Đề Xuất 11/2022 # Các Cấp Hội Nông Dân Trong Tỉnh Tăng Cường Và Đổi Mới Công Tác Tuyên Truyền, Vận Động Nông Dân Trong Tình Hình Mới – Hội Nông Dân Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu / 2023 # Top 19 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 11/2022 # Các Cấp Hội Nông Dân Trong Tỉnh Tăng Cường Và Đổi Mới Công Tác Tuyên Truyền, Vận Động Nông Dân Trong Tình Hình Mới – Hội Nông Dân Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu / 2023 # Top 19 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Các Cấp Hội Nông Dân Trong Tỉnh Tăng Cường Và Đổi Mới Công Tác Tuyên Truyền, Vận Động Nông Dân Trong Tình Hình Mới – Hội Nông Dân Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam (Nghị quyết số 19-NQ/HNDTW ngày 20/7/2014, khóa VI) về tăng cường và đổi mới công tác tuyên truyền, vận động nông dân trong tình hình mới. Trong 5 năm qua, các cấp Hội Nông dân trong tỉnh tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền phong phú, đa dạng phù hợp với nông dân. Tổ chức các lớp tập huấn về công tác tuyên truyền, kỹ năng viết tin, bài, nắm bắt dư luận xã hội, khai thác thông tin trên mạng. Hội đã thành lập được trang website để tuyên truyền các hoạt động Hội, bình quân mỗi ngày có khoảng 500 lượt người truy cập, đến tháng 5/2019 có gần 800.000 lượt người truy cập; Nâng cao chất lượng Bản tin nông dân; Tăng cường xuống cơ sở, tham dự sinh hoạt chi hội; định kỳ hàng tháng và đột xuất đều báo cáo công tác nắm bắt dư luận xã hội, kịp thời phản ánh tâm tư nguyện vọng của hội viên nông dân; Tuyên truyền thông qua sinh hoạt chi, tổ Hội, sinh hoạt Câu lạc bộ nông dân, phối hợp tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng như Báo Bà Rịa – Vũng Tàu, Đài phát thanh truyền hình, các bản tin của Thư viện tỉnh, Sở KH&CN, Sở Thông tin và truyền thông, Sở NN&PTNT, gắn với tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, các cuộc thi, hội thi, hội thao nông dân hàng năm… Kết quả trong 5 năm qua, các cấp Hội trên địa bàn tỉnh đã tổ chức được 2.619 buổi tuyên truyền cho 123.412 lượt cán bộ, hội viên nông dân. Qua đó đã góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm, ý chí vươn lên của hội viên nông dân; củng cố niềm tin của nông dân với Đảng, Nhà nước, tạo được sự đồng thuận cao trong xã hội góp phần giữ gìn khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Các cấp Hội đã tổ chức triển khai thực hiện, tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên nông dân tích cực tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền thông qua nhiều hình thức như: Góp ý trực tiếp, góp ý bằng văn bản, tổ chức các buổi tọa đàm để tham gia góp ý trên các lĩnh vực, thực hiện tốt công tác tiếp công dân, tiếp xúc cử tri, đối thoại trực tiếp giữa lãnh đạo cấp ủy đảng, chính quyền với nông dân… Tập trung vào việc góp ý về công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, tổ chức đảng; tổ chức thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước đối với các nhiệm vụ, giải pháp về phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh tại địa phương. Hội thường xuyên bồi dưỡng, giới thiệu những cán bộ, hội viên ưu tú để các cấp ủy Đảng xem xét kết nạp vào đảng, chú trọng bồi dưỡng, đào tạo cán bộ trẻ của Hội có trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức để bổ sung vào nguồn cán bộ của Đảng và chính quyền các cấp.

Các cấp Hội đã tổ chức cho hội viên, nông dân tham gia đóng góp ý kiến các dự thảo pháp luật, xây dựng các Đề án, chương trình phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương, quy hoạch đất đai, xây dựng nông thôn mới; dự án đầu tư, phương án đền bù, giải phóng mặt bằng, tái định cư; giải quyết việc làm khi bị thu hồi đất và các khoản đóng góp của nhân dân, nhất là trong xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn. Hội đã xây dựng kế hoạch giám sát và tổ chức đoàn giám sát đi giám sát việc tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật của Nhà nước về quản lý sản xuất – kinh doanh, sử dụng vật tư nông nghiệp tại các huyện Tân Thành (nay là thị xã Phú Mỹ), Xuyên Mộc, Châu Đức…

Qua triển khai, thực hiện Nghị quyết 19-NQ/HNDVN, công tác tuyên truyền tiếp tục được đổi mới. Các cấp Hội đã có nhiều giải pháp đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và của Hội. Tuyên truyền sâu rộng các phong trào thi đua yêu nước, các phong trào do Hội phát động, các gương “người tốt, việc tốt”, các mô hình, điển hình tiên tiến. Công tác tuyên truyền, giáo dục với nhiều hình thức phong phú, sinh động, phù hợp với nông dân, tuyên truyền thông qua sinh hoạt chi, tổ Hội, sinh hoạt CLB nông dân; phát hành bản tin, ra chuyên trang, chuyên mục và tuyên truyền trên các thông tin đại chúng, gắn với tổ chức các hoạt động xã hội. Vị thế, vai trò của Hội Nông dân Việt Nam và giai cấp nông dân Việt Nam trong hệ thống chính trị ngày càng được nâng cao; gắn kết chặt chẽ hội viên nông dân với tổ chức Hội, xây dựng tổ chức Hội, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

TẤN PHƯỚC – HND tỉnh

Các Cấp Hội Nông Dân Tỉnh Khánh Hòa Tiếp Tục Tích Cực Đổi Mới Công Tác Tuyên Truyền, Vận Động Nông Dân Trong Tình Hình Mới / 2023

Vừa qua, Hội nghị Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh Khánh Hòa lần thứ 4 (khóa XI), nhiệm kỳ 2018 – 2023 đã tổ chức đánh giá và thông qua báo cáo kết quả 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/HNDTW, ngày 20/7/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam về “tăng cường và đổi mới công tác tuyên truyền, vận động nông dân trong tình hình mới” trên địa bàn tỉnh.

Sau khi có Nghị quyết số 19 của Trung ương Hội; Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới và Chương trình hành động số 18-CTr/TU, ngày 09/12/2013 của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW, các cấp hội nông dân trong tỉnh đã kịp thời tổ chức các hội nghị quán triệt và tuyên truyền đến cán bộ, hội viên nông dân. Bằng nhiều hình thức tuyên truyền phong phú, sinh động, phù hợp với tình hình sản xuất, sinh hoạt của từng địa phương (sinh hoạt chi, tổ hội, sinh hoạt câu lạc bộ nông dân, Báo Nông thôn ngày nay, bản tin và trang thông tin điện tử của hội, trên các phương tiện thông tin đại chúng…), đã góp phần nâng cao nhận thức về chính trị, tư tưởng; cổ vũ, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường vươn lên của hội viên, nông dân, tạo sự đồng thuận trong xã hội; góp phần củng cố niềm tin của hội viên, nông dân với Đảng và Nhà nước.

Hội Nông dân tỉnh đã xây dựng Kế hoạch số 33-KH/HNDT, ngày 24/9/2014 và chỉ đạo các cấp hội xây dựng kế hoạch, chương trình hành động để triển khai thực hiện Nghị quyết số 19. Hàng năm, các cấp hội tổ chức xây dựng mô hình “Dân vận khéo” trên các lĩnh vực đời sống, sản xuất, văn hóa, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, xây dựng nông thôn mới (mỗi đơn vị, cơ sở xây dựng ít nhất 01 mô hình cụ thể gắn với 01 tập thể, cá nhân điển hình tiêu biểu để biểu dương, nhân rộng). Hội Nông dân tỉnh đã thành lập Tổ công tác nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội trong cán bộ, hội viên, nông dân; chỉ đạo hội nông dân các huyện, thị xã, thành phố thành lập tổ công tác và chỉ đạo, hướng dẫn hội nông dân cơ sở thành lập tổ công tác.

Để công tác tuyên truyền, vận động nông dân có hiệu quả, sâu rộng, đa dạng trên các lĩnh vực đời sống và sản xuất, Hội Nông dân tỉnh đã ký kết Chương trình phối hợp với Ban Tôn giáo tỉnh về tuyên truyền cán bộ, hội viên nông dân thực hiện chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước gắn với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội giai đoạn 2017-2022; Chương trình phối hợp với UBND tỉnh – Hội LHPN tỉnh về tuyên truyền, vận động sản xuất, kinh doanh nông sản thực phẩm an toàn vì sức khỏe cộng đồng, giai đoạn 2017-2020; Chương trình phối hợp công tác giữa Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Ban Dân vận Tỉnh ủy, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh và các đoàn thể về công tác tuyên truyền, vận động quần chúng giai đoạn 2017-2020. Trên cơ sở các chương trình phối hợp, lồng ghép các quan điểm, mục tiêu, giải pháp của Nghị quyết số 19 vào việc triển khai các hoạt động công tác hội và phong trào nông dân; đồng thời hướng dẫn hội nông dân các cấp ký kết chương trình, kế hoạch để triển khai thực hiện phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương. Các cấp hội nông dân đã phối hợp tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ, hội thi, hội thảo như: Hội thi “Nhà nông đua tài”, hội thi “Chủ tịch Hội cơ sở giỏi”, liên hoan “Tiếng hát đồng quê”, hội thảo “Kết nối cung cầu”, phiên chợ nông sản…; qua đó đã chuyển tải kịp thời, chính thống các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các chỉ thị, nghị quyết của hội tới hội viên, nông dân.

Hội Nông dân tỉnh tiếp tục tổ chức tốt các Phiên chợ nông sản hàng năm

Ngoài ra, hàng năm, các cấp hội xây dựng chương trình, kế hoạch công tác kiểm tra, giám sát; ngoài nội dung kiểm tra việc chấp hành Điều lệ Hội, tình hình triển khai, thực hiện nghị quyết của hội cấp trên đã lồng ghép kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết số 19. Qua kiểm tra, đã kịp thời phát hiện khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, ghi nhận những đề xuất, kiến nghị của các cấp hội và hội viên nông dân; kịp thời báo cáo cấp ủy, phối hợp với chính quyền, các sở, ngành, địa phương tháo gỡ nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác hội và phong trào nông dân.

Thông qua việc đẩy mạnh tuyên truyền, vận động đã tập hợp, thu hút và kết nạp nhiều hội viên nông dân. Trong 5 năm qua các cấp hội nông dân trong tỉnh đã phát triển thêm gần 19.000 hội viên, gắn với nâng cao chất lượng hội viên; hàng năm 100% số hội viên được phân loại chất lượng, có trên 80% hội viên xếp loại A. Trong 6 tháng đầu năm 2019, đã kết nạp thêm 1.779 hội viên (đạt 65,9% chỉ tiêu), nâng tổng số hội viên nông dân đến nay là 122.444 người. Các cấp hội đã quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, hội viên nông dân, giới thiệu cán bộ, hội viên, nông dân ưu tú để cấp ủy đảng xem xét, kết nạp và tham gia các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị; có hơn 340 cán bộ, hội viên nông dân ưu tú được kết nạp vào Đảng.

Với vai trò trung tâm và nòng cốt trong Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững, các cấp hội thường xuyên truyên truyền, vận động hội viên, nông dân chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, dồn điền, đổi thửa tạo vùng sản xuất tập trung; tư vấn, giới thiệu các giống cây trồng, vật nuôi mới có giá trị kinh tế cao; tổ chức tập huấn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới, tổ chức dạy nghề, thăm quan, hội thảo, hội nghị đầu bờ; tín chấp cho nông dân vay vốn; hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể; ký nghị quyết liên tịch, chương trình phối hợp với các sở, ngành về đẩy mạnh triển khai các chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa xã hội ở nông thôn… qua đó, đã thu hút được đông đảo các hộ nông dân tham gia phong trào. Bình quân hàng năm có trên 65.600 hộ đăng ký phấn đấu, qua bình xét có trên 58.600 hộ đạt danh hiệu hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp, đạt tỷ lệ gần 90%. Từ đó xuất hiện ngày càng nhiều nông dân điển hình trong sản xuất, kinh doanh giỏi, hiệu quả kinh tế cao.

Các cấp hội tiếp tục phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong sản xuất nông nghiệp. Đến nay, đã có trên 220 tổ hợp tác sản xuất kinh doanh do hội hướng dẫn thành lập với 2.350 thành viên, trong đó tổ liên kết trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy hải sản chiếm trên 87%; phối hợp vận động thành lập mới 9 hợp tác xã. Việc nhân rộng mô hình kinh tế tập thể góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tập trung, sản xuất hàng hóa nông sản an toàn. Các cấp hội đã vận động cán bộ, hội viên nông tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới; xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước; nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên nông dân về nhiệm vụ quốc phòng – an ninh, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

Bên cạnh đó, các cấp hội đã tuyên truyền nâng cao nhận thức, kiến thức cho cán bộ, hội viên, nông dân về chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng, về hội nhập quốc tế; về mối quan hệ hữu nghị láng giềng và khu vực giữa Việt Nam – ASEAN, Việt Nam – Lào – Campuchia, Việt Nam – Trung Quốc. Hội Nông dân tỉnh tổ chức tuyên truyền phổ biến Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương; kịp thời đưa các nội dung thông tin về hội nhập quốc tế của Việt Nam, của tỉnh, của hội về nông nghiệp, nông dân trên Trang thông tin điện tử nông dân Khánh Hòa và Bản tin nông dân tỉnh. Hội xây dựng Đề án và tổ chức đưa cán bộ, hội viên nông dân đi học tập kinh nghiệm về sản xuất nông nghiệp và tiêu thụ nông sản ổ nước ngoài, giai đoạn 2018-2020.

Thực hiện Quyết định số 217-QĐ/TW của Bộ Chính trị, Hướng dẫn số 637-HD/HNDTW của Trung ương Hội về thực hiện quy chế giám sát và phản biện xã hội trong hệ thống Hội Nông dân Việt Nam; các cấp hội đã tuyên truyền và kịp thời nắm bắt tình hình, tư tưởng của nông dân để kiến nghị với Đảng, Nhà nước có chính sách, giải pháp hỗ trợ, tạo điều kiện phát triển về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, xây dựng nông thôn mới. Hội Nông dân tỉnh tham gia cùng Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh giám sát việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, tình trạng ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất tại thành phố Nha Trang; giám sát việc lấy ý kiến Nhân dân trong triển khai thực hiện các dự án trên địa bàn tỉnh; cùng Ban Dân vận Tỉnh ủy giám sát việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở; giám sát việc thực hiện Quyết định số 1609/QĐ-UBND của UBND tỉnh về chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp và dịch vụ nông thôn trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, giai đoạn 2017-2020. Hội nông dân các cấp đã tham gia nhiều cuộc giám sát việc chấp hành quy định của pháp luật về quản lý, kinh doanh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật; vận động hội viên, nông dân giám sát việc thực hiện chính sách hỗ trợ giá giống, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp, các chính sách về xây dựng nông thôn mới…

Hàng năm, Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh cũng đã tích cực đăng ký làm việc trực tiếp để kịp thời báo cáo tình hình công tác và đã được Thường trực Tỉnh ủy, UBND tỉnh quan tâm chỉ đạo, hỗ trợ giải quyết đối với những kiến nghị, đề xuất nhằm nâng cao chất lượng công tác hội và phong trào nông dân trong toàn tỉnh.

Đ/c Nguyễn Tấn Tuân – Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc với Hội Nông dân tỉnh chiều ngày 19/3/2019

Nhìn chung, qua 5 năm thực hiện Nghị quyết số 19, công tác tuyên truyền của hội nông dân các cấp trong tỉnh có nhiều đổi mới, nội dung, hình thức đa dạng, phong phú, thiết thực, hiệu quả. Thông qua công tác tuyên truyền đã nâng cao chất lượng, hiệu quả các phong trào thi đua của hội, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của hội; hội viên nông dân tích cực làm ăn, phát triển kinh tế, đoàn kết giúp nhau làm giàu; thay đổi tư duy trong làm ăn kinh tế, phát triển nông nghiệp; ngày càng thu hút nhiều nông dân vào hội, góp phần xây dựng hội nông dân ngày càng vững mạnh.

Bên cạnh những thành quả, việc tổ chức thực hiện Nghị quyết số 19 ở một số cơ sở hội chưa sâu, chưa gắn kết công tác tuyên truyền, vận động với tổ chức các phong trào hành động của hội viên nông dân và xây dựng hội vững mạnh nên chưa tạo sự chuyển biến mạnh mẽ. Việc tuyên truyền các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của hội chưa được thực hiện thường xuyên, kịp thời; nội dung, cách thức tuyên truyền, vận động còn chậm đổi mới, hiệu quả chưa cao. Việc nắm bắt tâm tư nguyện vọng của hội viên, nông dân có lúc, có nơi còn chưa kịp thời. Đội ngũ cán bộ hội làm công tác tuyên truyền, vận động, nhất là ở cơ sở trình độ chuyên môn, nghiệp vụ còn hạn chế, đã ảnh hưởng đến chất lượng công tác tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền và hội nông dân cấp trên.

Thời gian tới, tỉnh Khánh Hòa xác định tiếp tục thực hiện có hiệu quả Kết luận số 53-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XI về phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ cấu kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và cơ cấu nội ngành theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; phát triển kinh tế biển nhằm phát huy các lợi thế, tiềm năng của tỉnh, tập trung cho công nghiệp đóng tàu, vận tải, dịch vụ cảng biển, du lịch biển đảo, nuôi trồng và khai thác thủy sản. Tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; ứng dụng khoa học – công nghệ vào sản xuất, nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân bằng các chính sách hỗ trợ phát triển các loại hình dịch vụ, sản xuất cụ thể, với quy mô sản xuất lớn, đầu tư công nghệ cao, sản xuất theo hướng chuỗi giá trị gia tăng, có mô hình liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản chủ lực đảm bảo tính hiệu quả bền vững; tăng cường công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân.

Vì vậy, để tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 19 của Trung ương Hội Nông dân trong thời gian tới, các cấp hội nông dân tỉnh Khánh Hòa tập trung thực hiện một số nội dung sau:

1. Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 19 của Trung ương Hội gắn với thực hiện Nghị quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, Nghị quyết Đại hội toàn quốc Hội Nông dân lần thứ VII, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng Đảng, Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác dân vận. Triển khai có hiệu quả phong trào thi đua “Dân vận khéo”; phát triển các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến ở các cấp hội để tuyên truyền, nhân rộng.

2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận trong cán bộ, hội viên; vận động cán bộ, hội viên nông dân tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

3. Tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, vận động gắn với đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của hội nông dân, gắn với lợi ích thiết thực của hội viên nông dân, hướng mạnh về cơ sở theo tinh thần nghị quyết đại hội hội nông dân các cấp, nhiệm kỳ 2018 – 2023.

4. Tiếp tục nâng cao chất lượng các tổ công tác của hội để nắm bắt kịp thời tình hình tư tưởng, dư luận xã hội và những khó khăn, vướng mắc của cán bộ, hội viên; chủ động dự báo tình hình và đề xuất các giải pháp định hướng dư luận, nhằm giải quyết kịp thời, có hiệu quả những khó khăn, vướng mắc của hội viên nông dân.

6. Thực hiện củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ hội nông dân các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ tuyên truyền viên, báo cáo viên ở cơ sở, nhằm đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Nguyên Lộc – Văn phòng Tỉnh ủy

Hướng Dẫn Một Số Vấn Đề Cụ Thể Về Thi Hành Điều Lệ Hội Nông Dân Việt Nam Khóa Vii – Hội Nông Dân Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu / 2023

HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM

BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG

*

Số 93 – HD/HNDTW

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Hà Nội, ngày 05 tháng 8 năm 2019

HƯỚNG DẪN

Một số vấn đề cụ thể về thi hành Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam

Căn cứ Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam (đã được Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VII thông qua ngày 12/12/2018) và Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam (khóa VII) ngày 23/7/2019; Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam hướng dẫn thực hiện một số điều của Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam như sau:

1. Điều 3: Đối tượng và điều kiện trở thành hội viên

1.1- Đối tượng, điều kiện kết nạp (khoản 1):

– Tính đến thời điểm kết nạp, người được kết nạp vào Hội phải đủ 18 tuổi.

+ Những người đang lao động trong các lĩnh vực nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại, du lịch…

+ Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp… cấp xã trở lên (bao gồm cả cán bộ không chuyên trách cấp xã).

+ Cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động nghỉ hưu sống ở nông thôn hoặc nơi có tổ chức Hội.

+ Các nhà khoa học, các doanh nhân, giám đốc hoặc chủ tịch hội đồng quản trị hợp tác xã trong các ngành nghề nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại; cán bộ kỹ thuật, nghệ nhân…..

+ Học sinh đang học các trường trung học phổ thông; học sinh, sinh viên các trường trung cấp, cao đẳng, đại học là con em nông dân hoặc xuất thân từ nông thôn gắn bó với nông nghiệp, nông thôn.

1.2- Xét kết nạp hội viên trong một số trường hợp:

Hội Nông dân các cấp có trách nhiệm tuyên truyền, vận động để kết nạp:

– Học sinh trong các trường trung học phổ thông từ đủ 18 tuổi có nguyện vọng vào Hội, tích cực, tự nguyện tham gia các hoạt động do Hội tổ chức thì chi Hội hoặc Hội cơ sở nơi học sinh đó cư trú xem xét kết nạp trên cơ sở trao đổi, thống nhất với ban giám hiệu nhà trường nơi học sinh đó đang học tập và cấp ủy nơi cư trú.

– Học sinh, sinh viên các trường trung cấp, cao đẳng, đại học có nguyện vọng vào Hội, tích cực, tự nguyện tham gia các hoạt động do Hội tổ chức thì ban thường vụ Hội Nông dân cấp cơ sở hoặc cấp huyện/cấp tỉnh/cấp trung ương nơi trường đó đóng trên địa bàn xem xét kết nạp, sau khi có sự thống nhất với cấp ủy và ban lãnh đạo nhà trường trên cơ sở phù hợp với nguyện vọng và điều kiện cư trú, học tập của học sinh, sinh viên vào Hội.

– Các nhà khoa học, các doanh nhân, trí thức trẻ có nguyện vọng vào Hội, tích cực tham gia và đóng góp cho các hoạt động của Hội thì ban thường vụ Hội Nông dân cấp cơ sở hoặc cấp huyện, cấp tỉnh, cấp trung ương xem xét kết nạp trên cơ sở phù hợp với nguyện vọng, điều kiện cư trú, làm việc của người vào Hội.

– Giám đốc hoặc chủ tịch hội đồng quản trị hợp tác xã trong các ngành nghề nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại…do ban thường vụ Hội cấp cơ sở xem xét, kết nạp.

– Trường hợp người có nguyện vọng xin vào Hội nhưng nơi đó chưa có chi Hội hoặc tổ Hội thì việc kết nạp hội viên do ban thường vụ Hội cấp cơ sở hoặc cấp huyện/cấp tỉnh/cấp trung ương xem xét và kết nạp.

1.3- Thủ tục kết nạp hội viên (khoản 1):

– Người xin vào Hội phải tán thành Điều lệ Hội, tự nguyện có đơn gửi chi Hội hoặc tổ Hội (nơi có tổ Hội).

– Được phổ biến, quán triệt về Điều lệ Hội và những kiến thức cơ bản về Hội trước khi kết nạp.

– Chi Hội tổ chức hội nghị toàn thể hội viên hoặc hội nghị ban chấp hành chi Hội mở rộng (đối với chi Hội có đông hội viên và được chia thành các tổ Hội) để xem xét, lựa chọn người đủ điều kiện, tiêu chuẩn và lập danh sách đề nghị lên ban thường vụ Hội cơ sở xét và ra quyết định kết nạp.

– Khi nhận được văn bản đề nghị xét kết nạp hội viên của chi Hội, ban thường vụ Hội cơ sở có trách nhiệm xem xét kết nạp vào cuộc họp gần nhất và ra quyết định kết nạp hội viên. Nếu có trường hợp không được xét kết nạp thì phải trả lời bằng văn bản lý do không được kết nạp cho chi Hội để chi Hội thông báo cho người xin vào Hội biết.

– Khi có quyết định kết nạp hội viên, chi Hội mời những người có tên trong danh sách được kết nạp dự cuộc họp chi Hội gần nhất và công bố quyết định kết nạp hội viên mới (nơi có tổ Hội thì công bố tại tổ Hội nhưng phải thông báo cho toàn thể chi Hội biết vào kỳ họp gần nhất). Thời gian được công nhận là hội viên tính từ ngày ghi trên quyết định kết nạp.

1.4- Công tác quản lý hội viên

1.4.1– Cách thức quản lý hội viên:

– Chi Hội, tổ Hội, ban chấp hành Hội cơ sở phải có Sổ danh sách hội viên theo dõi kết nạp hội viên, sự biến động hội viên và phát Thẻ hội viên theo mẫu của Trung ương Hội ban hành.

– Các cấp Hội, nhất là cơ sở Hội có thể áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý hội viên phù hợp với xu hướng phát triển hiện nay.

– Các cấp Hội có trách nhiệm báo cáo đầy đủ tình hình biến động hội viên của cấp mình đối với Hội cấp trên trực tiếp. Đối với tổ Hội, chi Hội, cơ sở Hội thực hiện báo cáo hàng quý; đối với cấp huyện, cấp tỉnh thực hiện báo cáo 6 tháng, 1 năm.

– Khi hội viên thay đổi nơi cư trú thì báo cáo chi Hội nơi đi, chi Hội có trách nhiệm báo cáo ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp. Đến nơi cư trú mới, hội viên báo cáo, xuất trình thẻ hội viên hoặc giấy giới thiệu của Hội theo mẫu của Trung ương Hội ban hành với tổ chức Hội cơ sở nơi đến cư trú để được tiếp tục tham gia sinh hoạt Hội.

1.4.2- Quản lý hội viên đi lao động ở xa, thời gian không ổn định; hội viên đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài; hội viên trở thành công nhân trong các khu công nghiệp, trong các doanh nghiệp ở nông thôn

Hội viên đi lao động ở xa, thời gian không ổn định là những hội viên rời khỏi địa phương nơi đăng ký hộ khẩu thường trú đến địa phương khác để lao động với việc làm và thời gian không ổn định, không có điều kiện sinh hoạt Hội thường xuyên nơi cư trú.

a) Trách nhiệm của hội viên:

– Đối với hội viên đi lao động ở xa, thời gian không ổn định:

+ Trước mỗi đợt đi lao động ở xa phải báo cáo với ban chấp hành chi Hội (qua chi hội trưởng) về địa chỉ nơi đến để chi Hội, Hội cơ sở hướng dẫn thủ tục chuyển sinh hoạt Hội tạm thời hoặc báo cáo chi Hội xin tạm dừng sinh hoạt (trong trường hợp nơi đến lao động không có tổ chức Hội và không thể tham gia sinh hoạt Hội được).

+ Khi đến nơi lao động, hội viên liên hệ với chi Hội, Hội cơ sở nơi đến để đăng ký tham gia sinh hoạt Hội; được dùng thẻ hội viên hoặc giấy giới thiệu chuyển sinh hoạt để sinh hoạt tạm thời.

+ Trường hợp hội viên đi lao động, hoặc làm ăn xa nhưng vẫn đi, về thường xuyên và đảm bảo sinh hoạt với chi Hội hoặc tổ Hội ít nhất 02 lần/năm, đóng hội phí đầy đủ, có đóng góp cho các hoạt động của chi Hội, tổ Hội thì vẫn là hội viên được tính vào số hội viên hiện có của chi Hội, tổ Hội.

– Đối với hội viên đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, trước khi đi phải báo cáo ban chấp hành chi Hội (qua chi hội trưởng) để được tạm dừng sinh hoạt Hội và số hội viên này không tính vào số hội viên hiện có của chi Hội khi báo cáo Hội cấp trên. Khi hội viên trở lại sinh sống ở địa phương thì báo cáo chi Hội để được xem xét tiếp tục tham gia sinh hoạt Hội.

– Hội viên làm công nhân trong các khu công nghiệp, trong các doanh nghiệp (đi khỏi nơi cư trú) không thể tham gia sinh hoạt Hội được thì trước khi đi làm phải báo cáo ban chấp hành chi Hội (qua chi hội trưởng) để được tạm dừng sinh hoạt Hội và số hội viên này không tính vào số hội viên hiện có của chi Hội khi báo cáo Hội cấp trên. Khi thôi làm công nhân, trở lại địa phương lao động, sản xuất, kinh doanh thì báo cáo chi Hội để được tiếp tục tham gia sinh hoạt Hội.

b) Trách nhiệm của cơ sở Hội nơi hội viên đi:

Chi Hội lập sổ theo dõi danh sách hội viên kèm theo địa chỉ nơi đến của số hội viên đi lao động ở xa, thời gian không ổn định; hội viên đi xuất khẩu lao động; hội viên làm công nhân trong các khu công nghiệp, trong các doanh nghiệp và báo cáo cho Hội cơ sở để theo dõi. Hội cơ sở chuyển sinh hoạt hội tạm thời cho hội viên bằng giấy giới thiệu hoặc hướng dẫn hội viên dùng thẻ hội viên để đăng ký sinh hoạt tạm thời. Số hội viên này không tính vào số hội viên thực tế hiện có của chi Hội khi báo cáo với cấp trên.

c) Trách nhiệm của cơ sở Hội nơi hội viên đến:

– Hội cơ sở tiếp nhận thủ tục sinh hoạt tạm thời và giới thiệu hội viên về các chi Hội. Số hội viên này được tính vào số hội viên hiện có của chi Hội tiếp nhận khi báo cáo với Hội cấp trên.

– Những địa bàn tập trung đông hội viên là lao động tự do và đã có đăng ký tạm trú thì Hội cơ sở ở nơi đó có thể thành lập chi Hội hoặc tổ Hội trực thuộc để tổ chức sinh hoạt và các hoạt động cho hội viên.

1.4.3- Sinh hoạt của hội viên:

– Việc tổ chức sinh hoạt cho hội viên phải phù hợp với từng đối tượng, điều kiện lao động, công tác và học tập của hội viên.

+ Hội viên sinh sống và lao động ở nông thôn thì tham gia sinh hoạt tại chi Hội, tổ Hội được tổ chức theo địa bàn dân cư, theo nghề nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác…

+ Hội viên là học sinh thuộc trường trung học phổ thông sinh hoạt tại chi Hội, tổ Hội tại địa bàn nông thôn nơi đang sinh sống.

+ Hội viên là ủy viên ban chấp hành Hội Nông dân cấp huyện trở lên sinh hoạt tại các kỳ họp của ban chấp hành và các cuộc hội thảo, hội nghị…cấp mình tham gia.

+ Hội viên là cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, các nhà khoa học, nhà doanh nghiệp (nơi không có chi Hội, tổ Hội) thì tham gia sinh hoạt Hội tại cơ quan chuyên trách Hội Nông dân cấp huyện/cấp tỉnh/cấp trung ương tổ chức.

+ Hội viên là sinh viên các trường trung cấp, cao đẳng, đại học sinh hoạt tại chi Hội, tổ Hội được thành lập trong trường hoặc sinh hoạt tại cơ quan chuyên trách Hội Nông dân cấp cơ sở/cấp huyện/cấp tỉnh/cấp trung ương trực tiếp quản lý.

+ Hội viên là giám đốc hoặc chủ tịch hội đồng quản trị hợp tác xã trong các ngành nghề nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại sinh hoạt tại tổ chức Hội nơi cư trú.

– Cách thức và nội dung sinh hoạt đối với hội viên là các nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, học sinh, sinh viên, trí thức trẻ do cơ quan chuyên trách Hội Nông dân cấp trực tiếp quản lý lựa chọn và chuẩn bị.

1.4.4- Xem xét miễn sinh hoạt:

– Đối với hội viên tuổi cao, sức yếu, hội viên ốm đau dài ngày, nếu vì lý do sức khỏe không tham gia sinh hoạt và các hoạt động của Hội được nhưng vẫn có nguyện vọng gắn bó với tổ chức Hội thì báo cáo chi Hội xem xét để được miễn sinh hoạt và các hoạt động của Hội. Chi Hội báo cáo ban thường vụ Hội cơ sở biết theo dõi.

* Nhiệm vụ, quyền lợi của hội viên được miễn sinh hoạt và hoạt động Hội.

+ Nhiệm vụ: Thực hiện nhiệm vụ của hội viên được quy định tại Điều 4, Điều lệ Hội phù hợp với sức khỏe.

+ Quyền lợi: Được mời dự Hội nghị toàn thể hội viên. Được hưởng quyền lợi đầy đủ như hội viên đang tham gia sinh hoạt và hoạt động của Hội.

+ Nếu vi phạm tư cách hội viên vẫn bị xử lý kỷ luật theo quy định của Điều lệ Hội.

1.4.5- Trường hợp đưa ra khỏi danh sách hội viên và tổ chức Hội:

Đối với những hội viên không gắn bó, thiết tha với Hội và làm đơn xin ra khỏi Hội thì chi Hội báo cáo ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp để đưa ra khỏi danh sách hội viên và tổ chức Hội. Hội viên đã xin ra khỏi Hội thì không xem xét kết nạp lại.

1.4.6- Sử dụng huy hiệu Hội

Cán bộ, hội viên đeo huy hiệu Hội vào ngày lễ lớn của Hội, các hoạt động mang ý nghĩa chính trị – xã hội và các buổi sinh hoạt tập thể của Hội.

1.4.7– Phát và quản lý thẻ hội viên

– Thẻ hội viên có giá trị chứng nhận tư cách, trách nhiệm và quyền lợi chính trị – xã hội của hội viên, được cấp để thực hiện nhiệm vụ của hội viên và của Hội Nông dân Việt Nam. Thẻ hội viên do Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam quy định và phát hành.

– Hội viên được phát Thẻ trong lễ kết nạp hoặc chậm nhất không quá 3 tháng kể từ ngày được kết nạp vào Hội. Việc cấp Thẻ hội viên do ban thường vụ Hội Nông dân các tỉnh, thành phố quyết định. Thẻ có dán ảnh và đóng dấu nổi của Hội Nông dân tỉnh, thành phố. Hội viên được nhận Thẻ hội viên phải thực hiện đúng những quy định về sử dụng và bảo quản thẻ hội viên.

– Thẻ hội viên chỉ được sử dụng trong công tác và sinh hoạt nội bộ Hội Nông dân và xuất trình khi cần.

– Hội viên không được cho người khác mượn thẻ; Thẻ hội viên không còn giá trị khi hội viên không còn tham gia tổ chức Hội.

– Hội viên bị xóa tên thì thu hồi thẻ. Ban thường vụ Hội cơ sở có trách nhiệm thu hồi thẻ và báo cáo Hội cấp trên trực tiếp.

– Khi thẻ bị mất hoặc hư hỏng thì phải báo cho chi Hội biết; chi Hội lập danh sách và có văn bản báo cáo lên Hội cấp trên đề nghị cấp lại hoặc đổi thẻ hội viên.

1.4.8- Trách nhiệm của các cấp Hội trong việc phát và quản lý thẻ hội viên

a) Hội cơ sở: Lập danh sách hội viên được đề nghị cấp thẻ và làm thủ tục đề nghị Hội cấp trên trực tiếp xem xét phát thẻ hội viên, cấp lại thẻ hội viên bị mất hoặc bị hỏng. Sau khi có quyết định phát thẻ của cấp Hội có thẩm quyền, chi Hội tổ chức phát thẻ hội viên tại cuộc họp chi Hội hoặc tổ Hội.

b) Hội cấp trên trực tiếp của tổ chức Hội cơ sở: Chỉ đạo, hướng dẫn, xem xét và lập danh sách đề nghị ban thường vụ Hội cấp tỉnh cấp thẻ hội viên; lập danh sách hội viên được phát thẻ và quản lý sổ phát thẻ hội viên.

c) Hội Nông dân tỉnh, thành phố: Ra quyết định phát thẻ hội viên, cấp lại thẻ hội viên bị mất hoặc bị hỏng; tổ chức viết thẻ hội viên. Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra Hội cấp dưới thực hiện việc phát và quản lý thẻ hội viên. Hằng năm báo cáo Trung ương ương Hội.

d) Đối với hội viên thuộc cấp huyện/cấp tỉnh/cấp trung ương quản lý thì cấp đó có trách nhiệm đề nghị hoặc quyết định cấp thẻ cho hội viên.

2. Điều 4. Nhiệm vụ của hội viên

– Thực hiện theo 3 nhiệm vụ quy định trong Điều lệ Hội.

– Hội viên sinh hoạt tại đâu thì có trách nhiệm đóng hội phí tại đó.

3. Điều 5: Quyền lợi của hội viên

3.1- Quyền ứng cử, đề cử, bầu cử (Khoản 3):

– Hội viên có quyền ứng cử để bầu vào ban chấp hành các cấp của Hội, dù hội viên đó là đại biểu hay không là đại biểu của đại hội.

– Việc ứng cử, đề cử, bầu cử thực hiện theo Quy chế bầu cử trong hệ thống Hội Nông dân Việt Nam.

– Người tự ứng cử, nhận đề cử và đề cử là đảng viên thực hiện theo Quy định của Đảng cộng sản Việt Nam.

3.2- Một số quyền lợi khác đối với hội viên đặc thù

– Đối với hội viên là sinh viên có đóng góp tích cực, hiệu quả cho hoạt động của Hội, khi tốt nghiệp loại giỏi hoặc xuất sắc thì được các cấp Hội giới thiệu để dự thi tuyển vào các cơ quan chuyên trách của Hội Nông dân ở các cấp theo quy định khi có nhu cầu.

4. Điều 6: Nguyên tắc tổ chức và hoạt động

4.1- Nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động của cơ quan lãnh đạo Hội các cấp

– Hội Nông dân Việt Nam tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ; thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên.

– Hội nghị ban chấp hành, ban thường vụ chỉ hợp lệ khi có mặt hai phần ba (2/3) số uỷ viên được triệu tập trở lên. Nghị quyết ban chấp hành, ban thường vụ chỉ có giá trị khi quá một phần hai (1/2) tổng số uỷ viên ban chấp hành hay ban thường vụ được triệu tập biểu quyết đồng ý.

Trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình. Thành viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu ý kiến và được báo cáo với Hội cấp trên trực tiếp. Khi chưa có ý kiến của Hội cấp trên trực tiếp, thành viên đó phải chấp hành nghị quyết của tập thể và không được truyền bá ý kiến cá nhân và làm trái với nghị quyết. Khi thi hành, phải thực hiện nghị quyết của tập thể.

4.2- Cơ quan lãnh đạo các cấp của Hội được bầu cử trực tiếp bằng phiếu kín.

Việc bầu cử thực hiện theo Quy chế bầu cử trong hệ thống Hội Nông dân Việt Nam.

– Trong trường hợp bầu không có số dư, khi bầu lần thứ nhất chưa đủ số lượng cần bầu, nếu đại hội hoặc hội nghị quyết định tiếp tục bầu lần thứ hai để bổ sung đủ số lượng còn thiếu, thì lựa chọn và giới thiệu nhân sự trong diện số dư mà ban chấp hành cấp triệu tập đại hội hoặc hội nghị đã chuẩn bị (nếu có); không giới thiệu nhân sự vừa bầu không trúng cử ở lần thứ nhất.

– Trường hợp những người bầu không trúng cử vào các cơ quan lãnh đạo của Hội các cấp tại Đại hội hoặc hội nghị thì ít nhất phải 6 tháng sau nếu đủ tiêu chuẩn, uy tín thì mới giới thiệu để bầu lại.

4.3- Công tác bầu cử của Hội

Thực hiện theo Quy chế bầu cử trong hệ thống Hội Nông dân Việt Nam.

4.3.1- Việc bỏ phiếu kín áp dụng trong các trường hợp:

a) Bầu ban chấp hành trong đại hội, bầu ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch hoặc bầu bổ sung ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ và chức danh chủ tịch, phó chủ tịch.

b) Bầu đại biểu đi dự đại hội Hội Nông dân cấp trên trực tiếp.

c) Bầu ủy viên ủy ban kiểm tra, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra.

4.3.2 – Bầu cử tại Hội nghị ban chấp hành, hội nghị ủy ban kiểm tra

– Triệu tập phiên họp đầu tiên của ban chấp hành khóa mới là đồng chí chủ tịch hoặc phó chủ tịch khóa trước được bầu tái cử. Nếu chủ tịch và phó chủ tịch khóa trước không tái cử thì Đoàn chủ tịch đại hội chỉ định triệu tập viên là một đồng chí mới được bầu vào ban chấp hành, chủ trì phiên họp cho đến khi bầu xong chủ toạ hội nghị.

– Hội nghị ban chấp hành bầu ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch, ủy ban kiểm tra và chủ nhiệm ủy ban kiểm tra. Hội nghị ủy ban kiểm tra bầu phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra.

– Ban chấp hành có quyền quyết định số lượng ủy viên ban thường vụ, phó chủ tịch, ủy viên ủy ban kiểm tra, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra. Số lượng ủy viên ban thường vụ không quá một phần ba (1/3) ủy viên ban chấp hành; số lượng ủy viên ủy ban kiểm tra không nhiều hơn số lượng ủy viên ban thường vụ và thực hiện theo Đề án Ủy ban kiểm tra Hội Nông dân các cấp nhiệm kỳ 2018 – 2023 của Ban Thường vụ Trung ương Hội.

4.4- Quy trình, thủ tục công nhận kết quả bầu cử ban chấp hành, ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch

Ban chấp hành, ban thường vụ và chức danh chủ tịch, các phó chủ tịch Hội từ cấp tỉnh trở xuống phải được ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp công nhận.

– Trong vòng 15 ngày làm việc, ban thường vụ khóa mới báo cáo lên ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp các biên bản bầu cử ban chấp hành, ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch kèm theo danh sách trích ngang và tờ trình đề nghị công nhận kết quả bầu cử. Tờ trình do chủ tịch hoặc phó chủ tịch (đối với nơi chưa bầu chủ tịch) mới được bầu tại Hội nghị ban chấp hành lần thứ nhất ký.

– Đồng chí chủ tịch, phó chủ tịch điều hành và ký các văn bản theo thẩm quyền ngay sau khi công bố kết quả bầu cử tại đại hội. Riêng kiện toàn bổ sung tại hội nghị ban chấp hành được điều hành các công việc ngay, nhưng chỉ khi có quyết định chuẩn y của ban thường vụ Hội cấp trên thì đồng chí chủ tịch, phó chủ tịch mới được ký các văn bản theo thẩm quyền.

– Trường hợp phát hiện có sự vi phạm Điều lệ Hội và nguyên tắc, thủ tục bầu cử thì ban thường vụ cấp trên trực tiếp có quyền không công nhận kết quả bầu cử và chỉ đạo tiến hành bầu lại; hoặc thấy có một hoặc một số chức danh đã được bầu nhưng không đảm bảo nguyên tắc, tiêu chuẩn quy định thì có quyền không công nhận một hoặc một số chức danh đó.

– Trong vòng 15 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ của cấp dưới, ban thường vụ Hội cấp trên phải ra quyết định công nhận. Nếu không công nhận phải thông báo và nêu rõ lý do cho Hội cấp dưới biết bằng văn bản.

– Trường hợp đã có quyết định công nhận của ban thường vụ Hội cấp trên, sau đó mới phát hiện có sự vi phạm Điều lệ Hội và nguyên tắc, thủ tục bầu cử của Hội thì ban thường vụ cấp ra quyết định công nhận có quyền thu hồi và hủy quyết định công nhận đối với tất cả danh sách hoặc của một/một số người trong danh sách.

5. Điều 7: Hệ thống tổ chức của Hội

5.1- Hệ thống tổ chức Hội được thành lập tương ứng với hệ thống tổ chức hành chính của Nhà nước.

5.2- Tổ chức Hội được xác định tương đương với tổ chức Hội cơ sở được thành lập theo đơn vị hành chính là những tổ chức do ban thường vụ Hội Nông dân cấp tỉnh, cấp huyện phối hợp với cơ quan có thẩm quyền thống nhất thành lập trong một số nông trường, lâm trường, hợp tác xã nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ…mà thực hiện chức năng, nhiệm vụ tương đương Hội Nông dân cấp cơ sở, được cấp ủy cùng cấp và ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp đồng ý.

6. Điều 8: Đại hội Hội Nông dân các cấp

6.1- Đại biểu đại hội

6.1.1- Số lượng đại biểu (khoản 1):

Ban chấp hành cấp triệu tập đại hội xem xét, quyết định số lượng đại biểu dự đại hội căn cứ vào số lượng, đơn vị trực thuộc, số lượng hội viên và phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương trên cơ sở hướng dẫn của Ban Thường vụ Trung ương Hội và ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp.

Ở những nơi có số lượng hội viên dưới 100 thì tổ chức đại hội toàn thể hội viên trừ trường hợp đặc biệt sẽ do ban chấp hành Hội cấp trên trực tiếp quyết định trên cơ sở thống nhất ý kiến với cấp ủy của cấp triệu tập đại hội.

6.1.2- Thành phần đại biểu (khoản 2):

– Ủy viên ban chấp hành thuộc cấp triệu tập đại hội ở đơn vị nào là đại biểu chính thức của đoàn đại biểu đơn vị đó. Đối với ủy viên ban chấp hành cơ cấu, không chuyên trách thì thuộc đoàn đại biểu của cơ quan Hội chuyên trách cấp triệu tập đại hội.

– Đại biểu do đại hội, hội nghị đại biểu cấp dưới bầu lên theo phân bổ số lượng của ban chấp hành cấp triệu tập đại hội. Ban chấp hành cấp triệu tập đại hội phân bổ số lượng đại biểu đại hội theo những căn cứ chủ yếu sau:

+ Số lượng hội viên.

+ Số lượng tổ chức Hội trực thuộc cấp đó.

+ Tính đặc thù, những đặc điểm về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, tôn giáo, dân tộc…

– Đại biểu chỉ định: Đại biểu chỉ định là những đại biểu do ban chấp hành cấp triệu tập đại hội quyết định ngoài số đại biểu đương nhiên và đại biểu bầu. Chỉ chỉ định những trường hợp cần thiết và phải bảo đảm tiêu chuẩn đại biểu. Không chỉ định những người đã bầu cử ở cấp dưới không trúng cử chính thức hoặc dự khuyết làm đại biểu của đại hội. Số lượng đại biểu được chỉ định không quá 5% số lượng đại biểu chính thức của đại hội.

6.1.3- Bầu đại biểu chính thức và đại biểu dự khuyết dự đại hội cấp trên

Việc bầu cử đại biểu dự đại hội cấp trên (cả chính thức và dự khuyết) thực hiện theo Quy chế bầu cử trong hệ thống Hội Nông dân Việt Nam.

6.1.4- Thay thế đại biểu

Việc chuyển đại biểu dự khuyết thành đại biểu chính thức do ban thường vụ cấp triệu tập đại hội quyết định.

– Nguyên tắc thay thế đại biểu:

+ Đại biểu dự khuyết được bầu thuộc đoàn đại biểu nào thì được thay thế đại biểu chính thức của đoàn đại biểu đó.

+ Đại biểu dự khuyết được chuyển thành đại biểu chính thức theo thứ tự số phiếu bầu từ cao xuống thấp; nếu phiếu bầu bằng nhau thì người có thành tích nổi trội, có quá trình cống hiến cho tổ chức Hội và phong trào nông dân nhiều hơn sẽ được ưu tiên lựa chọn và trên cơ sở có tính đến yếu tố cơ cấu của đề án đoàn đại biểu.

– Khi đại biểu chính thức đã được bầu tại đại hội vắng mặt có lý do chính đáng thì đại biểu dự khuyết thay thế. Ban thường vụ Hội nơi có sự thay đổi đại biểu phải có tờ trình báo cáo lý do và đề cử đại biểu dự khuyết thay thế gửi ban thường vụ Hội cấp triệu tập đại hội và phải được ban thường vụ Hội cấp triệu tập đại hội đồng ý bằng văn bản.

Trường hợp đã thay thế hết số đại biểu dự khuyết mà số đại biểu chính thức đã được bầu vẫn thiếu, nếu cần thiết thì ban chấp hành cấp triệu tập đại hội xem xét, quyết định chỉ định bổ sung theo đề nghị của ban thường vụ Hội cấp dưới nhưng với điều kiện tổng số đại biểu chỉ định vẫn nằm trong giới hạn tỉ lệ 5% so với tổng số đại biểu được triệu tập.

6.1.5- Bác tư cách đại biểu

Đại hội cấp triệu tập có trách nhiệm xem xét bác bỏ tư cách đại biểu trong các trường hợp sau:

– Đại biểu đang trong thời gian bị cơ quan pháp luật khởi tố, truy tố. Đại biểu được bầu đang trong thời gian bị thi hành kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên.

– Đại biểu được bầu không đúng quy định của Điều lệ Hội.

– Trong thời gian đang diễn ra đại hội, đại biểu vi phạm pháp luật hoặc vi phạm nội quy đại hội gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức Hội.

6.2- Về kéo dài hoặc rút ngắn thời gian nhiệm kỳ đại hội (khoản 4)

– Các trường hợp đặc biệt có thể tổ chức đại hội sớm hoặc muộn hơn nhưng không được quá một năm (mười hai tháng), bao gồm:

Khi có thay đổi địa giới hành chính (chia tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc thành lập mới) theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp có quyền quyết định điều chỉnh thời gian nhiệm kỳ đại hội lần thứ nhất để phù hợp với thời gian nhiệm kỳ đại hội Hội cùng cấp trong cả hệ thống Hội. Nhiệm kỳ của tổ chức Hội mới không nhất thiết phải đủ 5 năm.

– Ban Thường vụ Trung ương Hội xem xét, quyết định kéo dài, rút ngắn nhiệm kỳ đại hội Hội cấp tỉnh khi cần. Ban thường vụ Hội Nông dân cấp tỉnh xem xét, quyết định kéo dài, rút ngắn nhiệm kỳ đại hội Hội Nông dân cấp huyện và cấp cơ sở để phù hợp với nhiệm kỳ chung.

– Trước khi quyết định việc kéo dài hoặc rút ngắn thời gian nhiệm kỳ đại hội phải báo cáo và được sự đồng ý (bằng văn bản) của ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp và cấp ủy cùng cấp của cấp triệu tập đại hội.

6.3- Hội nghị đại biểu

6.3.1- Số lượng đại biểu:

Không nhiều hơn số lượng đại biểu của đại hội nhiệm kỳ. Việc phân bổ số lượng đại biểu của hội nghị đại biểu như căn cứ phân bổ số lượng đại biểu đại hội.

6.3.2- Thành phần đại biểu của Hội nghị đại biểu:

– Ủy viên ban chấp hành cấp triệu tập hội nghị không bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên mà chưa hết thời hạn áp dụng (Kể cả kỷ luật đảng, chính quyền, đoàn thể).

– Các đại biểu do ban chấp hành cấp dưới cử lên, gồm:

+ Cán bộ chủ chốt của ban chấp hành cấp dưới.

+ Một số cán bộ Hội chuyên trách, không chuyên trách.

+ Hội viên tiêu biểu.

7. Điều 9: Ban chấp hành Hội Nông dân các cấp

7.1- Xây dựng ban chấp hành khóa mới (khoản 1)

Xây dựng ban chấp hành phải bảo đảm các yếu tố, tiêu chuẩn do Ban Chấp hành Trung ương Hội quy định.

7.1.1- Tiêu chuẩn, điều kiện tham gia ban chấp hành

7.1.2- Cơ cấu ban chấp hành

– Cán bộ chuyên trách, không chuyên trách, chủ chốt các cấp Hội; nhà khoa học, giám đốc hợp tác xã/chủ tịch Hội đồng quản trị hợp tác xã, chủ trang trại, hội viên tiêu biểu có điều kiện và khả năng hoàn thành nhiệm vụ.

– Chú trọng cán bộ trưởng thành từ phong trào nông dân, từ cơ sở. Đảm bảo tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số, cán bộ trẻ, cán bộ khoa học kỹ thuật, kinh tế, xã hội…

– Những cán bộ, công chức, viên chức làm việc tại các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị – xã hội, các doanh nghiệp, nếu có đủ điều kiện và tín nhiệm, được cấp uỷ Đảng và ban chấp hành Hội cùng cấp giới thiệu thì được đề cử để đại hội bầu vào ban chấp hành hoặc hội nghị ban chấp hành bầu bổ sung vào ban chấp hành Hội các cấp.

7.1.3- Số lượng ủy viên ban chấp hành Hội các cấp

– Trước mỗi kỳ Đại hội căn cứ vào chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Hội, Ban Thường vụ Trung ương Hội hướng dẫn cụ thể việc chuẩn bị và tiến hành đại hội hội nông dân các cấp, trong đó có quy định về số lượng (tối đa, tối thiểu) của ban chấp hành các cấp. Ban chấp hành Hội Nông dân cấp tỉnh căn cứ vào hướng dẫn của Ban Thường vụ Trung ương Hội để cụ thể hoá và hướng dẫn ban chấp hành Hội Nông dân cấp dưới thực hiện.

– Số lượng uỷ viên ban chấp hành cấp nào do đại hội cấp đó quyết định, nhưng phải đảm bảo số lượng tối thiểu và không vượt quá số lượng tối đa do ban thường vụ cấp trên trực tiếp hướng dẫn.

7.2- Bổ sung ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch (khoản 2)

Chỉ bổ sung ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch khi khuyết các chức danh đó.

7.2.1- Các trường hợp bầu bổ sung

– Bầu chưa đủ số lượng do đại hội hoặc hội nghị quyết định.

– Khi ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch nghỉ hưu, nghỉ công tác, chuyển công tác (không thuộc cơ cấu ban chấp hành, ban thường vụ), bị kỷ luật cách chức hoặc vì lý do cá nhân khác xin rút tên.

– Trong trường hợp khi sáp nhập, hợp nhất số ủy viên ban chấp hành khuyết so với đề án thì có thể xem xét để bầu bổ sung.

7.2.2- Nguyên tắc bầu bổ sung

– Bầu bổ sung ban chấp hành, ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch phải đảm bảo đúng cơ cấu, số lượng và tiêu chuẩn đã được đại hội hoặc hội nghị thông qua.

– Trước khi bầu bổ sung uỷ viên ban chấp hành, uỷ viên ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch ở mỗi cấp, ban thường vụ cấp đề nghị phải có văn bản báo cáo cụ thể và phải được sự thống nhất, đồng ý của cấp ủy cùng cấp theo quy định phân cấp quản lý cán bộ và ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp bằng văn bản. Văn bản đề nghị kiện toàn, bổ sung cần ghi rõ lý do bổ sung.

– Bổ sung người chưa là ủy viên ban chấp hành vào ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch của cấp đó: ban chấp hành tiến hành bầu bổ sung người đó vào ban chấp hành sau đó bầu vào ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch.

– Trong cùng một cuộc họp, người vừa được bầu bổ sung trúng cử vào ban chấp hành được quyền ứng cử, đề cử và bầu cử các chức danh khác tại cuộc họp đó.

7.2.3- Quy trình, thủ tục, hồ sơ kiện toàn nhân sự và công nhận kết quả bầu cử ban chấp hành, ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch

a) Quy trình, thủ tục kiện toàn và công nhận ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ

* Quy trình:

Bước 2: Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp xem xét, cho ý kiến và trả lời bằng văn bản.

Bước 3: Khi có ý kiến đồng ý của cấp ủy cùng cấp và ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp, ban thường vụ Hội Nông dân cấp bầu bổ sung triệu tập hội nghị ban chấp hành và tiến hành bầu bổ sung các chức danh theo quy định.

Bước 4: Ban thường vụ Hội Nông dân cấp bầu bổ sung hoàn thiện thủ tục, hồ sơ trình ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định công nhận.

* Hồ sơ kiện toàn:

– Hồ sơ xin chủ trương kiện toàn, bổ sung nhân sự

+ Tờ trình của ban thường vụ Hội Nông dân cấp bầu bổ sung xin chủ trương kiện toàn ban chấp hành, ban thường vụ (cần nêu rõ lý do và tình hình ban chấp hành, ban thường vụ ở thời điểm kiện toàn).

+ Danh sách trích ngang nhân sự cụ thể.

+ Đối với nhân sự là ủy viên ban thường vụ phải có thêm lý lịch theo mẫu 2C/TCTW-98 của Ban Tổ chức Trung ương quy định.

– Hồ sơ đề nghị công nhận các chức danh kiện toàn, bổ sung

+ Tờ trình của ban thường vụ Hội Nông dân cấp bầu bổ sung đề nghị công nhận chức danh kiện toàn.

+ Trích biên bản Hội nghị ban chấp hành (phần điều hành kiện toàn nhân sự).

+ Biên bản kiểm phiếu bầu từng chức danh.

b) Quy trình, thủ tục kiện toàn và công nhận chức danh chủ tịch, phó chủ tịch

* Quy trình:

Bước 2: Thực hiện quy trình công tác cán bộ theo quy định, có thể thực hiện một trong các trường hợp sau:

– Căn cứ giới thiệu của ban thường vụ cấp ủy về nhân sự cụ thể để thực hiện quy trình kiện toàn.

– Tùy theo tình hình thực tế của địa phương, tổ chức Đảng, ban thường vụ Hội Nông dân cấp kiện toàn có thể lựa chọn nhân sự phù hợp để tham mưu với cấp ủy cho thực hiện quy trình công tác cán bộ.

Bước 3: Sau khi có phương án nhân sự cụ thể:

– Đối với Hội Nông dân các tỉnh, thành phố: Đảng đoàn Hội Nông dân tỉnh/thành phố tham mưu cho ban thường vụ tỉnh/thành ủy có văn bản trao đổi với Đảng đoàn Hội Nông dân Việt Nam về chủ trương và nhân sự cụ thể dự kiến kiện toàn chức danh chủ tịch, phó chủ tịch của Hội Nông dân tỉnh/thành phố.

– Đối với Hội Nông dân cấp huyện, cấp cơ sở: Ban thường vụ Hội Nông dân cấp huyện, cấp cơ sở tham mưu cho cấp ủy cùng cấp có văn bản trao đổi với ban thường vụ Hội Nông dân cấp trên về chủ trương và nhân sự cụ thể dự kiến kiện toàn chức danh chủ tịch, phó chủ tịch của cấp huyện hoặc cấp xã.

Bước 4: Trên cơ sở chỉ đạo của cấp ủy cùng cấp và ý kiến đồng ý bằng văn bản về chủ trương kiện toàn nhân sự của Đảng đoàn (hoặc ban thường vụ) Hội cấp trên trực tiếp, ban thường vụ Hội Nông dân nơi kiện toàn triệu tập hội nghị ban chấp hành tiến hành bầu bổ sung các chức danh theo quy định.

Bước 5: Ban thường vụ Hội Nông dân nơi kiện toàn hoàn thiện thủ tục, hồ sơ trình ban thường vụ cấp trên trực tiếp xem xét quyết định công nhận.

* Hồ sơ đề nghị kiện toàn và công nhận các chức danh:

– Hồ sơ xin ý kiến kiện toàn, bổ sung nhân sự:

+ Đề nghị cấp ủy có văn bản gửi Đảng đoàn (đối với trung ương, tỉnh, thành phố), ban thường vụ Hội Nông dân (đối với cấp huyện, cấp xã) trao đổi về công tác cán bộ để thống nhất chủ trương và nhân sự cụ thể kiện toàn chức danh chủ tịch, phó chủ tịch (Kèm theo trích ngang lý lịch nhân sự dự kiến giới thiệu).

+ Tờ trình của ban thường vụ Hội Nông dân nơi kiện toàn gửi ban thường vụ Hội Nông dân cấp trên trực tiếp báo cáo tình hình ban chấp hành, ban thường vụ, nhân sự chủ tịch, phó chủ tịch. Trên cơ sở đó, xin ý kiến và chủ trương kiện toàn chức danh chủ tịch, phó chủ tịch (Kèm theo sơ yếu lý lịch cán bộ theo mẫu 2C/TCTW-98; Văn bản điều động, phân công công tác của cấp ủy đối với nhân sự được luân chuyển (nếu có).

– Hồ sơ đề nghị công nhận chức danh được kiện toàn, bổ sung

+ Tờ trình của ban thường vụ Hội Nông dân nơi kiện toàn đề nghị công nhận chức danh được kiện toàn, bổ sung.

+ Trích biên bản Hội nghị ban chấp hành (phần điều hành kiện toàn nhân sự).

+ Biên bản kiểm phiếu bầu từng chức danh.

7.3- Chỉ định ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ, chủ tịch và phó chủ tịch các cấp Hội (khoản 3):

– Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp chỉ định ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ và các chức danh chủ chủ tịch, phó chủ tịch trong trường hợp tổ chức Hội mới được thành lập hoặc được thành lập mới do có sự thay đổi về địa giới hành chính như chia tách, sáp nhập, hợp nhất trong nhiệm kỳ; chỉ đạo xây dựng hoặc bổ sung nhiệm vụ mới cho phù hợp.

– Trong trường hợp thực hiện kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ ở cơ sở theo chỉ đạo của cấp ủy, số lượng ủy viên ban chấp hành Hội cấp xã hoặc của chi Hội còn dưới 50% so với tổng số ủy viên ban chấp hành theo Đề án được Đại hội thông qua, thì ban thường vụ Hội Nông dân cấp huyện có quyền chỉ định bổ sung ủy viên ban chấp hành Hội Nông dân cấp xã; ban thường vụ Hội Nông dân cấp xã có quyền chỉ định bổ sung ủy viên ban chấp hành chi Hội. Số lượng ủy viên ban chấp hành cấp xã hoặc của chi Hội sau khi đã được chỉ định bổ sung không được vượt quá 2/3 tổng số ủy viên ban chấp hành theo đề án đã được đại hội thông qua.

Quy trình chỉ định

– Trường hợp chia tách, ban thường vụ Hội khóa đương nhiệm nơi có sự thay đổi về địa giới hành chính báo cáo về dự kiến nhân sự phù hợp với cơ cấu tổ chức mới với Hội cấp trên trực tiếp sau khi có sự thống nhất của cấp ủy cùng cấp; ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp làm việc với ban chấp hành khóa đương nhiệm và cấp ủy nơi có sự thay đổi về địa giới hành chính dự kiến nhân sự để chỉ định.

– Trường hợp sáp nhập, hợp nhất hoặc thành lập mới tổ chức Hội, ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp làm việc với ban chấp hành Hội và cấp ủy của các tổ chức Hội được sáp nhập, hợp nhất hoặc thành lập mới.

– Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp ra quyết định chỉ định ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ, chủ tịch và phó chủ tịch.

7.4- Việc đương nhiên không còn là ủy viên ban chấp hành; cho rút tên khỏi ban chấp hành, ban thường vụ, thôi giữ chức danh chủ tịch, phó chủ tịch (khoản 5, 6):

– Uỷ viên ban chấp hành có quyết định nghỉ hưu hoặc có thông báo nghỉ công tác (kể từ thời điểm quyết định nghỉ hưu hoặc thông báo nghỉ công tác có hiệu lực thi hành) thì đương nhiên không còn là uỷ viên ban chấp hành và các chức vụ khác do ban chấp hành bầu.

– Uỷ viên ban chấp hành chuyển công tác khác mà vị trí công tác mới không thuộc thành phần cơ cấu tham gia ban chấp hành kể từ thời điểm quyết định chuyển công tác có hiệu lực thi hành thì đương nhiên không còn là uỷ viên ban chấp hành.

– Đối với ủy viên ban chấp hành chuyển công tác trong hệ thống Hội:

+ Trường hợp ủy viên ban chấp hành Hội cấp dưới (không là ủy viên ban chấp hành Hội cấp trên) khi chuyển công tác lên cơ quan chuyên trách Hội cấp trên thì đương nhiên thôi tham gia ban chấp hành Hội cấp dưới.

+ Trường hợp ủy viên ban chấp hành Hội cấp dưới đồng thời là ủy viên ban chấp hành Hội cấp trên nếu chuyển công tác lên cơ quan chuyên trách Hội cấp trên thì đương nhiên thôi tham gia ban chấp hành Hội cấp dưới; việc tham gia hay không tham gia ban chấp hành Hội cấp trên do ban chấp hành Hội cấp trên quyết định.

– Ủy viên ban chấp hành giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thuộc thành phần cơ cấu tham gia ban chấp hành khi có quyết định thôi giữ chức vụ cũng đương nhiên không còn là ủy viên ban chấp hành.

– Đối với người tham gia ban chấp hành nhiều cấp: Nếu bị kỷ luật cách chức hoặc rút tên khỏi ban chấp hành cấp dưới thì không còn là ủy viên ban chấp hành của các cấp trên.

– Đối với các chức danh chủ tịch, phó chủ tịch Hội các cấp trước khi cho rút tên hoặc thôi tham gia ban chấp hành phải báo cáo bằng văn bản và được sự đồng ý của cấp ủy đảng cùng cấp và Hội cấp trên trực tiếp.

– Nếu rút tên trong ban chấp hành thì không còn là ủy viên ban thường vụ và không còn giữ chức vụ chủ tịch, phó chủ tịch (nếu có). Nếu chỉ rút tên trong ban thường vụ thì không còn giữ chức vụ chủ tịch, phó chủ tịch (nếu có) nhưng vẫn còn là ủy viên ban chấp hành. Nếu chỉ thôi giữ chức vụ chủ tịch, phó chủ tịch thì vẫn còn là ủy viên ban thường vụ, uỷ viên ban chấp hành.

8. Khoản 4, Điều 10: Thành lập, chia tách, sáp nhập, chấm dứt hoạt động tổ chức Hội

8.1- Thành lập tổ chức Hội

a) Thẩm quyền: Việc thành lập tổ chức Hội do Hội cấp trên trực tiếp quyết định sau khi hiệp y chủ trương thống nhất với cấp ủy cùng cấp.

b) Quy trình, thủ tục:

– Cấp ủy Đảng nơi dự kiến thành lập tổ chức Hội gửi hồ sơ đến tổ chức Hội có thẩm quyền thành lập, gồm:

+ Văn bản đề nghị thành lập tổ chức Hội tại địa phương.

+ Đề án thành lập tổ chức Hội.

+ Dự thảo phương hướng hoạt động của tổ chức Hội trong thời gian lâm thời.

+ Danh sách trích ngang ban chấp hành lâm thời dự kiến chỉ định.

+ Lý lịch theo mẫu quy định đối với các chức danh ủy viên ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch.

+ Danh sách hội viên.

– Tổ chức Hội có thẩm quyền tiếp nhận và thẩm định hồ sơ; làm việc với cấp ủy nơi thành lập .

– Tổ chức Hội có thẩm quyền ra quyết định thành lập, phối hợp với cấp ủy tổ chức lễ công bố quyết định thành lập.

Lưu ý: Trong trường hợp Hội cấp trên có chủ trương thành lập Hội cấp dưới thì chủ động làm việc với cấp ủy cấp dưới để thống nhất chủ trương thành lập.

8.2- Chia tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức Hội

a) Chia tách tổ chức Hội trong các trường hợp: Có sự chia tách đơn vị hành chính thành các đơn vị (như chia tách một tỉnh, huyện, xã thành nhiều tỉnh, huyện, xã) theo đó, tổ chức Hội thuộc các đơn vị này cũng chia tách thành hai hay nhiều tổ chức Hội.

b) Sáp nhập, hợp nhất tổ chức Hội trong các trường hợp: Có sự sáp nhập hoặc hợp nhất đơn vị hành chính thành một tổ chức Hội (như sáp nhập hoặc hợp nhất hai hay nhiều tỉnh, huyện, xã thành một tỉnh, huyện, xã) theo đó, tổ chức Hội thuộc các đơn vị này cũng sáp nhập, hợp nhất thành một tổ chức Hội.

Việc chia tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức Hội có thể diễn ra đồng thời trong trường hợp chia tách các bộ phận của hai hay nhiều đơn vị hành chính để sáp nhập hoặc hợp nhất các bộ phận đó lại thành một đơn vị (như tách một hay nhiều huyện của hai hay nhiều tỉnh để thành lập tỉnh mới; tách một hay nhiều xã của hai hay nhiều huyện để thành lập một huyện mới; tách một hay nhiều thôn, ấp, bản của một hay nhiều xã để thành lập một xã mới) theo đó tổ chức Hội của những đơn vị này cũng được chia tách để sáp nhập, hợp nhất thành một tổ chức Hội mới.

Việc xác định cấp của tổ chức Hội được chia tách, sáp nhập, hợp nhất do Hội cấp trên trực tiếp quyết định.

c) Thẩm quyền quyết định chia tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức Hội

– Chia tách tổ chức Hội:

– Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp xem xét quyết định việc chia tách tổ chức Hội, sau khi thống nhất với cấp ủy Đảng của đơn vị chia tách.

– Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp chỉ định ban chấp hành, ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch của các tổ chức Hội mới chia tách.

– Sáp nhập, hợp nhất tổ chức Hội:

– Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp xem xét quyết định việc sáp nhập, hợp nhất tổ chức Hội sau khi thống nhất với cấp ủy Đảng của đơn vị mới sáp nhập, hợp nhất.

– Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp chỉ định ban chấp hành, ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch của các tổ chức Hội mới sáp nhập, hợp nhất

d) Hồ sơ chia tách; sáp nhập, hợp nhất gồm:

+ Văn bản đề nghị của ban thường vụ Hội nơi được chia tách hoặc sáp nhập, hợp nhất các tổ chức Hội gửi ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp.

+ Đề án chia tách hoặc sáp nhập, hợp nhất tổ chức Hội có ý kiến nhất trí của cấp ủy.

+ Bản sao quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc chia tách hoặc sáp nhập, hợp nhất đơn vị hành chính.

e) Trường hợp chia tách để sáp nhập thành một tổ chức Hội mới thì thẩm quyền quyết định và thủ tục như thành lập tổ chức Hội mới.

8.3- Chấm dứt hoạt động tổ chức Hội

b) Quy trình, thủ tục chấm dứt hoạt động:

– Ban chấp hành tổ chức Hội đơn vị có nhu cầu chấm dứt hoạt động báo cáo thực trạng công tác Hội và phong trào nông dân, tình hình tổ chức Hội của đơn vị mình đồng thời đề xuất phương án giải quyết với Hội cấp trên trực tiếp và cấp ủy cùng cấp.

– Có văn bản đề nghị được chấm dứt hoạt động gửi ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp.

– Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp làm việc với ban chấp hành tổ chức Hội nơi muốn chấm dứt hoạt động và cấp ủy trực tiếp quản lý, xác định rõ lý do chấm dứt hoạt động; đồng thời báo cáo cấp ủy cùng cấp về phương án giải quyết.

8.4- Chuyển giao và tiếp nhận tổ chức Hội

Chuyển giao và tiếp nhận một tổ chức Hội được tiến hành khi có sự thay đổi địa giới hành chính.

a) Cấp chuyển giao, tiếp nhận:

– Ban thường vụ Hội cơ sở chuyển giao, tiếp nhận chi hội.

– Ban thường vụ Hội cấp huyện chuyển giao, tiếp nhận Hội cơ sở.

– Ban thường vụ Hội cấp tỉnh chuyển giao, tiếp nhận Hội cấp huyện.

b) Thủ tục chuyển giao và tiếp nhận:

– Công văn đề nghị của tổ chức Hội chuyển đi gửi ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp và cấp Hội tiếp nhận

– Công văn của Hội cấp trên trực tiếp có tổ chức Hội chuyển đi gửi cấp Hội tiếp nhận.

– Danh sách ban chấp hành, cán bộ Hội chuyên trách.

– Báo cáo số lượng, chất lượng hội viên.

– Quyết định của cấp Hội có trách nhiệm tiếp nhận.

c) Nội dung chuyển giao và tiếp nhận:

– Tình hình tư tưởng của cán bộ, hội viên

– Công tác tổ chức cán bộ.

– Những nhiệm vụ công tác đang tiến hành cần tiếp tục giải quyết.

– Các loại văn bản, sổ sách.

8.5- Giải thể tổ chức Hội

a) Trường hợp áp dụng: Khi các đơn vị đã giải thể về mặt hành chính theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

b) Thẩm quyền: Cấp nào có thẩm quyền quyết định thành lập thì cấp đó có thẩm quyền ra quyết định giải thể và báo cáo Hội cấp trên trực tiếp.

c) Quy trình, thủ tục giải thể tổ chức Hội:

– Tổ chức Hội phải giải thể có văn bản báo cáo cấp ủy đảng về việc đề nghị giải thể.

– Hội cấp trên trực tiếp xem xét, làm việc với tổ chức Hội và cấp ủy đảng thống nhất chủ trương.

+ Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp ban hành quyết định giải thể.

Trong trường hợp Hội cấp dưới không chủ động thực hiện quy trình giải thể tổ chức Hội, Hội cấp trên có quyền làm việc với cấp ủy cấp dưới để thống nhất chủ trương giải thể tổ chức Hội.

8.6- Cách tính nhiệm kỳ của tổ chức Hội thành lập mới, chia tách, sáp nhập, hợp nhất

a) Thành lập mới, sáp nhập, hợp nhất:

Nhiệm kỳ (không nhất thiết phải đủ 5 năm) được tính từ thời điểm tiến hành đại hội, số thứ tự đại hội được tính là lần thứ nhất (trừ trường hợp sáp nhập tổ chức Hội cấp thấp hơn trở thành một bộ phận của tổ chức Hội cấp trên thì số thứ tự được tính theo nhiệm kỳ của tổ chức Hội cấp trên).

Trường hợp sáp nhập 02 tổ chức Hội trở lên cùng cấp, có số nhiệm kỳ bằng nhau thì số nhiệm kỳ của tổ chức Hội mới được sáp nhập được giữ nguyên.

b) Chia tách:

– Các đơn vị không thay đổi tên gọi và cấp Hội thì nhiệm kỳ đại hội và số thứ tự đại hội được giữ nguyên.

– Các đơn vị thành lập với tên gọi mới và mô hình tổ chức bộ máy có sự thay đổi thì nhiệm kỳ được tính từ thời điểm tiến hành đại hội. Số thứ tự đại hội được tính là lần thứ nhất.

– Các đơn vị thay đổi tên gọi nhưng mô hình tổ chức bộ máy không có sự thay đổi thì nhiệm kỳ đại hội và số thứ tự đại hội được giữ nguyên, không thay đổi.

8.7- Đối với chi Hội, tổ Hội: Ban thường vụ Hội cơ sở hoặc cấp trên trực tiếp quản lý quyết định việc thành lập, chia tách, sáp nhập, hợp nhất, chấm dứt hoạt động, giải thể chi hội trực thuộc. Quy trình được thực hiện như cấp cơ sở.

9. Điều 11: Tổ chức cơ sở Hội

9.1– Cơ sở Hội là nền tảng của Hội, là cấp trên trực tiếp của chi Hội, là nơi trực tiếp với hội viên, nông dân; đoàn kết, tập hợp, vận động, hướng dẫn hội viên nông dân tương trợ, giúp đỡ nhau thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao đời sống; là nơi trực tiếp thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, các phong trào của Hội.

– Cơ sở Hội được thành lập theo đơn vị hành chính (xã, phường, thị trấn).

– Tổ chức Hội tương đương cấp cơ sở: Đối với những tổ chức Hội có tính chất đặc thù về nhiệm vụ chính trị, về đối tượng hội viên như nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, có mối liên hệ với nhiều ngành, nhiều đơn vị trong công tác… ; nếu có nhu cầu và đủ điều kiện, được sự thống nhất của cấp uỷ cùng cấp và Hội cấp trên đồng ý thì thành lập tổ chức Hội tương đương Hội Nông dân cấp cơ sở và do ban thường vụ Hội Nông dân cấp huyện quyết định.

Nếu tổ chức Hội tương đương cấp cơ sở có sự thay đổi, không còn đủ các điều kiện quy định thì ban thường vụ Hội cấp huyện xem xét, quyết định lại cho phù hợp và báo cáo lên ban thường vụ Hội Nông dân cấp tỉnh.

9.2- Trường hợp đặc thù tổ chức Hội cấp dưới không còn tổ chức Hội cấp trên trực tiếp thì Hội cấp trên kế tiếp trực tiếp chỉ đạo tổ chức Hội cấp dưới đó. Cụ thể như sau:

– Tại các quận, thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh, không có tổ chức Hội mà vẫn có cơ sở Hội thì ban thường vụ Hội Nông dân cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo và thống nhất với cấp uỷ của quận, thị, thành trực thuộc tỉnh để cử cán bộ theo dõi cơ sở Hội đó; việc công nhận uỷ viên ban chấp hành, ban thường vụ, chức danh chủ tịch, phó chủ tịch do ban thường vụ Hội cấp tỉnh quyết định.

– Trường hợp tổ chức Hội cấp cơ sở không còn mà vẫn còn chi Hội thì ban thường vụ Hội Nông dân cấp huyện trực tiếp chỉ đạo và thống nhất với cấp uỷ của xã, phường, thị trấn cử cán bộ theo dõi chi Hội đó. Việc công nhận ban chấp hành, chi hội trưởng, chi hội phó do ban thường vụ Hội cấp huyện quyết định.

– Trường hợp cấp cơ sở Hội và quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh không còn tổ chức Hội mà còn chi Hội thì ban thường vụ Hội Nông dân cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo và thống nhất với cấp uỷ xã, phường, thị trấn cử cán bộ theo dõi chi Hội đó. Việc công nhận ban chấp hành, chi hội trưởng, chi hội phó do ban thường vụ Hội Nông dân cấp tỉnh quyết định.

9.3- Quy trình, thủ tục thành lập tổ chức cơ sở Hội :

– Khi một đơn vị có đủ điều kiện và có nguyện vọng thành lập tổ chức cơ sở Hội, ban thường vụ Hội Nông dân cấp trên trực tiếp làm việc với cấp ủy nơi có nhu cầu thành lập để thống nhất về việc thành lập tổ chức cơ sở Hội, kết nạp hội viên, xem xét, lựa chọn nhân sự ban chấp hành, ban thường vụ và chức danh chủ chốt.

– Thủ tục:

+ Văn bản đề nghị thành lập của cấp uỷ nơi có nguyện vọng thành lập cơ sở Hội.

+ Đề án mô hình tổ chức cơ sở Hội và nhân sự cơ quan lãnh đạo mới.

+ Danh sách hội viên (nếu có); danh sách và đơn xin tham gia tổ chức Hội của nông dân và lao động khác.

+ Danh sách trích ngang đề cử ban chấp hành, ban thường vụ và chức danh lãnh đạo.

– Ban Thường vụ Hội Nông dân cấp trên trực tiếp ra quyết định công nhận hội viên, quyết định thành lập tổ chức cơ sở Hội và chỉ định ban chấp hành, ban thường vụ và chức danh lãnh đạo của tổ chức Hội được thành lập.

– Tổ chức lễ ra mắt và công bố quyết định thành lập.

10. Điều 13: Chi Hội

10.1- Vai trò, vị trí của chi Hội: Chi Hội là đơn vị hành động, là tế bào của Hội và là hạt nhân nòng cốt đoàn kết, tập hợp hội viên, nông dân.

10.2- Mô hình tổ chức chi Hội: Chi Hội tổ chức theo thôn, ấp, bản, làng, khu phố phù hợp với địa bàn dân cư và sự lãnh đạo của chi bộ; theo hợp tác xã, theo nghề nghiệp; chi Hội có thể được thành lập trong các trường trung cấp, cao đẳng, đại học.

Chi Hội nghề nghiệp trực thuộc Hội cơ sở; chi Hội trong các trường trung cấp, cao đẳng, đại học, trong các nhà khoa học, trí thức trẻ có thể trực thuộc cơ sở Hội hoặc cấp huyện/cấp tỉnh/cấp Trung ương quản lý.

Chi Hội có 100 hội viên trở lên thì được chia thành các tổ Hội theo địa bàn, đối tượng, tổ hợp tác, nghề nghiệp, sở thích. Chi Hội theo địa bàn dân cư nhưng hội viên sinh sống phân tán trên địa bàn rộng, đi lại khó khăn thì dưới 100 hội viên vẫn có thể chia thành các tổ Hội để thuận tiện cho việc sinh hoạt và tổ chức các hoạt động của Hội.

Ngoài mô hình trên, tại các cơ sở Hội, có thể hình thành các câu lạc bộ, nhóm/tổ hội viên nông dân có tính chất đặc thù thuộc sự quản lý, điều hành của ban chấp hành cơ sở Hội hoặc của ban chấp hành chi Hội.

10.3- Quy trình, thủ tục thành lập chi Hội

– Khi một đơn vị có đủ điều kiện và có nguyện vọng thành lập chi Hội, ban thường vụ Hội Nông dân cấp trên trực tiếp quản lý trao đổi thống nhất với cấp uỷ quản lý của nơi có nhu cầu thành lập chi Hội; đồng thời xin ý kiến chỉ đạo của cấp ủy cùng cấp để thống nhất về việc thành lập chi Hội, kết nạp hội viên, lựa chọn nhân sự cán bộ chi Hội (ban chấp hành, chi hội trưởng, chi hội phó).

– Thủ tục:

+ Văn bản của cấp uỷ đảng nơi có nguyện vọng thành lập chi Hội.

+ Danh sách trích ngang đề cử cán bộ chi Hội.

– Ban thường vụ Hội Nông dân cấp trên trực tiếp ra quyết định công nhận hội viên, quyết định thành lập chi Hội.

– Tổ chức lễ ra mắt và công bố quyết định thành lập.

10.4- Đại hội chi Hội: Chi Hội tổ chức đại hội toàn thể hội viên hoặc đại hội đại biểu hội viên (đối với chi Hội có trên 100 hội viên trở lên) để bầu ban chấp hành và bầu đại biểu đi dự đại hội cấp trên (nếu có). Ban chấp hành tổ chức hội nghị bầu chi hội trưởng, chi hội phó.

Trường hợp chi Hội có trên 100 hội viên mà vẫn có nguyện vọng tổ chức đại hội toàn thể hoặc chi Hội có dưới 100 hội viên nhưng muốn tổ chức đại hội đại biểu thì phải được sự đồng ý của cấp uỷ cùng cấp và Hội cấp trên trực tiếp. Số lượng đại biểu dự đại hội chi Hội (nếu là đại hội đại biểu), số lượng ban chấp hành, chi hội phó của chi hội do ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp quản lý hướng dẫn trên cơ sở được sự đồng ý của cấp ủy cùng cấp và Hội cấp trên trực tiếp. Số lượng chi hội phó có thể từ 1 – 3, tùy thuộc vào quy mô tổ chức và số lượng hội viên của từng chi Hội.

Ban chấp hành chi hội, chi hội trưởng, chi hội phó phải được ban thường vụ Hội cơ sở (hoặc ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp) ra quyết định công nhận.

10.5- Chi Hội họp định kỳ 3 tháng 01 lần, khi cần thiết có thể họp bất thường, ban chấp hành chi Hội họp định kỳ 01 tháng 01 lần, khi cần thiết có thể họp bất thường.

10.6– Nhiệm kỳ của chi Hội là 05 năm. Trường hợp đặc biệt có thể tổ chức sớm hơn hoặc muộn hơn nhưng không quá 12 tháng và phải được ban chấp hành cơ sở Hội (hoặc ban thường vụ Hội cấp trực tiếp quản lý) đồng ý.

Trong nhiệm kỳ, chi Hội được bầu bổ sung ban chấp hành, kiện toàn chi hội trưởng, chi hội phó khi khuyết nhân sự và không giới hạn số lần bầu bổ sung.

10.7– Ban thường vụ hội cấp trên trực tiếp chỉ định ủy viên ban chấp hành chi hội và các chức danh chi hội trưởng, chi hội phó trong trường hợp tổ chức Hội mới được thành lập hoặc được thành lập mới do có sự thay đổi về địa giới hành chính như chia tách, sáp nhập, hợp nhất trong nhiệm kỳ; chỉ đạo xây dựng hoặc bổ sung nhiệm vụ mới cho phù hợp.

11. Điều 15: Tổ Hội

– Tổ Hội là đơn vị trực thuộc chi Hội, thành lập trên cơ sở các hội viên có cùng địa giới hành chính, điều kiện công tác, học tập, lao động, sản xuất, kinh doanh, nghề nghiệp, đơn vị kinh tế, tổ hợp tác phù hợp và thuận tiện cho việc sinh hoạt, hoạt động của chi Hội. Tổ Hội có thể thành lập trong các trường trung cấp, cao đẳng, đại học khi có đủ kiện về số lượng hội viên và được sự đồng ý của cấp ủy và ban lãnh đạo nhà trường.

Tổ Hội trong các trường trung cấp, cao đẳng, đại học, trong các nhà khoa học, trí thức trẻ có thể trực thuộc cơ sở Hội hoặc cấp huyện/cấp tỉnh/cấp trung ương quản lý.

– Tổ Hội có tổ trưởng và 1 – 2 tổ phó do hội viên bầu ra. Số lượng tổ phó do chi Hội quyết định trên sơ sở tình hình thực tế và điều kiện cụ thể của từng tổ Hội và phải được ban thường vụ Hội cơ sở (hoặc ban thường vụ Hội cấp quản lý trực tiếp) đồng ý. Tổ Hội họp 01 tháng 01 lần.

12. Điều 17: Công tác kiểm tra

Thực hiện theo Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Hội do Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam ban hành.

13. Điều 18, 19, 20: Ủy ban kiểm tra của Hội

13.1- Việc lập ủy ban kiểm tra Hội Nông dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp cơ sở và công nhận ủy ban kiểm tra:

Thực hiện theo Đề án Ủy ban kiểm tra Hội Nông dân các cấp; Hướng dẫn quy trình lập Ủy ban Kiểm tra Hội Nông dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp cơ sở nhiệm kỳ 2018 – 2023.

13.2- Về tổ chức bộ máy giúp việc ủy ban kiểm tra:

Thực hiện theo Đề án Ủy ban kiểm tra Hội Nông dân các cấp và Đề án cơ quan giúp việc Ủy ban kiểm tra Trung ương Hội Nông dân Việt Nam.

13.3- Về nhiệm vụ, quyền hạn, nguyên tắc, chế độ làm việc của ủy ban kiểm tra:

– Về nhiệm vụ, quyền hạn, nguyên tắc làm việc của ủy ban kiểm tra: Thực hiện theo Đề án Ủy ban Kiểm tra Hội Nông dân các cấp; Quy chế làm việc của Ủy ban Kiểm tra Trung ương Hội, Ủy ban Kiểm tra Hội Nông dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp cơ sở; Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Hội.

– Về chế độ làm việc của ủy ban kiểm tra: Ủy ban Kiểm tra Trung ương Hội, ủy ban kiểm tra Hội Nông dân cấp tỉnh, cấp huyện họp thường kỳ 6 tháng 1 lần, khi cần thiết thực hiện nhiệm vụ có thể họp đột xuất do thường trực ủy ban quyết định. Ủy ban kiểm tra Hội Nông dân cấp cơ sở họp thường kỳ 01 tháng 01 lần, khi cần thiết thực hiện nhiệm vụ có thể họp đột xuất do thường trực ủy ban quyết định. Thường trực ủy ban kiểm tra gồm chủ nhiệm, các phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra. Hội nghị ủy ban kiểm tra chỉ hợp lệ khi có ít nhất hai phần ba (2/3) số ủy viên ủy ban kiểm tra được triệu tập có mặt; các kết luận, quyết định của ủy ban kiểm tra phải được trên 50% số ủy viên ủy ban kiểm tra được triệu tập đồng ý.

13.4- Việc bổ sung và cho rút tên ủy viên, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra hội nông dân các cấp:

13.4.1- Bổ sung ủy viên, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra

a. Các trường hợp bầu bổ sung

– Bầu chưa đủ số lượng do hội nghị ban chấp hành quyết định.

– Khi ủy viên ủy ban kiểm tra, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra nghỉ hưu, nghỉ công tác, chuyển công tác, bị kỷ luật cách chức hoặc vì lý do cá nhân khác xin rút tên.

b. Nguyên tắc bầu bổ sung

– Bầu bổ sung ủy viên, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra phải đảm bảo đúng thành phần, cơ cấu, số lượng và tiêu chuẩn đã được hội nghị ban chấp hành thông qua.

– Trước khi bầu bổ sung uỷ viên, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra ở mỗi cấp, ban thường vụ cấp đề nghị phải có văn bản báo cáo cụ thể với ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp bằng văn bản. Đối với nhân sự chủ nhiệm ủy ban kiểm tra phải được sự đồng ý của cấp ủy cùng cấp theo quy định phân cấp quản lý cán bộ. Văn bản đề nghị kiện toàn, bổ sung cần ghi rõ lý do bổ sung.

c. Quy trình, hồ sơ kiện toàn nhân sự và công nhận kết quả bầu cử ủy viên, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra

* Quy trình

Bước 2: Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp xem xét và trả lời bằng văn bản.

Bước 3: Khi có ý kiến đồng ý của cấp ủy cùng cấp và ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp, Hội Nông dân cấp bầu bổ sung triệu tập hội nghị ban chấp hành cùng cấp và tiến hành bầu bổ sung các chức danh theo quy định.

Bước 4: Ban thường vụ Hội Nông dân cấp bầu bổ sung hoàn thiện hồ sơ trình ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định công nhận.

Bước 5: Báo cáo cấp ủy cùng cấp, ban thường vụ và ủy ban kiểm tra Hội Nông dân cấp trên.

* Hồ sơ kiện toàn

– Hồ sơ xin chủ trương kiện toàn, bổ sung nhân sự:

+ Tờ trình của ban thường vụ Hội Nông dân cấp bầu bổ sung xin chủ trương kiện toàn ủy ban kiểm tra (cần nêu rõ lý do và tình hình ủy ban kiểm tra ở thời điểm kiện toàn).

+ Danh sách trích ngang nhân sự cụ thể.

+ Đối với nhân sự là chủ nhiệm ủy ban kiểm tra phải gửi thêm lý lịch theo mẫu 2C/TCTW-98.

– Hồ sơ đề nghị công nhận các chức danh kiện toàn, bổ sung:

+ Tờ trình của ban thường vụ Hội Nông dân cấp bầu bổ sung đề nghị công nhận chức danh kiện toàn.

+ Biên bản Hội nghị ban chấp hành về việc bầu ủy viên, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra.

+ Biên bản kiểm phiếu bầu từng chức danh.

+ Danh sách trích ngang nhân sự cụ thể.

13.4.2- Bổ sung phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra

a. Các trường hợp bầu bổ sung

– Bầu chưa đủ số lượng do hội nghị ban chấp hành quyết định.

– Khi phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra nghỉ hưu, nghỉ công tác, chuyển công tác, bị kỷ luật cách chức hoặc vì lý do cá nhân khác xin rút tên.

b. Nguyên tắc bầu bổ sung

– Bầu bổ sung phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra phải đảm bảo đúng thành phần, cơ cấu, số lượng và tiêu chuẩn đã được hội nghị ban chấp hành thông qua.

– Trước khi bầu bổ sung phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra ở mỗi cấp, ủy ban kiểm tra phải có văn bản báo cáo cụ thể và được sự đồng ý của ban thường vụ cùng cấp trực tiếp bằng văn bản. Văn bản đề nghị kiện toàn, bổ sung cần ghi rõ lý do bổ sung.

c. Quy trình, hồ sơ kiện toàn nhân sự và đề nghị phê chuẩn chức danh phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra

* Quy trình

Bước 1: Khi ủy ban kiểm tra Hội Nông dân cấp nào khuyết phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra thì ủy ban kiểm tra cấp đó báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của ban thường vụ cùng cấp bằng văn bản.

Bước 2: Ban thường vụ cùng cấp căn cứ đề án ủy ban kiểm tra đã được thông qua tại hội nghị ban chấp hành, tiêu chuẩn cụ thể đối với chức danh phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra để xem xét, giới thiệu nhân sự bầu bổ sung chức danh phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra bằng văn bản.

Bước 3: Khi có văn bản của ban thường vụ cùng cấp, ủy ban kiểm tra cấp bầu bổ sung triệu tập hội nghị ủy ban kiểm tra và tiến hành bầu bổ sung chức danh theo quy định.

Bước 4: Ủy ban kiểm tra Hội Nông dân cấp bầu bổ sung hoàn thiện hồ sơ trình ban thường vụ cùng cấp phê chuẩn chức danh phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra và báo cáo ủy ban kiểm tra hội cấp trên.

* Hồ sơ đề nghị phê chuẩn chức danh phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra được kiện toàn, bổ sung:

– Tờ trình của ủy ban kiểm tra cấp bầu bổ sung đề nghị phê chuẩn chức danh kiện toàn.

– Biên bản hội nghị ủy ban kiểm tra về việc bầu phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra.

– Biên bản kiểm phiếu bầu phó chủ nhiệm.

– Danh sách trích ngang nhân sự cụ thể.

13.4.3- Việc đương nhiên không còn là ủy viên ủy ban kiểm tra; cho rút tên ủy viên ủy ban kiểm tra, thôi giữ chức danh chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra

– Uỷ viên ủy ban kiểm tra có quyết định nghỉ hưu hoặc có thông báo nghỉ công tác (kể từ thời điểm quyết định nghỉ hưu hoặc thông báo nghỉ công tác có hiệu lực thi hành) thì đương nhiên không còn là uỷ viên ủy ban kiểm tra và các chức danh khác của ủy ban kiểm tra do ban chấp hành và ủy ban kiểm tra bầu.

– Đối với chức danh chủ nhiệm ủy ban kiểm tra trước khi cho rút tên khỏi danh sách ủy ban kiểm tra phải báo cáo và được sự đồng ý của cấp ủy cùng cấp và Ban Thường vụ Hội cấp trên trực tiếp.

– Nếu rút tên khỏi chức danh ủy viên ủy ban kiểm tra thì không còn giữ chức danh chủ nhiệm, phó chủ nhiệm (nếu có). Nếu chỉ rút tên khỏi chức danh chủ nhiệm hoặc phó chủ nhiệm thì vẫn còn là ủy viên ủy ban kiểm tra.

14. Điều 21: Khen thưởng

Thực hiện theo quy định về thi đua, khen thưởng trong hệ thống Hội Nông dân Việt Nam của Ban Thường vụ Trung ương Hội.

15. Điều 22: Kỷ luật

Thực hiện theo Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Hội do Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam ban hành.

16. Điều 24: Quản lý, sử dụng tài chính của Hội

Thực hiện theo quy định của Nhà nước và quy định của Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam.

Hướng dẫn này được phổ biến trong toàn hệ thống Hội để thống nhất thực hiện. Trong quá trình thực hiện, nếu có vấn đề gì chưa phù hợp các cấp Hội đề xuất, phản ánh về Trung ương Hội. Ban Chấp hành giao Ban Thường vụ Trung ương Hội xem xét sửa đổi, hướng dẫn bổ sung./.

T/M BAN CHẤP HÀNH

CHỦ TỊCH

Nơi nhận:

– Thường trực Ban Bí thư (để báo cáo);

– Văn phòng Tổng Bí thư (để giúp đỡ);

– Văn phòng TW Đảng và các ban của Đảng (để giúp đỡ);

– Đảng ủy Khối các cơ quan TW (để giúp đỡ);

– Các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc TW (để giúp đỡ); Thào Xuân Sùng

– Các tỉnh, thành Hội (để chỉ đạo thực hiện);

– Các ban, đơn vị TW Hội (để chỉ đạo thực hiện);

– Các đ/c Uỷ viên BCH TW Hội (để chỉ đạo thực hiện);

– Lưu VP, BTC.

Hội Nông Dân Tỉnh Bắc Giang / 2023

Ngày 11/5/2018, Đảng đoàn Hội Nông dân Việt Nam ban hành Kế hoạch số 17-KH/ĐĐ-HNDVN triển khai thực chiện Chỉ thị số 18-CT/TW, ngày 10/01/2018 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo trong tình hình mới”, trong đó tập trung vào một số nội dung, giải pháp sau:

* Nội dung:

-Thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách và các chương trình phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của hội viên, nông dân, chú trọng tới các vùng có đông hội viên, nông dân có tôn giáo, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

– Tuyền truyền thực hiện tốt Luật Tín ngưỡng, tôn giáo tới hội viên, nông dân có tôn giáo. Đổi mới nội dung, phương thức vận động, tuyên truyền, đa dạng hóa các hình thức thông tin của Hội phù hợp với vùng trọng điểm về tôn giáo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số để hội viên, nông dân có tôn giáo nắm chắc, hiểu sâu về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về tôn giáo. Phát huy nguồn lực tôn giáo đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng; đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, sống “tốt đời, đẹp đạo” trong hội viên, nông dân có tôn giáo.

Sắp xếp hợp lý, kiện toàn tổ chức bộ máy Hội Nông dân, tăng cường cán bộ Hội làm công tác tôn giáo, quan tâm bố trí cán bộ Hội làm công tác tôn giáo ở vùng có đông hội viên, nông dân có tôn giáo; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ công tác Hội, công tác tôn giáo đế đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thực tiễn của địa phương.

– Tham gia đảm bảo an ninh – quốc phòng, giữ vững trật tự, an toàn xã hội trong vùng tôn giáo; chủ động, kịp thời đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để kích động chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia, chống đối Đảng, Nhà nước và chế độ.

* Giải pháp:

– Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động tới hội viên, nông dân có tôn giáo. Tổ chức học tập và thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo như: Nghị quyết 25 – NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo; Chỉ thị 18 – CT/TW; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; Nghị định số 162/2017 NĐ – CP, ngày 30/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo; tiếp tục thực hiện Kết luận sổ 123 – KL/HNDTW ngày 23/02/2011 về “đẩy mạnh công tác Hội và phong trào nông dân vùng đồng bào có đạo”.

Tuyên truyền, vận động chức sắc, chức việc, tín đồ các tôn giáo thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về tôn giáo và công tác tôn giáo. Tăng cường đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên, nông dân là tín đồ các tôn giáo tham gia giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện về đất đai, cơ sở thờ tự của các tôn giáo, không để xảy ra “điểm nóng” về tôn giáo.

– Tập hợp, đoàn kết, phát triển hội viên nông dân có tôn giáo vào tổ chức Hội; xây dựng Hội vững mạnh toàn diện; tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh. Chú trọng công tác phát triển đảng viên là người có đạo, gắn với công tác xây dựng và phát huy hiệu quả vai trò của lực lượng cốt cán trong tôn giáo làm nòng cốt cho các phong trào thi đua yêu nước trong vùng tôn giáo.

– Tập trung nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của hội viên, nông dân có tôn giáo, đặc biệt quan tâm hội viên ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thực hiện tốt 3 phong trào thi đua do Trung ương Hội Nông dân Việt Nam phát động: “Phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững”; “Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới”; “Phong trào nông dân tham gia bảo đảm quốc phòng, an ninh”; gắn với các phong trào thi đua của các tôn giáo và các phong trào phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương.

– Đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết số 34- NQ/HNDTW ngày 26/7/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân về việc thực hiện 3 nhiệm vụ trọng tâm: bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nông dân; tổ chức các hoạt động tư vấn, hỗ trợ, dịch vụ và đào tạo nghề giúp nông dân có điều kiện phát triển sản xuất, kinh doanh nâng cao thu nhập và đời sống; xây dựng phát triển mô hình kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Các Cấp Hội Nông Dân Trong Tỉnh Tăng Cường Và Đổi Mới Công Tác Tuyên Truyền, Vận Động Nông Dân Trong Tình Hình Mới – Hội Nông Dân Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!