xử lý tổng thể quản lý hải quan tại cảng biển, từ khi hàng đến đến khi giải phóng hàng là 7,78 ngày (bằng 186 giờ 48 phút), giảm 7% so với năm 2004 (bằng 8,41 ngày); thời gian xử lý từ khi đăng ký tờ khai đến khi giải phóng hàng tại cảng biển là 14 giờ 16 phút (giảm được 75%) so với 56 giờ 55 phút (năm 2004); thời gian xử lý phân luồng các tờ khai so với năm 2004 giảm đáng kể: luồng xanh giảm 86%, luồng vàng giảm 82% và luồng đỏ giảm 67%. Có thể thấy, đây là một bước tiến vượt bậc trong quản lý hải quan hiện đại, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, trong khi lưu lượng hàng xuất khẩu, nhập khẩu ngày càng tăng.

– Minh bạch hóa, công khai hóa các quyền, nghĩa vụ của người khai hải quan, công chức hải quan khi thực hiện thủ tục hải quan

– Tích cực triển khai, áp dụng phương pháp quản lý rủi ro

Ngay từ năm 2005, cơ chế phân tích, đánh giá rủi ro, tiêu chí phân luồng được ngành Hải quan thiết lập, triển khai tại 3 cấp: Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan địa phương và Chi cục Hải quan. Bộ tiêu chí để đánh giá rủi ro ban đầu (năm 2006) gồm 75 tiêu chí. Đến năm 2008, Bộ Tài chính quy định chuẩn hóa các tiêu chí thành 04 loại: tiêu chí quy định; tiêu chí phân tích; tiêu chí tính điểm và tiêu chí lựa chọn ngẫu nhiên; Tổng cục Hải quan đã chi tiết hóa thành bộ tiêu chí quản lý rủi ro thành 85 nhóm. Đến nay, toàn Ngành đã xây dựng, cập nhật và đưa vào áp dụng tổng số 9095 tiêu chí quản lý rủi ro để thực hiện phân luồng tờ khai hải quan phù hợp với từng cấp, đơn vị. Tiêu chí quản lý rủi ro lạc hậu được loại bỏ, tiêu chí mới được xây dựng, cập nhật thường xuyên. Đến 31/12/2013, toàn Ngành đang áp dụng 6.781 tiêu chí phân tích, 438 tiêu chí quy định để kiểm soát phân luồng tờ khai; cập nhật, kiểm soát trên hệ thống quản lý rủi ro được: 26.181 lượt hồ sơ doanh nghiệp. Từ đó, giúp công chức hải quan quản lý, theo dõi các đối tượng có rủi ro về vi phạm pháp luật hải quan, thiết lập tiêu chí để phân luồng kiểm tra trong thông quan và chuyển giao kiểm tra sau thông quan.

Thống kê cho thấy, tháng 01/2006: 16% doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật hải quan; tháng 6/2006: 29% doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật hải quan; tháng 12/2006: 39% doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật hải quan. (iii) giảm tỷ lệ kiểm tra hàng hoá; giảm áp lực về khối lượng công việc cho cơ quan hải quan trong điều kiện lưu lượng hàng hoá xuất nhập khẩu ngày càng gia tăng. Tỷ lệ kiểm tra hàng hoá, năm 2005: miễn kiểm tra 40,2%; kiểm tra thực tế 59,8%; đến tháng 31/12/2013, tỷ lệ phân luồng xanh 60,3%; tỷ lệ phân luồng vàng 29,5%; tỷ lệ phân luồng đỏ 10,3%. Tỷ lệ doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật hải quan: 79.461/98.6489 chiếm tỷ lệ 80,5%.

– Về thực hiện thủ tục hải quan điện tử

Ngành Hải quan đã chủ động triển khai, khuyến khích áp dụng thủ tục hải quan điện tử, cụ thể: Trên cơ sở nội dung của Luật Hải quan, ngày 20/6/2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 149/2005/QĐ-TTg thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử. Việc thí điểm thực hiện thủ tục hải quan điện tử theo Quyết định này gần 04 năm (2005-2009) tại 02 Chi cục Hải quan điện tử thuộc Cục Hải quan TP.Hải Phòng và TP. Hồ Chí Minh, mặc dù bước đầu đã đạt được những thành công nhất định, tuy nhiên vẫn khó mở rộng và sức lan tỏa còn hạn chế. Vì vậy, năm 2009, tại Quyết định số 103/2009/QĐ-TTg sửa đổi bổ sung Quyết định số 149/2005/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ đã chủ trương chuyển mô hình thí điểm Chi cục Hải quan điện tử (chỉ thực hiện thủ tục hải quan điện tử) sang mô hình Chi cục Hải quan áp dụng đồng thời cả 2 phương thức thủ tục hải quan điện tử và thủ công mở rộng tại 20 Cục Hải quan tỉnh, thành phố. Đến 24/12/2013, số doanh nghiệp đăng ký tham gia thủ tục hải quan điện tử đạt 49,7 nghìn doanh nghiệp chiếm 96% tổng số doanh nghiệp thực hiện thủ tục hải quan; số tờ khai thực hiện thủ tục hải quan điện tử đến 24/12/2013 đạt 5.4 triệu tờ khai chiếm tỷ lệ 93,2% so với tổng số tờ khai toàn quốc. Kim ngạch xuất nhập khẩu thực hiện bằng thủ tục hải quan điện tử đạt 246,15 tỷ đô la Mỹ chiếm tỷ lệ 96% so với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu toàn quốc.

Đến nay, thủ tục hải quan điện tử được triển khai tại tất cả 34/34 (100%) Cục Hải quan tỉnh, thành phố. Số Chi cục đã thực hiện hải quan điện tử là 148/170 Chi cục. Hiện đã có 23/34 Cục Hải quan đã triển khai tại 100% Chi cục trực thuộc. Thời gian thông quan lô hàng xuất, nhập khẩu trung bình: luồng xanh từ 3-15 phút; luồng vàng từ 10-60 phút; luồng đỏ phụ thuộc thời gian kiểm tra thực tế hàng hóa.

– Tăng cường hoạt động kiểm tra sau thông quan

Công tác kiểm tra sau thông quan được tiến hành theo nguyên tắc quản lý rủi ro, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các hồ sơ thuộc diện ưu tiên, ưu đãi, miễn kiểm tra. Từ năm 2002 đến 25/12/2013, đã tiến hành 11.674 cuộc kiểm tra sau thông quan. Đã ra quyết định truy thu từ kiểm tra sau thông quan 4.812,65 tỷ đồng;

Việc áp dụng cơ chế kiểm tra sau thông quan đã chỉ ra rằng: trách nhiệm công vụ của công chức làm thủ tục hải quan bao hàm cả ở trong và sau khi hàng hoá đã được thông quan. Từ đó, góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm pháp lý, tinh thần kỷ luật, tuân thủ các quy trình thông quan của đội ngũ công chức làm các thủ tục trong giai đoạn thông quan hàng hoá. Qua hoạt động kiểm tra sau thông quan, kết hợp với tuyên truyền, hướng dẫn đã giúp cho doanh nghiệp nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, đó là: (i) sau khi được kiểm tra sau thông quan các doanh nghiệp đã nhận thức được rằng: giảm thiểu kiểm tra trong thông quan không có nghĩa là cơ quan hải quan buông lỏng quản lý, có thể lợi dụng để vi phạm pháp luật, mà tiếp tục chịu sự kiểm tra sau thông quan, tạo ra ý thức chấp hành pháp luật tốt hơn. (ii) Kiểm tra sau thông quan đã chỉ ra nhiều sai sót về thực hiện pháp luật, chính sách hải quan mà doanh nghiệp chưa biết, chưa nắm vững, từ đó giúp họ củng cố, tìm hiểu rõ các quy định để không tiếp tục vi phạm, tránh được vi phạm do lỗi vô ý; (iii) Nhiều vi phạm được phát hiện, xử lý đúng pháp luật đã cảnh tỉnh, nhắc nhở doanh nghiệp, răn đe, ngăn ngừa các vi phạm do lỗi cố ý.

– Thực thi nhiệm vụ tổ chức thu thuế và các khoản thu khác

Luật đã quy định quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể tham gia quản lý, thu, nộp thuế trong hoạt động xuất nhập khẩu. Cơ chế người khai hải quan tự khai, tự tính, tự nộp thuế, tự chịu trách nhiệm về nội dung kê khai thuế; ân hạn thuế gắn với yêu cầu chấp hành tốt pháp luật được áp dụng. Qua đó thu về thuế từ hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu được bảo đảm, ngành Hải quan cơ bản hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch thu ngân sách nhà nước giao hàng năm (năm 2006 số thu đạt 61.013 tỷ đồng, năm 2007 số thu đạt 84.965 tỷ đồng, năm 2008 số thu đạt 125.517 tỷ đồng, đến 31/12/2013 số thu đã là 221.421 tỷ đồng, tăng hơn 3,6 lần so với năm 2006).

Luật Hải quan đã dành 01 Điều quy định về hệ thống tổ chức bộ máy hải quan (Điều 13) và 01 Điều quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Hải quan và 01 Điều quy định về công chức hải quan. Theo đó, tổ chức bộ máy hải quan có 03 cấp, hoạt động của lực lượng hải quan theo nguyên tắc tập trung, thống nhất, có thực quyền, cá thể hóa quyền và nghĩa vụ của công chức hải quan khi thực hiện thủ tục hải quan, phù hợp với tính chất đặc thù của hoạt động hải quan; tạo cơ sở xây dựng đội ngũ công chức hải quan trong sạch, vững mạnh, tinh thông nghiệp vụ, tính kỷ luật, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Thực tiễn tổng kết cho thấy, trong giai đoạn hiện nay, hệ thống tổ chức Hải quan gồm các như trên cấp đã đáp ứng yêu cầu quản lý đặc thù của ngành Hải quan. Mặt khác, chức năng, nhiệm vụ của Hải quan không chỉ duy nhất có nhiệm vụ thu thuế hàng hóa xuất, nhập khẩu, mà còn là “người gác cửa” an ninh kinh tế, an ninh quốc gia; góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc cải cách hành chính nước ta, nhất là cải cách bộ máy hành chính, với chủ trương giảm bớt đầu mối trực thuộc Chính phủ, bớt cấp trung gian, tinh giản bộ máy đang được tiến hành.

b. Hạn chế, bất cập của Luật Hải quan trong quá trình thực hiện và trước yêu cầu hội nhập

Qua hơn 10 năm thực hiện, cùng với những ưu điểm, tiến bộ và kết quả đạt được như đã phân tích ở trên, Luật Hải quan cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện và trước yêu cầu thực tiễn và hội nhập kinh tế quốc tế. Đáng chú ý trong số đó là:

– Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải tiếp tục bổ sung cơ sở pháp lý, phải tăng cường hợp tác hải quan và hội nhập hải quan quốc tế. Thời gian qua, Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định, điều ước quốc tế song phương, đa phương; trong đó, có nhiều nội dung chưa được quy định trong Luật hải quan hiện hành nhưng Việt Nam đã có trách nhiệm thực hiện theo các cam kết đã ký như: hoạt động kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu tại địa điểm kiểm tra chung với các nước láng giềng, kiểm tra hàng hóa từ nước xuất khẩu; cử cán bộ hải quan ra nước ngoài thu thập thông tin, thực hiện các hoạt động nghiệp vụ hải quan và tiếp nhận công chức hải quan nước ngoài đến Việt Nam thực hiện các hoạt động tương ứng. Mặt khác, đối chiếu với các chuẩn mực hải quan quốc tế, Luật Hải quan đã có những điểm chưa được nội luật hoặc nội luật chưa đầy đủ từ khái niệm đến các quy định quản lý hải quan mới theo công ước Kyoto, Hiệp định GMS, Khung tiêu chuẩn về An ninh và Tạo thuận lợi thương mại toàn cầu của Tổ chức Hải quan thế giới cũng như các chế định để thực hiện cơ chế một cửa quốc gia, một cửa ASEAN…

– Luật chưa tạo điều kiện pháp lý đầy đủ cho việc hiện đại hóa hải quan mà trước hết là triển khai rộng rãi, phổ biến thủ tục hải quan điện tử; chưa quy định thủ tục hải quan đối với các loại hình hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu, hàng hóa gia công, hàng hóa xuất nhập khẩu của doanh nghiệp chế xuất, khu chế xuất, khu kinh tế cửa khẩu trong khi thực tế các loại hình này phát triển mạnh và được Luật Thương mại, các Luật Thuế quy định.

– Các quy định về thủ tục hải quan, hoạt động kiểm tra giám sát hải quan từ hồ sơ đến quy trình khai hải quan, việc áp dụng chế độ quản lý hải quan đối với các loại hình hàng hóa xuất nhập khẩu; các quy định về địa điểm làm thủ tục hải quan, kiểm tra thực tế hàng hóa, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu và thông quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải xuất nhập cảnh trong Luật hiện hành chủ yếu theo phương thức thủ công truyền thống đã bộc lộ những bất hợp lý cản trở việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quy trình nghiệp vụ và tiến trình hiện đại hóa hải quan.

Việc sửa đổi Luật Hải quan xuất phát từ các lý do sau:

Hội nhập kinh tế quốc tế, hội nhập quốc tế đã trở thành tất yếu trong quá trình phát triển của đất nước. Luật Hải quan hiện hành cần được sửa đổi để nội luật hóa đầy đủ hơn các điều ước quốc tế về hải quan mà Việt Nam là thành viên như Công ước quốc tế về Hài hòa và đơn giản hóa thủ tục hải quan (Công ước Kyoto), Hiệp định GMS, Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN, Hiệp định về việc thực hiện cơ chế một cửa ASEAN, Hiệp định hợp tác hải quan ASEAN và góp phần cơ sở pháp lý để tham gia đàm phán các Hiệp định: Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc, Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Hiệp hội mậu dịch tự do Châu Âu (EFTA), Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Hải quan, Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP)… Trong các điều ước quốc tế này có nhiều nội dung Việt Nam đã cam kết, dự kiến cam kết nhưng chưa được nội luật hóa trong Luật, một số quy định hiện đang triển khai ở văn bản dưới Luật. Vì vậy, chưa tạo cơ sở pháp lý cao để triển khai thực hiện. Ví dụ: cơ chế xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan; doanh nghiệp ưu tiên; thông báo thông tin trước khi phương tiện vận tải đến cảng; giải phóng hàng, kiểm tra chung giữa các nước láng giềng,….

Hai là, việc sửa đổi Luật Hải quan tạo hành lang pháp lý cho hiện đại hóa hoạt động hải quan, áp dụng rộng rãi phổ biến hải quan điện tử, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Luật Hải quan hiện hành, mặc dù đã được sửa đổi bổ sung năm 2005 tạo tiền đề áp dụng hải quan điện tử song chưa đảm bảo được cơ sở pháp lý cho việc chuyển hẳn sang áp dụng rộng rãi phổ biến. Trước sự phát triển nhanh của nền kinh tế, hội nhập quốc tế, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam 2005 – 2010 tăng bình quân 25%/năm; năm 2011 tăng 29,7% so với năm 2010; năm 2013 đã đạt được 264 tỷ USD; số lượng tờ khai hải quan 2013 đạt 5,92 triệu. Trên cơ sở Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011-2020, định hướng đến năm 2030, dự kiến đến năm 2020 kim ngạch xuất nhập khẩu đạt trên 400 tỷ USD; số lượng tờ khai hải quan đạt trên 10 triệu tờ khai, đòi hỏi việc thông quan hàng hóa của ngành Hải quan phải có những thay đổi cơ bản để đáp ứng, trong khi đó về cơ bản các nội dung trong Luật Hải quan hiện hành vẫn quy định thực hiện theo phương thức thủ công truyền thống từ việc quy định hồ sơ hải quan, khai hải quan đến thông quan. Vì vậy, việc ban hành Luật Hải quan (sửa đổi) hướng tới mục tiêu tạo khung pháp lý để áp dụng phổ biến hải quan điện tử phục vụ có hiệu quả sự phát triển của hoạt động kinh tế đối ngoại trong chiến lược kinh tế xã hội giai đoạn mới.

Ba là, từ yêu cầu của cải cách hành chính, cải cách thủ tục hải quan hướng tới một hoạt động hải quan công khai, minh bạch, hiệu quả hơn, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác bảo vệ lợi ích chủ quyền quốc gia, phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại.

Thời gian qua, cải cách hành chính mà trước hết là cải cách thủ tục hành chính trong các hoạt động quản lý nhà nước trong đó có cải cách thủ tục hải quan đã được thực hiện và thu được kết quả tích cực. Cải cách thủ tục hải quan những năm qua đã mang lại hiệu ứng tích cực cho nền kinh tế, góp phần giảm thời gian và chi phí thủ tục, tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp đồng thời góp phần thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Các kết quả ấy cần được phải được củng cố, phát triển bằng pháp luật. Luật Hải quan sửa đổi nhằm hướng tới mục tiêu quan trọng này.

14.1.3. Quan điểm chỉ đạo và mục tiêu xây dựng dự thảo Luật Hải quan sửa đổi

Quan điểm xuyên suốt trong quá trình xây dựng Luật Hải quan (sửa đổi) là đổi mới toàn diện hoạt động hải quan thông qua tạo điều kiện áp dụng quản lý hải quan hiện đại phù hợp với thông lệ quốc tế, góp phần bảo vệ lợi ích chủ quyền và an ninh quốc gia; góp phần thu hút đầu tư nước ngoài và nâng cao sức cạnh tranh trong nước và quốc tế của các doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

b. Mục tiêu xây dựng dự án Luật

14.1.4. Một số nội dung cơ bản sửa đổi, bổ sung Luật Hải quan

a. Nhóm vấn đề về cải cách thủ tục hải quan, hiện đại hoá quản lý hải quan, nội luật hoá các cam kết quốc tế đáp ứng yêu cầu hội nhập và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.

Trong nhóm vấn đề này, dự thảo Luật tập trung sửa đổi, bổ sung một số nội dung chủ yếu sau:

Một là, thay đổi căn bản phương thức thực hiện thủ tục hải quan từ phương thức truyền thống, bán điện tử sang phương thức điện tử,

Luật Hải quan hiện hành cơ bản được xây dựng trên cơ sở thực hiện thủ tục hải quan theo phương thức truyền thống (thủ công) từ khâu tiếp nhận tờ khai, kiểm tra, giám sát đến thông quan hàng hóa. Luật Hải quan có sửa đổi, bổ sung năm 2005 đã bước đầu tạo tiền đề để áp dụng hải quan điện tử, song khi triển khai rộng rãi phát sinh một số bất cập về pháp lý.

Để khắc phục bất cập nêu trên, Luật Hải quan sửa đổi cần có quy định về khai hải quan theo hướng “Khai hải quan được thực hiện theo phương thức điện tử,…”; việc khai trong tờ khai giấy chỉ áp dụng đối với một số trường hợp cụ thể do Chính phủ quy định; theo đó, việc kiểm tra hồ sơ hải quan được cơ bản thực hiện thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan hoặc đối với một số trường hợp cụ thể được thực hiện trực tiếp bởi công chức hải quan.

Các quy định về địa điểm làm thủ tục hải quan, hồ sơ hải quan, thời hạn nộp hồ sơ hải quan, đăng ký tờ khai hải quan cũng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thủ tục hải quan điện tử, phù hợp với Công ước Kyoto.

Nhằm bảo đảm tính minh bạch và triển khai hiệu quả các ứng dụng công nghệ thông tin để hiện đại hoá chế độ quản lý hải quan, phù hợp với thủ tục hải quan điện tử và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan. Luật Hải quan sửa đổi cũng cần có quy định về thủ tục hải quan theo hướng: các loại hình có chung bản chất sẽ cơ bản áp dụng chung thủ tục; đồng thời, bổ sung quy định về thủ tục hải quan đối với một số loại hình hàng hóa nhập nguyên liệu, vật tư để gia công hoặc sản xuất hàng hoá xuất khẩu; hàng hoá xuất nhập khẩu của khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất; một số loại hình tạm xuất khẩu, tạm nhập khẩu…. Các loại hình này chưa được quy định trong luật hiện hành nhưng thực tế đã được Luật Thương mại và các Luật thuế quy định.

Hai là, tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính về hải quan

– Về hồ sơ hải quan

Có thể nhận thấy các quy định về hồ sơ hải quan quy định tại các cấp độ văn bản Luật, Nghị định, Thông tư chưa có sự thống nhất và minh bạch. Một số loại chứng từ theo quy định của Luật Hải quan bắt buộc phải có trong hồ sơ khai hải quan, nhưng trong thực tế quản lý, cơ quan Hải quan chỉ cần sử dụng để xử lý trong một số trường hợp, ví dụ như hợp đồng, bản kê chi tiết. Như vậy, thành phần hồ sơ nhiều nhưng trong những trường hợp nhất định thì một số chứng từ không thật sự cần thiết, làm phát sinh thêm thời gian và chi phí chuẩn bị các chứng từ của các doanh nghiệp.

– Về việc nộp hồ sơ hải quan

Điểm a khoản 1 Điều 16 Luật Hải quan quy định người khai hải quan phải nộp các chứng từ đi kèm Tờ khai hải quan khi làm thủ tục hải quan. Nếu thực hiện thủ tục hải quan điện tử và phân luồng tự động trên hệ thống thông quan thì sẽ phải gửi kèm hồ sơ dưới dạng file đính kèm, như vậy dung lượng sẽ rất lớn, làm chậm tốc độ xử lý của hệ thống. Mặt khác, việc xử lý phân luồng tự động chủ yếu dựa trên thông tin tờ khai vì hệ thống không tự động xử lý theo thông tin trên các chứng từ gửi kèm. Các tiêu chí trên Tờ khai sẽ được chi tiết hơn bảo đảm cung cấp thông tin phục vụ việc phân luồng hàng hoá chính xác. Trong khi thông quan tự động, cơ quan hải quan chỉ kiểm tra chứng từ khi hệ thống phân luồng vàng và đỏ, còn luồng xanh thì không kiểm tra chứng từ. Như vậy, việc yêu cầu nộp ngay các chứng từ đi kèm tờ khai đối với hàng hoá được phân luồng xanh là không cần thiết, không thực sự tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.

– Đối chiếu với các quy định tại các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (Công ước Quốc tế sửa đổi về Đơn giản hóa và Hài hòa hóa về Thủ tục Hải quan – Công ước Kyoto sửa đổi; Hiệp định Hải quan ASEAN), tham khảo các quy định tại các Hiệp định đang đàm phán (Hiệp định Tạo thuận lợi thương mại của WTO, Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Khối EFTA: Na-Uy, Thụy Sĩ, Ai-xơ-len và Lich-ten – xtanh)cho thấy quy định về chứng từ nêu trên chưa đảm bảo phù hợp. Các điều ước quốc tế nêu trên đều quy định theo hướng: khi làm thủ tục hải quan người khai hải quan phải nộp Tờ khai hải quan và các chứng từ hỗ trợ tờ khai. Để xác minh tờ khai hàng hoá Hải quan chỉ yêu cầu những chứng từ nào cần thiết cho việc kiểm tra thương vụ và bảo đảm việc thi hành pháp luật hải quan.

Ba là, áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro trong kiểm tra, giám sát hải quan; có chế độ ưu tiên, tạo thuận lợi về thủ tục hải quan cho doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện.

– Về quản lý rủi ro

Luật Hải quan chưa đề cập đến thuật ngữ “quản lý rủi ro” nhưng Khoản 1a Điều 15 Luật Hải quan đã quy định nội hàm của thuật ngữ này. Tuy nhiên, tại các Điều 28, 29, 30 Luật Hải quan quy định cụ thể các trường hợp kiểm tra hải quan, miễn kiểm tra hải quan làm cho việc lựa chọn đối tượng kiểm tra trở nên cứng nhắc, không phù hợp với nguyên tắc quản lý rủi ro.

Quản lý rủi ro được xem là một công cụ hữu hiệu cho quản lý hải quan hiện đại, giúp cho cơ quan hải quan của các nước có thể phân bổ nguồn lực một cách hợp lý mà vẫn đảm bảo quản lý hải quan và không gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu. Trong điều kiện thông quan tự động, quản lý rủi ro là cơ sở quan trọng để bảo đảm việc kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan được thực hiện hiệu quả, phù hợp với thông lệ hải quan quốc tế. Công ước Kyoto sửa đổi tại các Chuẩn mực từ 6.3 đến 6.5 quy định cụ thể về áp dụng quản lý rủi ro.

Phương pháp này đều được hải quan các nước tiến tiến áp dụng nguyên trong quản lý hải quan hiện đại. Nguyên tắc này cũng đã được Việt Nam cam kết thực hiện trong Công ước quốc tế về hài hòa hóa và đơn giản hóa thủ tục hải quan (Công ước KYOTO); Hiệp định hải quan ASEAN đồng thời đây cũng là một nội dung đã được đưa vào một số Hiệp định mà Việt Nam đang tham gia đàm phán: Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP); Hiệp định tạo thuận lợi thương mại của WTO; Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Hải quan (Nga Belarus, Kazakhastan),….

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế cũng đã bổ sung quy định về quản lý rủi ro, tuy nhiên, do phạm vi điều chỉnh của Luật Quản lý thuế và Luật Hải quan không hoàn toàn giống nhau. Do đó, Luật Hải quan cần bổ sung nội dung này đảm bảo tương thích với Luật Quản lý thuế và để đảm bảo áp dụng quản lý rủi ro một cách đầy đủ, có hiệu quả, phù hợp với các Chuẩn mực nêu trên của Công ước Kyoto sửa đổi, theo đó cần có quy định sau:

+ Kiểm tra, giám sát hải quan được thực hiện trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro nhằm đảm bảo hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước về hải quan và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.

+ Xác định phạm vi áp dụng quản lý rủi ro trong kiểm tra, giám sát, hỗ trợ các hoạt động phòng, chống buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.

+ Việc áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan bao gồm: Thu thập, xử lý thông tin hải quan; xây dựng tiêu chí và tổ chức đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người khai hải quan, đánh giá, phân loại mức độ rủi ro về vi phạm pháp luật hải quan; quy định và tổ chức thực hiện các biện pháp quản lý hải quan phù hợp.

+ Cơ quan Hải quan quản lý, ứng dụng hệ thống thông tin nghiệp vụ để tự động tích hợp, xử lý dữ liệu phục vụ việc áp dụng quản lý rủi ro trong các hoạt động nghiệp vụ hải quan.

– Về chế độ ưu tiên

Luật Hải quan hiện hành tuy có đề cập đến việc miễn kiểm tra đối với doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật về hải quan song chưa tiêu chuẩn hóa điều kiện chế độ ưu tiên đối với các doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện. Hiện nay, việc áp dụng chế độ ưu tiên đang được thực hiện theo quy định tại Thông tư 86/2013/TT-BTC ngày 27/6/2013 của Bộ Tài chính quy định về việc áp dụng chế độ ưu tiên trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp đủ điều kiện.

Để khuyến khích và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp có kim ngạch xuất nhập khẩu lớn, chấp hành tốt pháp luật hải quan, pháp luật thuế, quản trị doanh nghiệp tốt; đồng thời để tạo tiền đề thực hiện việc công nhận chế độ ưu tiên giữa các quốc gia như Hải quan các nước (ví dụ: Hải quan Hàn Quốc thực hiện công nhận lẫn nhau với 5 quốc gia; Mỹ thực hiện công nhận lẫn nhau với 7 quốc gia; Nhật Bản thực hiện công nhận lẫn nhau với 6 quốc gia,…), cần bổ sung vào Luật theo hướng quy định rõ chế độ ưu tiên về hải quan đối với doanh nghiệp, điều kiện áp dụng, quyền, trách nhiệm của cơ quan hải quan, của doanh nghiệp được áp dụng chế độ ưu tiên bảo đảm phù hợp với các Chuẩn mực của Công ước Kyoto, Khung tiêu chuẩn về An ninh và Tạo thuận lợi thương mại toàn cầu của Tổ chức Hải quan thế giới, khuyến nghị của WCO về việc xây dựng chương trình về Doanh nghiệp ưu tiên (AEO).

Bốn là, bổ sung các quy định tạo cơ sở pháp luật để cơ quan hải quan thực hiện cơ chế xác định trước cho doanh nghiệp về mã số, xuất xứ, trị giá hải quan

Hiện nay, Luật Quản lý thuế đã bổ sung nội dung về quy định xác định trước. Tuy nhiên, việc xác định trước về mã số, xuất xứ không chỉ để xác định trước về thuế mà còn để có cơ sở áp dụng chính sách quản lý mặt hàng, áp dụng các yêu cầu quản lý của cơ quan hải quan, nội dung này không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Quản lý thuế.

Công ước Kyoto (Việt Nam đã tham gia) cũng như các cam kết quốc tế trong khuôn khổ WTO, ASEAN đều khuyến nghị cơ quan Hải quan cho phép doanh nghiệp được áp dụng cơ chế phân loại trước về mã số, xác định trị giá tính thuế, xuất xứ hàng hoá trước khi làm thủ tục cho hàng hoá xuất nhập khẩu. Đây là chuẩn mực quốc tế về tạo thuận lợi thương mại, giúp doanh nghiệp chủ động tính toán trước hiệu quả kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ; giúp cơ quan hải quan tăng hiệu quả quản lý khi thực hiện thủ tục thông quan cho hàng hoá xuất nhập khẩu; hạn chế các trường hợp tranh chấp giữa doanh nghiệp và cơ quan hải quan về việc áp mã, xác định giá tính thuế, xuất xứ hàng hoá khi làm thủ tục thông quan. Đây là một trong các nội dung cam kết của Hiệp định TPP mà Việt nam đang tham gia đàm phán.

– Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày có văn bản thông báo kết quả xác định trước, nếu người khai hải quan không đồng ý với kết quả xác định trước thì có quyền yêu cầu cơ quan hải quan xem xét lại kết quả xác định trước.

Năm là, tạo cơ sở pháp lý để thực hiện thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo cơ chế một cửa quốc gia

Bổ sung khái niệm “cơ chế một cửa quốc gia”, đồng thời, bổ sung quy định thực hiện thủ tục hành chính điện tử để thực hiện cơ chế một cửa quốc gia.

b. Nhóm vấn đề về nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý hải quan; tăng cường công tác bảo vệ an ninh quốc gia và an ninh kinh tế nhằm phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới, gian lận thương mại

Một là, về địa bàn hoạt động hải quan

Điều 6 Luật Hải quan hiện hành quy định: Địa bàn hoạt động hải quan bao gồm các khu vực cửa khẩu đường bộ, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng biển quốc tế, cảng sông quốc tế, cảng hàng không dân dụng quốc tế, các địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu, khu chế xuất, kho ngoại quan, kho bảo thuế, khu vực ưu đãi hải quan, bưu điện quốc tế, các địa điểm kiểm tra hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu trong lãnh thổ và trên vùng biển thực hiện quyền chủ quyền của Việt Nam, trụ sở doanh nghiệp khi tiến hành kiểm tra sau thông quan và các địa bàn hoạt động hải quan khác theo quy định của pháp luật.

Quy định nêu trên đã chỉ rõ các địa điểm theo địa chỉ ranh giới xác định; đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cơ quan hải quan trong phạm vi địa bàn. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện đã phát sinh vấn đề vướng mắc, đó là:

+ Theo quy định của Pháp lệnh thú y, Luật An toàn thực phẩm, Pháp lệnh Bảo vệ và kiểm dịch thực vật thì hàng hóa nhập khẩu có thể được đưa về các khu vực cách ly, khu vực lưu giữ hàng hóa để chờ kiểm dịch, kiểm tra trước khi cơ quan hải quan thông quan; các khu vực này chưa được coi là địa bàn hoạt động hải quan. Ngoài ra, còn có một số địa điểm lưu giữ hàng hóa xuất nhập khẩu đang chịu sự giám sát hải quan như địa điểm thu gom hàng lẻ (CFS), địa điểm tập kết hàng hóa xuất khẩu,…các địa điểm này chưa được coi là địa bàn hoạt động hải quan.

Để khắc phục, cần sửa đổi bổ sung quy định tại Luật Hải quan theo hướng bảo đảm tính linh hoạt trong tổ chức thực hiện, ngoài những địa điểm đã được xác định như Luật hiện hành, địa bàn hoạt động hải quan bao gồm: địa điểm khác khi có đủ điều kiện về hạ tầng, về lực lượng quản lý nhà nước và được phép xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh hàng hóa, phương tiện vận tải theo quy định của Chính phủ; khu vực đang lưu giữ hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan.

Theo quy định tại Điều 4 Luật Hải quan, giám sát hải quan là biện pháp nghiệp vụ của cơ quan hải quan nhằm đảm bảo nguyên trạng hàng hóa, phương tiện vận tải thuộc đối tượng quản lý của hải quan. Việc đặt ra mục đích bảo đảm sự nguyên trạng của hàng hóa, phương tiện vận tải đang thuộc đối tượng quản lý hải quan (Khoản 9 Điều 4) là chưa hoàn toàn phù hợp với yêu cầu quản lý hải quan hiện đại (một số trường hợp như nguyên liệu sản xuất của doanh nghiệp chế xuất, phương tiện vận tải nước ngoài di chuyển trong lãnh thổ Việt Nam không thể đáp ứng yêu cầu nguyên trạng ….)

Luật hiện hành chỉ quy định 2 phương thức giám sát là niêm phong hoặc bằng phương tiện kỹ thuật và giám sát trực tiếp, chưa quy định áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro trong giám sát hải quan, chưa quy định phương thức giám sát thông qua hệ thống sổ sách của doanh nghiệp. Với các phương thức giám sát này, cơ quan hải quan khó có thể giám sát liên tục, đầy đủ khối lượng lớn hàng hoá xuất nhập khẩu lưu giữ và ra, vào các khu vực cảng, cửa khẩu (ví dụ: cảng Cát Lái trung bình có khoảng 2000 cont xuất/ngày); các loại hình hàng hóa tham gia vào quá trình sản xuất hoặc phương tiện vận tải trong quá trình di chuyển từ địa điểm này đến địa điểm khác.

Luật hiện hành cũng mới chỉ quy định việc giám sát hải quan đối với hàng hoá trong quá trình làm thủ tục hải quan, chưa đề cập đến việc giám sát hải quan sau khi hàng hoá đã làm xong thủ tục nhập khẩu nhưng vẫn chịu sự quản lý hải quan để bảo đảm thực hiện đúng mục đích (loại hình) nhập khẩu, thực hiện quy định về chính sách thuế, chính sách quản lý mặt hàng…

Tham khảo quy định của Luật Hải quan Nhật Bản cho thấy:

– Hải quan Nhật Bản không cử người đến tận nơi giám sát. Luật Hải quan Nhật Bản quy định: những người kinh doanh khu bảo thuế phải có trách nhiệm ghi chép vào sổ sách. Hệ thống NACCS không thể kiểm tra chi tiết số lượng hàng hoá xuất – nhập – tồn của kho bảo thuế mà cơ quan hải quan chỉ thực hiện kiểm tra 1,2 năm/lần bằng cách xuống doanh nghiệp để kiểm tra việc ghi chép sổ sách. Người kinh doanh kho bảo thuế sẽ thay Hải quan kiểm tra nên khi được cấp phép thành lập kho thì Hải quan cũng phải xem xét họ có đủ điều kiện kinh doanh hay không. Nếu chủ kinh doanh kho bảo thuế vi phạm thì nặng nhất là thu hồi giấy phép, nhẹ hơn là trong 1 khoảng thời gian không được nhận hàng hoá kinh doanh vào kho (Luật Hải quan Nhật Bản).

Để khắc phục những vấn đề nêu trên, cần sửa đổi khái niệm về giám sát hải quan tại Điều 4; quy định cụ thể hơn về giám sát hải quan với nội dung sửa đổi, bổ sung như sau:

– Giám sát hải quan là biện pháp nghiệp vụ của cơ quan hải quan nhằm theo dõi để bảo đảm sự nguyên trạng của hàng hoá hoặc bảo đảm sự tuân thủ các quy định của pháp luật trong việc bảo quản, lưu giữ, xếp dỡ, vận chuyển, sử dụng hàng hoá; bảo đảm phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh theo quy định của Luật này.

– Thời gian giám sát

+ Hàng hoá nhập khẩu chịu sự giám sát hải quan từ khi hàng hóa tới địa bàn hoạt động hải quan đến khi được thông quan hoặc giải phóng hàng và đưa ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan.

+ Hàng hoá xuất khẩu miễn kiểm tra thực tế chịu sự giám sát hải quan từ khi thông quan đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan. Trường hợp phải kiểm tra thực tế, hàng hóa xuất khẩu chịu sự giám sát hải quan từ khi bắt đầu kiểm tra thực tế đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan.

+ Hàng hóa quá cảnh chịu sự giám sát hải quan từ khi tới địa bàn hoạt động hải quan đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan.

– Bổ sung quy định: Trách nhiệm của cơ quan hải quan; trách nhiệm của người khai hải quan, người chỉ huy hoặc người điều khiển phương tiện vận tải trong giám sát hải quan; trách nhiệm của doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng trong giám sát hải quan.

Ba là, về tăng cường hoạt động kiểm tra sau thông quan

Kiểm tra sau thông quan được quy định tại Điều 32 Luật Hải quan, một số điều của Luật Quản lý Thuế, các quy định này đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động trong thời gian qua, tuy nhiên đến nay đã bộc lộ một số vướng mắc, bất cập: Luật Hải quan hiện hành quy định chung trong thời hạn 5 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan thì Cục trưởng Cục hải quan tỉnh, thành phố, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan được ra quyết định kiểm tra sau thông quan, Luật chưa quy định rõ về địa điểm tiến hành kiểm tra sau thông quan. Theo quy định tại Luật Quản lý thuế thì kiểm tra sau thông quan được thực hiện tại trụ sở cơ quan quản lý thuế và trụ sở người nộp thuế, chỉ ban hành quyết định kiểm tra thuế khi kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế. Do đó, dẫn đến việc áp dụng các quy định này không thống nhất giữa cơ quan Hải quan và các cơ quan bảo vệ pháp luật khác.

Mặt khác, đối với các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn toàn quốc, việc tiến hành kiểm tra sau thông quan cần do cấp Tổng cục tiến hành mới bao quát được toàn bộ hoạt động của các doanh nghiệp này. Theo xu thế phát triển của nền kinh tế, số lượng các doanh nghiệp này cũng ngày càng nhiều hơn. Do đó, cần phân cấp hơn nữa về thẩm quyền ra quyết định kiểm tra sau thông quan để tăng cường hiệu quả của hoạt động này. Một số quy định cơ bản về hoạt động kiểm tra sau thông quan như việc áp dụng quản lý rủi ro, việc kết nối giữa khâu trong thông quan và sau thông quan cũng chưa được Luật Hải quan quy định nên ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả của công tác kiểm tra sau thông quan.

Bên cạnh đó, sửa đổi, bổ sung quy định về kiểm tra sau thông quan theo hướng thay đổi cách thức quản lý hải quan: thông quan chủ yếu trên cơ sở người khai hải quan tự khai và tự chịu trách nhiệm trong việc khai báo của mình, việc thông quan chủ yếu thực hiện bằng phương thức điện tử, đáp ứng yêu cầu thông quan nhanh chóng. Do vậy, để bảo đảm là biện pháp nghiệp vụ hữu hiệu cho khâu thông quan, hoạt động kiểm tra sau thông quan cần được tăng cường, theo đó cần quy định:

– Về địa điểm kiểm tra sau thông quan: được thực hiện tại trụ sở cơ quan hải quan và trụ sở của người khai hải quan.

– Về thời hạn kiểm tra sau thông quan là 05 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan.

– Về các trường hợp kiểm tra sau thông quan bao gồm:

+ Kiểm tra hồ sơ hải quan chưa được kiểm tra trực tiếp trong quá trình làm thủ tục hải quan;

+ Kiểm tra đánh giá việc tuân thủ pháp luật hải quan của người khai hải quan.

– Về kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người khai hải quan: quy định rõ thẩm quyền quyền định kiểm tra là Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, Cục trưởng Cục Hải quan, Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm tra sau thông quan; thời hạn kiểm tra; quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của cơ quan hải quan, trưởng đoàn kiểm tra; quyền, nghĩa vụ của người khai hải quan, chủ hàng; xử lý kết luận kiểm tra.

Bốn là, về tăng cường hoạt động của cơ quan hải quan trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới

Đáp ứng yêu cầu tăng cường hoạt động phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới của cơ quan hải quan, cần bổ sung vào Luật quy định trong trường hợp có căn cứ xác định hàng hoá, phương tiện vận tải là hàng hóa, phương tiện vận tải buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới đang di chuyển từ địa bàn hoạt động hải quan ra ngoài địa bàn hoạt động hải quan thì lực lượng kiểm soát hải quan tiếp tục truy đuổi để áp dụng các biện pháp ngăn chặn và xử lý, đồng thời thông báo cho các cơ quan chức năng trên địa bàn biết để phối hợp ngăn chặn, xử lý. Điều 92 dự thảo quy định rõ việc áp dụng các biện pháp tuần tra, kiểm soát, điều tra, xác minh để cơ quan hải quan có cơ sở thực hiện.

Ngoài ra, để phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 14, Điều 47, 48 Luật Biển Việt Nam quy định về việc nhà nước thực hiện kiểm soát trong vùng tiếp giáp lãnh hải nhằm ngăn ngừa và trừng trị hành vi vi phạm pháp luật về hải quan, thuế, y tế, xuất nhập cảnh xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam, trách nhiệm của lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển;bổ sung quy định: “Tại vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, cơ quan hải quan thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, phối hợp thực hiện tuần tra, kiểm soát nhằm ngăn ngừa hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới; thực hiện các biện pháp ngăn chặn và xử lý vi phạm theo thẩm quyền trong vùng nội thủy, lãnh hải phù hợp với quy định của Luật Biển Việt Nam”;

Năm là, bổ sung trách nhiệm của cơ quan hải quan trong hoạt động hợp tác quốc tế về hải quan

Tại Khoản 1 Điều 5a Luật Hải quan hiện hành quy định “cơ quan hải quan có trách nhiệm thực hiện quyền, nghĩa vụ và lợi ích của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Tổ chức Hải quan thế giới”. Tuy nhiên, hiện nay hợp tác quốc tế ngày càng sâu, rộng, Việt Nam đã tham gia nhiều tổ chức quốc tế như ASEAN, APEC, ASEM, GMS, WTO, WCO… cũng như các nước và các vùng lãnh thổ. Trong khuôn khổ các tổ chức này có nhiều hoạt động hợp tác về hải quan nên cần có cơ sở pháp lý để thực hiện. Bên cạnh đó, trong khuôn khổ các cam kết quốc tế song phương và đa phương, Việt Nam có nhiệm vụ cử cán bộ ra nước ngoài và có nghĩa vụ tiếp nhận cán bộ nước ngoài vào Việt Nam để thực hiện các nhiệm vụ như điều tra, xác minh thông tin, thực hiện kiểm tra hải quan chung.

Do đó, Luật Hải quan sửa đổi cần bổ sung quy định về hợp tác quốc tế như sau:

– Quy định cử công chức hải quan ra nước ngoài và tiếp nhận công chức hải quan nước ngoài vào Việt Nam thực hiện hoạt động nghiệp vụ hải quan theo quy định của pháp luật và các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc là thành viên.

Những bổ sung trên sẽ hỗ trợ có hiệu quả việc hợp tác, trao đổi thông tin và hỗ trợ hành chính giữa các cơ quan hải quan trong các điều ước quốc tế về hải quan (khoản c điều 2 Công ước thành lập Hội đồng Hợp tác hải quan; điều 16 Công ước Hỗ trợ hành chính lẫn nhau về các vấn đề hải quan – Công ước Johanesburg,…), các thoả thuận quốc tế song phương và đa phương mà Việt Nam là thành viên và phù hợp với tình hình thực tế Hải quan Việt Nam đã tiếp nhận và làm việc với nhiều đoàn hải quan các nước vào điều tra, xác minh thông tin về chống bán phá giá, gian lận chuyển tải, thực thi quyền sở hữu trí tuệ, chấp hành các hiệp định biên giới, chống buôn lậu trên biển, kiểm soát xuất khẩu, thực thi các nghị quyết chống khủng bố của Liên Hợp quốc… Đặc biệt từ năm 2006, hàng ngày cán bộ hải quan hai nước Việt Nam và Lào đã sang lãnh thổ của nhau để thực hiện kiểm tra chung theo qui định tại Hiệp định GMS.

Trong nhóm vấn đề này tập trung rà soát sửa đổi bổ sung các nội dung chủ yếu sau:

Một là, về khai bổ sung nội dung đã khai trên tờ khai hải quan sau khi hàng hóa đã thông quan

Điều 22 Luật Hải quan quy định người khai hải quan được bổ sung, sửa chữa tờ khai trước thời điểm kiểm tra thực tế hàng hóa, thời điểm quyết định miễn kiểm tra thực tế hàng hóa, chưa có quy định về khai bổ sung sau thông quan. Khoản 2 Điều 34 Luật Quản lý thuế chỉ đề cập đến việc khai bổ sung về thuế sau khi hàng hoá đã được thông quan. Thực tế phát sinh một số trường hợp người khai hải quan có yêu cầu khai bổ sung sau khi hàng hoá đã thông quan nhưng không ảnh hưởng đến thuế, do Luật Hải quan không quy định nên không có cơ sở pháp lý để cơ quan hải quan xem xét, giải quyết. Mặt khác, quy định được bổ sung, sửa chữa tờ khai trước thời điểm kiểm tra thực tế hàng hóa dẫn đến cách hiểu khác nhau: được bổ sung, sửa chữa tờ khai trước thời điểm thực hiện kiểm tra thực tế hàng hóa hoặc được bổ sung, sửa chữa tờ khai trước thời điểm quyết định kiểm tra thực tế hàng hóa.

– Đối chiếu với các quy định tại các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cho thấy quy định tại Luật Hải quan về khai hải quan chưa thực sự phù hợp. Cụ thể:

+ Công ước Kyoto sửa đổi (chuẩn mực 3.20 đến 3.31 Phụ lục Tổng quát) quy định cho phép người khai hải quan sửa đổi, bổ sung tờ khai đã nộp với điều kiện khi nhận được yêu cầu đó, cơ quan Hải quan chưa bắt đầu kiểm tra tờ khai hoặc kiểm tra thực tế hàng hóa; hoặc sau khi việc kiểm tra Tờ khai hàng hóa đã bắt đầu, nếu những lý do do người khai hải quan đưa ra được cơ quan Hải quan chấp nhận là hợp lý.

Do đó, cần bổ sung vào Luật hải quan sửa đổi quy định khai bổ sung sau khi hàng hóa đã thông quan để bảo đảm phù hợp với thông lệ quốc tế và thống nhất với Luật Quản lý thuế; phù hợp với các khuyến nghị tại Công ước Kyoto và Luật Hải quan một số nước như Cộng đồng Châu Âu, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản.

Hai là, về phân loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

Mặt khác, Việt Nam đã phê chuẩn tham gia Công ước quốc tế về hệ thống hài hoà, mô tả và mã hoá hàng hoá (Công ước HS) từ năm 1998. Đây là hệ thống toàn cầu về phân loại hàng hoá.

Điều 13, Luật hiện hành quy định hệ thống tổ chức bộ máy của ngành Hải quan gồm 3 cấp: Tổng cục Hải quan; Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Chi cục Hải quan cửa khẩu, Đội Kiểm soát hải quan và đơn vị tương đương.

Mô hình tổ chức, bộ máy hiện hành bộc lộ một số hạn chế, khó khăn, cụ thể:

Tổ chức, bộ máy chưa gắn với yêu cầu, khối lượng công việc. Hiện tại có 21/34 Cục Hải quan gắn với địa bàn 1 tỉnh, thành phố; trong số này có nhiều Cục Hải quan (17 Cục) địa bàn không lớn địa bàn không lớn, khối lượng công việc ít. Ngược lại có Cục Hải quan địa bàn liên tỉnh (Hà Nội, Hải Phòng,..), hoặc cũng có Cục Hải quan mặc dù chỉ gắn với địa bàn một tỉnh (thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quảng Ninh) nhưng khối lượng công việc lớn, quản lý đa dạng các loại hình, nhiều đối tượng, nhiều loại cửa khẩu nhưng tổ chức, bộ máy hiện nay được cơ cấu cùng là cấp Cục.

Phạm vi quản lý bị chia tách theo từng địa bàn tỉnh, thành phố nên việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc, hệ thống công nghệ thông tin bị phân tán, dàn trải; việc xử lý, chia sẻ dữ liệu thông tin cũng gặp nhiều khó khăn; việc bố trí nguồn nhân lực bị phân tán, nên hạn chế về năng lực và hiệu quả hoạt động trong một số lĩnh vực nghiệp vụ chuyên sâu đòi hỏi sự tập trung chỉ đạo thống nhất, kịp thời như chống buôn lậu, chống ma túy, kiểm tra sau thông quan…; việc tổ chức cấp Cục hải quan gắn với địa giới hành chính tỉnh chưa phù hợp với quy mô hoạt động, yêu cầu công việc, đặc điểm từng địa bàn, điều kiện kinh tế xã hội, yêu cầu quản lý của hải quan trong những giai đoạn phát triển khác nhau.

Do vậy, sửa đổi quy định về tổ chức bộ máy hải quan theo hướng quy định có tính nguyên tắc chung về hệ thống tổ chức hải quan, theo đó hệ thống tổ chức của hải quan Việt Nam gồm có:

– Tổng cục Hải quan;

– Cục Hải quan;

– Chi cục Hải quan và Đội kiểm soát hải quan và đơn vị tương đương.

Hệ thống tổ chức của Hải quan vẫn được xây dựng theo nguyên tắc quản lý ngành và theo lãnh thổ nhưng căn cứ vào yêu cầu công việc; quy mô, tính chất hoạt động xuất nhập khẩu; đặc thù địa bàn, điều kiện kinh tế xã hội. Trên cơ sở đó, Chính phủ quy định việc thành lập, tổ chức lại Cục Hải quan căn cứ vào yêu cầu, khối lượng công việc, quy mô, tính chất hoạt động xuất nhập khẩu, đặc thù địa bàn, điều kiện kinh tế xã hội.

14.2.1. Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Hải quan

Trên cơ sở nội dung Luật Hải quan (sửa đổi) sẽ được Quốc hội thông qua, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2015; hoàn thiện các văn bản hướng dẫn triển khai Luật để đảm bảo có hiệu lực cùng với Luật Hải quan. Theo đó, cần hoàn thiện các văn bản sau:

a. Các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

– Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan;

– Nghị định về phạm vi địa bàn hoạt động hải quan;

Trên cơ sở nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Hải quan và thực tiễn quá trình thực hiện cần xây dựng Nghị định thay thế Nghị định 102/2002/NĐ-CP ngày 23/12/2002 của Chính phủ quy định về phạm vi địa bàn hoạt động hải quan.

– Nghị định quy định về việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

– Nghị định quy định về việc phân loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

– Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính;

Trên cơ sở mô hình tổ chức bộ máy được sửa đổi tại Luật Hải quan sửa đổi, cần xây dựng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ để cụ thể hóa các quy định của Luật Hải quan (sửa đổi), tạo cơ sở pháp lý cho cho việc xây dựng, xác định nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Hải quan đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước mà Chính phủ, Bộ Tài chính giao phó, đồng thời đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính.

b. Các văn bản pháp luật thuộc thẩm quyền của Bộ Tài chính ban hành

Trên cơ sở nội dung quy định của Luật Hải quan sửa đổi, Nghị định hướng dẫn Luật Hải quan, quá trình rà soát cho thấy cần hoàn thiện các Thông tư quy định chi tiết cụ thể:

– Thông tư quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra; giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

– Thông tư về việc hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa của người nước ngoài mua tại Việt Nam mang theo khi xuất cảnh qua cửa khẩu;

– Thông tư hướng dẫn việc phân loại, áp dụng mức thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

– Thông tư về việc ban hành tờ khai trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu và hướng dẫn khai báo;

– Thông tư về việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu;

– Thông tư hướng dẫn kế toán nghiệp vụ thuế và thu khác đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu;

– Thông tư hướng dẫn thí điểm thu nộp, hoàn trả thuế qua tài khoản chuyên thu của cơ quan hải quan tại ngân hàng thương mại;

– Thông tư liên tịch giữa Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Y tế, Bộ Tài nguyên và môi trường về việc thí điểm thực hiện Cơ chế hải quan một cửa quốc gia;

– Thông tư quy định thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

– Thông tư hướng dẫn thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với một số loại hàng hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu và gửi kho ngoại quan;

– Thông tư về thủ tục hải quan và quản lý xe ô tô, xe gắn máy của đối tượng được phép nhập khẩu, tạm nhập khẩu theo chế độ phi mậu dịch.

– Bộ Luật hàng hải, Luật hàng không dân dụng để bảo đảm có sự thống nhất, đồng bộ các quy định về thông báo khi hàng hóa đến cảng, bến, bãi và các biện pháp giải quyết, xử lý hàng hóa tồn đọng tại cảng biển, cảng hàng không quốc tế.

– Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa, Luật An toàn thực phẩm, Pháp lệnh thú y, Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật theo hướng quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan kiểm tra chuyên ngành trong việc giám sát hàng hóa đưa về kho bảo quản chờ kết quả kiểm tra chuyên ngành hoặc đưa hàng về các địa điểm để kiểm tra chuyên ngành.

– Bộ Luật tố tụng hình sự theo hướng bổ sung thẩm quyền khởi tố của cơ quan hải quan đối với các tội danh: vận chuyển trái phép vũ khí, ma túy qua biên giới, trốn thuế, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

– Pháp lệnh tổ chức điều tra hình theo hướng quy định tiêu chuẩn của các cán bộ Hải quan được tiến hành một số hoạt động điều tra theo Bộ luật tố tụng hình sự.

– Luật xử lý vi phạm hành chính theo hướng bổ sung thẩm quyền cho cơ quan hải quan được phép tạm giữ người theo thủ tục hành chính để kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm./.

Bản in

Bạn đang đọc nội dung bài viết Các Nghị Quyết Của Tổ Chức Liên Chính Phủ Có Ý Nghĩa Quan Trọng Trong Quá Trình Hình Thành Cũng Như Viện Dẫn, Áp Dụng Quy Phạm Tập Quán Và Quy Phạm Điều Ước / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!