Đề Xuất 11/2022 # Bộ Chính Trị Ban Hành Kết Luận Về Công Tác Dân Tộc Trong Tình Hình Mới / 2023 # Top 20 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 11/2022 # Bộ Chính Trị Ban Hành Kết Luận Về Công Tác Dân Tộc Trong Tình Hình Mới / 2023 # Top 20 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bộ Chính Trị Ban Hành Kết Luận Về Công Tác Dân Tộc Trong Tình Hình Mới / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

.

Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng vừa ký ban hành Kết luận số 65 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới.

Kết luận nêu rõ: Qua hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết, công tác dân tộc có nhiều chuyển biến tích cực, đạt được nhiều thành tựu toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc, đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, củng cố lòng tin của đồng bào dân tộc thiểu số đối với Đảng, Nhà nước…

Bên cạnh những thành tựu, công tác dân tộc còn không ít khuyết điểm, hạn chế. Đến nay, chưa thực hiện được một số mục tiêu quan trọng Nghị quyết đã đề ra. Kết quả thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu, cấp bách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là ở khu vực Tây Bắc, Tây nguyên, Tây Nam bộ và Tây duyên hải miền Trung chuyển biến chậm. So với sự phát triển chung của cả nước và từng địa phương, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều khó khăn, kinh tế – xã hội phát triển chậm; tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo và nguy cơ tái nghèo cao; khoảng cách giàu – nghèo có xu hướng gia tăng. Hủ tục, tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan chậm được khắc phục; còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Do đó, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể nhân dân các cấp tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX nhằm phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chú trọng 8 nội dung:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức Đảng về công tác dân tộc, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong tình hình mới. Kiên trì thực hiện các quan điểm của Đảng về công tác dân tộc trong Nghị quyết 24 và các nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, XI, XII; xác định công tác dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, cấp bách; là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của hệ thống chính trị.

Ba là, phát huy mọi nguồn lực, khai thác tiềm năng, lợi thế để phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; bảo đảm quốc phòng – an ninh; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc. Tập trung giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức thiết. Thúc đẩy đào tạo nghề, tạo việc làm, nâng cao hiệu quả và mở rộng vốn tín dụng ưu đãi đối với các dự án phát triển sản xuất, kinh doanh…

Bốn là, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, phát huy thế mạnh của địa phương, phù hợp với văn hóa, tập quán từng dân tộc. Tập trung giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt và tranh chấp, khiếu kiện về đất đai; đẩy nhanh việc hoàn thành các dự án định canh, định cư mới gắn với quy hoạch sắp xếp, ổn định dân cư, hạn chế và tiến tới chấm dứt tình trạng di cư tự phát. Đến năm 2025, giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở cho đồng bào. Ưu tiên nguồn lực nhà nước để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội. Phấn đấu đến năm 2030 không còn địa bàn khó khăn…

Năm là, phát triển đồng bộ các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Sáu là, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận lòng dân vững chắc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chủ động nắm chắc tình hình, giải quyết những mâu thuẫn ngay từ cơ sở, kiên quyết không để xảy ra các “điểm nóng”, “điểm phức tạp” về an ninh trật tự, đặc biệt ở các địa bàn chiến lược Tây Bắc, Tây nguyên, Tây Nam bộ, Tây duyên hải miền Trung. Chủ động đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật, buôn bán người, ma túy, xâm phạm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nhất là ở khu vực biên giới. Tăng cường quan hệ hợp tác, đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân vùng biên giới…

Bảy là, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân, đội ngũ cán bộ cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tập trung phát triển nguồn nhân lực và xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số…

Tám là, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Đổi mới mô hình tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc nhằm bảo đảm đồng bộ, thống nhất, tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới…

Lâm Viên

Bộ Chính Trị Ban Hành Kết Luận Số 65 / 2023

1. Qua hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết, công tác dân tộc có nhiều chuyển biến tích cực, đạt được nhiều thành tựu toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc, đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, củng cố lòng tin của đồng bào dân tộc thiểu số đối với Đảng, Nhà nước.

Các cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể các cấp đã cụ thể hoá thực hiện Nghị quyết phù hợp với điều kiện của địa phương, đơn vị. Nhà nước đã ban hành chính sách, pháp luật, bố trí nguồn lực để phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tăng cường vận động, tuyên truyền, động viên đồng bào dân tộc thiểu số tích cực tham gia các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, phát huy nội lực để phát triển kinh tế, cải thiện và nâng cao cuộc sống, đóng góp vào sự nghiệp phát triển đất nước.

Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội được quan tâm đầu tư, góp phần tạo diện mạo mới cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số được cải thiện rõ nét. Sự nghiệp giáo dục – đào tạo và chăm sóc sức khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ; các giá trị văn hoá dân tộc truyền thống được bảo tồn và phát huy. Quyền bình đẳng giữa các dân tộc cơ bản được bảo đảm; đoàn kết giữa các dân tộc tiếp tục được củng cố. Hệ thống chính trị cơ sở ở vùng dân tộc, miền núi được tăng cường, đội ngũ cán bộ được kiện toàn, đáp ứng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ. Quốc phòng, an ninh, chính trị được giữ vững, ổn định.

2. Bên cạnh những thành tựu nêu trên, công tác dân tộc còn không ít khuyết điểm, hạn chế. Đến nay, chưa thực hiện được một số mục tiêu quan trọng Nghị quyết đã đề ra. Kết quả thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu, cấp bách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là ở khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây duyên hải miền Trung chuyển biến chậm. So với sự phát triển chung của cả nước và từng địa phương, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều khó khăn, kinh tế – xã hội phát triển chậm; tỉ lệ hộ nghèo, cận nghèo và nguy cơ tái nghèo cao; khoảng cách giàu – nghèo có xu hướng gia tăng. Hủ tục, tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan chậm được khắc phục; còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

3. Khuyết điểm và hạn chế nêu trên có nguyên nhân khách quan, song chủ yếu là nguyên nhân chủ quan:

– Một số cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền chưa nhận thức đầy đủ về công tác dân tộc, thiếu sâu sát trong lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc thực hiện Nghị quyết; chưa quan tâm đúng mức đến công tác tạo nguồn quy hoạch, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số.

– Chính sách, pháp luật được ban hành chủ yếu là hỗ trợ, chưa ưu tiên tập trung đầu tư phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

– Chưa chú trọng đúng mức phát huy tiềm năng, lợi thế, văn hoá của từng vùng, từng dân tộc; chưa thúc đẩy việc kết nối giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi với vùng phát triển; một số chính sách chưa tạo động lực cho đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên, tự lập trong cuộc sống.

– Cơ chế điều hành, phân công trách nhiệm giữa các cơ quan, tổ chức chưa rõ ràng, thiếu chặt chẽ trong việc thực hiện các chương trình, dự án. Cơ chế phân cấp, phân quyền để tạo chủ động cho chính quyền địa phương chưa hợp lý; quy trình thủ tục đầu tư công chưa phù hợp với điều kiện, đặc điểm của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là vùng đặc biệt khó khăn. Công tác phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong thực hiện công tác dân tộc thiếu thống nhất; một bộ phận cán bộ làm công tác dân tộc, cán bộ vùng dân tộc thiểu số và miền núi chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

4. Bộ Chính trị yêu cầu các cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể nhân dân các cấp tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá IX nhằm phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chú trọng các nội dung sau đây:

4.1. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp uỷ, tổ chức đảng về công tác dân tộc, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong tình hình mới. Kiên trì thực hiện các quan điểm của Đảng về công tác dân tộc trong Nghị quyết 24 và các nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, XI, XII; xác định công tác dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, cấp bách; là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của hệ thống chính trị.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; tăng cường đồng thuận xã hội; củng cố lòng tin của đồng bào với Đảng và Nhà nước, phát huy nội lực, vượt qua khó khăn, thách thức, hoà nhập phát triển cùng với đất nước.

4.3. Phát huy mọi nguồn lực, khai thác tiềm năng, lợi thế để phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; bảo đảm quốc phòng – an ninh; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá tốt đẹp của các dân tộc. Tập trung giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức thiết. Rà soát, lồng ghép, sửa đổi, bổ sung chính sách; nâng cao hiệu quả các chương trình, dự án; tăng cường hợp tác quốc tế, đa dạng hoá và xã hội hoá nguồn lực để đầu tư phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Thúc đẩy đào tạo nghề, tạo việc làm, nâng cao hiệu quả và mở rộng vốn tín dụng ưu đãi đối với các dự án phát triển sản xuất, kinh doanh.

4.4. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá, phát huy thế mạnh của địa phương, phù hợp với văn hoá, tập quán từng dân tộc. Hình thành và phát triển các vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao; nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả, tạo sản phẩm đặc sản, giá trị cao. Chú trọng phát triển liên vùng, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các vùng. Quan tâm phát triển du lịch, nhất là du lịch sinh thái, gắn kết du lịch với giữ gìn, phát huy giá trị văn hoá các dân tộc thiểu số.

Tập trung giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt và tranh chấp, khiếu kiện về đất đai; đẩy nhanh việc hoàn thành các dự án định canh, định cư mới gắn với quy hoạch sắp xếp, ổn định dân cư, hạn chế và tiến tới chấm dứt tình trạng di cư tự phát. Đến năm 2025, giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở cho đồng bào. Điều chỉnh cơ chế, chính sách, định mức khoán bảo vệ rừng, tạo sinh kế cho người dân sống gần rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, không gian sinh sống của đồng bào.

Ưu tiên nguồn lực nhà nước để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, nhất là đường giao thông, công trình thuỷ lợi, chợ, trường học, trạm y tế, nhà văn hoá phải được kiên cố hoá; bảo đảm các hộ gia đình dân tộc thiểu số được sử dụng điện lưới quốc gia, dịch vụ phát thanh, truyền hình, viễn thông, tiếp cận công nghệ thông tin phục vụ nhu cầu sản xuất, sinh hoạt. Ban hành tiêu chí nông thôn mới phù hợp với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Phấn đấu đến năm 2030 không còn địa bàn khó khăn.

4.5. Phát triển đồng bộ các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Nâng cao chất lượng công tác giáo dục và đào tạo đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Giữ vững và phát huy thành quả xoá mù chữ, phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở. Nâng cao chất lượng và mở rộng hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú; hỗ trợ việc ăn, ở cho học sinh, sinh viên vùng địa bàn đặc biệt khó khăn.

Đổi mới phương thức tuyển sinh theo hướng cử tuyển, chế độ dự bị đại học, đào tạo nghề cho đối tượng người dân tộc thiểu số. Có chính sách giải quyết việc làm đối với thanh niên dân tộc thiểu số sau khi tốt nghiệp đại học, cao đẳng và đào tạo nghề; có cơ chế chăm lo đời sống cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Nâng cao tỉ lệ khám, chữa bệnh và chất lượng các dịch vụ y tế, nhất là khám, chữa bệnh ban đầu ở tuyến cơ sở; phát triển y học dân tộc kết hợp với y học hiện đại; đẩy mạnh phát triển y tế dự phòng; thực hiện các giải pháp đồng bộ. Tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận dịch vụ y tế, khám, chữa bệnh ở tuyến Trung ương thông qua chính sách bảo hiểm y tế.

Có biện pháp triển khai đầy đủ, kịp thời các chương trình tiêm chủng mở rộng, dinh dưỡng và an toàn thực phẩm. Xây dựng và thực hiện chiến lược về phòng, chống suy dinh dưỡng ở trẻ em, nâng cao sức khoẻ, tầm vóc thanh, thiếu niên dân tộc thiểu số. Quan tâm đào tạo, phát triển nguồn nhân lực y tế, có cơ chế đào tạo cán bộ có trình độ chuyên sâu là đồng bào dân tộc thiểu số ở địa phương.

Nâng cao mức hưởng thụ văn hoá của người dân. Đầu tư xây dựng hệ thống thiết chế văn hoá cơ sở ở từng vùng, từng địa phương; quan tâm tu bổ, bảo tồn các công trình di tích lịch sử, văn hoá; sưu tầm, bảo tồn và phát huy có hiệu quả giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể của các dân tộc thiểu số. Phát huy vai trò làm chủ của đồng bào trong xây dựng đời sống văn hoá, xoá bỏ các hủ tục lạc hậu. Có biện pháp quyết liệt để xoá bỏ tình trạng tảo hôn, chấm dứt sớm hôn nhân cận huyết thống.

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và thực hiện nghiêm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Phát huy vai trò tích cực của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số. Đấu tranh với các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

4.6. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận lòng dân vững chắc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chủ động nắm chắc tình hình, giải quyết những mâu thuẫn ngay từ cơ sở, kiên quyết không để xảy ra các “điểm nóng”, “điểm phức tạp” về an ninh trật tự, đặc biệt ở các địa bàn chiến lược Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây duyên hải miền Trung. Chủ động đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật, buôn bán người, ma tuý, xâm phạm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nhất là ở khu vực biên giới. Tăng cường quan hệ hợp tác, đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân vùng biên giới.

4.7. Nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân, đội ngũ cán bộ cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tăng cường phát triển đảng viên là người dân tộc thiểu số và khắc phục tình trạng không có tổ chức đảng và đảng viên ở các thôn, bản, nhất là đảng viên là người dân tộc thiểu số ở những vùng trọng điểm, vùng đặc biệt khó khăn, vùng biên giới. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, tăng cường hoạt động của các mô hình tự quản tại cộng đồng; biểu dương, tôn vinh, động viên người tiêu biểu có uy tín, doanh nhân, nhà khoa học trong cộng đồng các dân tộc thiểu số có nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tập trung phát triển nguồn nhân lực và xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số. Người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị phải chịu trách nhiệm về quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng hợp lý đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; có giải pháp cụ thể, hiệu quả để bảo đảm tỉ lệ cán bộ dân tộc thiểu số trong cấp uỷ và các cơ quan dân cử các cấp. Có chính sách đặc thù tuyển dụng công chức, viên chức đối với dân tộc thiểu số rất ít người, nhóm dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn. Chú trọng phát hiện, quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và thực hiện tốt chính sách tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ cán bộ là người dân tộc thiểu số.

Có cơ chế để phụ nữ dân tộc thiểu số tiếp cận tốt hơn dịch vụ công, dịch vụ xã hội thiết yếu. Quan tâm tạo nguồn cán bộ nữ dân tộc thiểu số; hỗ trợ nâng cao năng lực để tham gia vị trí quản lý lãnh đạo trong các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị.

5. Tổ chức thực hiện

– Các cấp uỷ, tổ chức đảng từ Trung ương đến các địa phương, cơ sở vùng dân tộc thiểu số và miền núi có trách nhiệm phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện tốt Nghị quyết số 24-NQ/TW và Kết luận này.

– Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo xây dựng “Đề án tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi” và “Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển bền vững kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030″.

– Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo việc rà soát, kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, ổn định, tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động; hoàn thiện chính sách đối với cán bộ làm công tác dân tộc, nhất là cán bộ công tác ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Tăng Cường Công Tác Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ Quân Đội Trong Tình Hình Mới / 2023

Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội trong tình hình mới

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội là một nội dung công tác đảng, công tác chính trị; khâu cơ bản, quan trọng của công tác bảo vệ an ninh Quân đội, góp phần bảo đảm cho Quân đội luôn vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện tốt hơn nữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội thời gian qua được cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện chặt chẽ, hiệu quả theo đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của Quân đội. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội được đẩy mạnh. Tích cực, chủ động đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; bảo đảm bí mật, an toàn cho mọi hoạt động, hiệu quả công tác quản lý tình hình chính trị nội bộ của các đơn vị được nâng cao. Công tác thẩm tra, xác minh, thẩm định, kết luận về tiêu chuẩn chính trị, nhất là vấn đề chính trị hiện nay đối với cán bộ, đảng viên được tiến hành chặt chẽ, có chất lượng tốt. Kịp thời phát hiện, xử lý các vi phạm, làm trong sạch nội bộ phục vụ công tác chuẩn bị nhân sự đại hội đảng các cấp trong Đảng bộ Quân đội tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng,… góp phần quan trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Tuy nhiên, công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội thời gian qua vẫn còn những điểm tồn tại, hạn chế. Nhận thức về yêu cầu, nhiệm vụ công tác bảo vệ chính trị nội bộ của một số cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị chưa đầy đủ, sâu sắc; chất lượng nắm, quản lý tình hình chính trị nội bộ, quản lý con người còn hạn chế; thực hiện các quy định về bảo vệ bí mật Nhà nước, bí mật quân sự có lúc, có nơi vẫn còn sơ hở, mất cảnh giác.

Đại tướng Lương Cường phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Tổng kết công tác Bảo vệ an ninh Quân đội năm 2019, triển khai nhiệm vụ 2020. Ảnh: qdnd.vn

Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang đứng trước những thời cơ, thuận lợi và cả khó khăn, thách thức đan xen. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, cán bộ; chúng gia tăng các hoạt động móc nối, cài cắm vào nội bộ, thu thập tình báo trên các lĩnh vực trọng yếu, cơ mật,… nhất là trong dịp chuẩn bị nhân sự đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới công tác bảo vệ an ninh Quân đội nói chung, công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội nói riêng cần tập trung thực hiện tốt những nội dung sau:

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, sự quản lý của cán bộ chủ trì các cấp đối với công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Thấm nhuần lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “… Chúng do thám tỉ mỉ về tình hình quân sự, chính trị và kinh tế của ta. Để làm gì? Để chúng tìm cách phá hoại! Để ngăn chặn âm mưu của kẻ địch, thì cán bộ, bộ đội và nhân dân ta cần phải luôn luôn nâng cao cảnh giác. Đó là một nghĩa vụ quan trọng mà mọi người công dân phải làm trọn để chống lại âm mưu của đế quốc và bè lũ tay sai, để bảo vệ nhân dân và bảo vệ Tổ quốc”1. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải coi công tác bảo vệ chính trị nội bộ là nội dung quan trọng trong nghị quyết lãnh đạo của cấp ủy, chi bộ, kế hoạch hoạt động của chính ủy, chính trị viên và người chỉ huy. Bám sát các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của trên, sự phát triển của yêu cầu nhiệm vụ, tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn để bổ sung, hoàn thiện nội dung, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo phù hợp. Cấp có thẩm quyền cần nghiên cứu, ban hành các quy chế, quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ sát với đặc điểm, tình hình nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị; triển khai toàn diện, đồng bộ các nội dung, biện pháp bảo đảm chặt chẽ, nền nếp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ ở từng cơ quan, đơn vị và toàn quân. Thường xuyên nắm vững tình hình, dự báo chính xác những vấn đề có thể xảy ra, kịp thời có phương án xử lý hiệu quả, không để bị động, bất ngờ về chính trị trong mọi tình huống. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện, ngăn chặn kịp thời những biểu hiện lệch lạc về nhận thức, tư tưởng và hành động; phát huy vai trò nêu gương, tiền phong, gương mẫu về lời nói cũng như việc làm, nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Quá trình thực hiện, cấp ủy, chỉ huy các cấp chú trọng gắn chặt hoạt động lãnh đạo của tổ chức đảng với công tác quản lý, điều hành của cán bộ chủ trì và tinh thần tích cực, tự giác của cán bộ, đảng viên, bảo đảm trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, công tác bảo vệ chính trị nội bộ luôn đạt hiệu quả thiết thực, góp phần giữ vững ổn định chính trị nội bộ cơ quan, đơn vị.

Bốn là, thường xuyên nắm và quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nhất là vấn đề chính trị hiện nay của cán bộ, đảng viên. Cấp ủy, chỉ huy các cấp duy trì nghiêm nền nếp chế độ quản lý, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên; chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động xâm nhập, cài cắm, móc nối, lôi kéo, mua chuộc, khống chế hoạt động và thu thập tin tức tình báo của nước ngoài. Trong đó, lấy phòng ngừa, ngăn chặn, triệt tiêu các nguy cơ từ gốc là nhiệm vụ cơ bản; lấy đấu tranh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Phải nắm chắc tình hình, nhận diện, phân loại đối tượng, xác định nội dung, hình thức và phương pháp đấu tranh phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ hiện nay. Đồng thời, duy trì nghiêm chế độ báo cáo, trao đổi, giao ban, rút kinh nghiệm, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện; khắc phục mọi biểu hiện chủ quan, mất cảnh giác, sơ hở, để kẻ địch, phần tử xấu tác động, lôi kéo, phá hoại nội bộ. Để đạt hiệu quả, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị cần nghiên cứu, ban hành các quy chế, quy định, triển khai toàn diện, đồng bộ các nội dung, biện pháp bảo vệ chính trị nội bộ, trong xét duyệt tiêu chuẩn chính trị đối với các đối tượng.

Sáu là, xây dựng cơ quan và đội ngũ cán bộ chuyên trách vững mạnh, thực sự là lực lượng nòng cốt trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Cấp ủy các cấp cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng cơ quan bảo vệ an ninh có tổ chức bộ máy tinh, gọn, mạnh, hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, giữ vững nguyên tắc, linh hoạt, nhạy bén trong xử lý các tình huống, thực hiện tốt chức năng tham mưu cho cấp ủy, cán bộ chủ trì về công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Thường xuyên quan tâm đào tạo, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức, lối sống tốt, trung thực, tận tụy với công việc, không ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh; có phương pháp, tác phong công tác tốt; nắm chắc luật pháp, tinh thông về nghiệp vụ, thực sự là nòng cốt, chuyên trách bảo vệ an ninh ở đơn vị. Việc sắp xếp cán bộ bảo vệ an ninh phải đúng khả năng, sở trường của từng người; tăng cường công tác tập huấn, sơ kết, tổng kết, nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ tham mưu, hướng dẫn về công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong toàn quân. Đồng thời, tạo điều kiện cho cán bộ rèn luyện thực tế ở cơ sở, trau dồi kinh nghiệm thực tiễn, phát huy năng lực, sở trường trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ.

Trước yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ chế độ và Quân đội trong tình hình mới, công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội phải được cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ; không ngừng đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng công tác theo đúng yêu cầu mà Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương đã đề ra. Thực hiện tốt nhiệm vụ này, không chỉ góp phần quan trọng vào việc tổ chức thành công đại hội đảng ở các cấp tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng mà còn bảo đảm an ninh, an toàn trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội, thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thân yêu của chúng ta.

Đại tướng Lương Cường, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam Theo Tạp chí Quốc phòng toàn dân Phương Thành (st)

1. Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 12, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 389.

Vai Trò Công Tác Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ Trong Tình Hình Hiện Nay / 2023

Trong thời gia qua cấp ủy đảng các cấp từ tỉnh đến cơ sở đã quan tâm chỉ đạo công tác Bảo vệ chính trị nội bộ. Tuy nhiên, trước những diễn biến của tình hình trong nước và quốc tế, công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong giai đoạn hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề phải quan tâm giải quyết, đó là:

Thứ nhất: Bảo vệ chính trị nội bộ là vấn đề sống còn của chế độ, gắn liền với vận mệnh và vai trò lãnh đạo của Đảng, là một nhiệm vụ quan trọng có tính chiến lược lâu dài trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng, là trách nhiệm của các cấp uỷ, các tổ chức Đảng và toàn thể đảng viên, do đó, phải thực hiện đúng quan điểm của Đảng, bảo đảm kịp thời, khách quan, toàn diện, đề cao tinh thần trách nhiệm, vì sinh mệnh chính trị của cán bộ, đảng viên và sự trong sạch của nội bộ Đảng.

Thứ hai: Phải xuất phát từ nhiệm vụ và phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng; gắn công tác Bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh; giữ vững lập tr­ường chủ nghĩa Mác – Lênin, t­ư tưởng Hồ Chí Minh gắn với tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của Đảng.

Thứ ba: Trong mối quan hệ giữa yếu tố bên trong với bên ngoài thì yếu tố bên trong, nội bộ là cơ bản, quyết định. Cần đề phòng sai lầm về đ­­­­­ường lối, chủ trương, chính sách, coi việc phòng chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội chính trị và vi phạm nguyên tắc tổ chức Đảng là cực kỳ quan trọng. 

Thứ t­ư: Tích cực, chủ động phòng ngừa, tự bảo vệ mình là chính; xử lý kịp thời, nghiêm minh những cán bộ, đảng viên thoái hoá biến chất về chính trị; coi trọng phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả mọi âm m­ưu, hoạt động phá hoại nội bộ của các thế lực thù địch, chống đối.

Thứ năm: Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp và đội ngũ cán bộ tham m­ưu chiến l­ược, đặc biệt những ng­ười đứng đầu tổ chức đảng các cấp.

Thứ sáu: Bảo vệ chính trị nội bộ phải có sự phối kết hợp để phát huy sức mạnh của toàn Đảng và hệ thống chính trị trong công tác quan trọng này; kết hợp hoạt động của tổ chức đảng với hoạt động tích cực của nhân dân tham gia xây dựng Đảng.

Thứ bảy: Quy định của Bộ Chính trị về Bảo vệ chính trị nội bộ Đảng là căn cứ, là cơ sở để xem xét, kết luận về chính trị của cán bộ, đảng viên; phải thực hiện nghiêm túc, thống nhất; khắc phục tình trạng giản đơn, vận dụng tùy tiện hoặc máy móc, thành kiến, hẹp hòi.

Để thực hiện tốt công tác Bảo vệ chính trị nội bộ, Đảng đã đề ra quan điểm chỉ đạo được thể hiện trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đó là: “Nhiệm vụ trọng tâm của công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong giai đoạn hiện nay là bảo vệ Cương lĩnh, Điều lệ Đảng; bảo vệ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; bảo vệ Hiến pháp và pháp luật; bảo vệ cán bộ, đảng viên về mặt chính trị..”. Gắn công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn những hiện tượng cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, gây mất đoàn kết trong Đảng. Xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, nhất là phát ngôn, tuyên truyền, tán phát tài liệu trái Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch”.

Trên cơ sở quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với công tác Bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình hiện nay như đã nêu trên, nhiệm vụ chủ yếu, trọng tâm của công tác Bảo vệ chính trị nội bộ cần tăng cường chỉ đạo, thực hiện tốt các nội dung sau:

Một là, tiếp tục quán triệt và nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về công tác Bảo vệ chính trị nội bộ; đẩy mạnh việc giáo dục, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức cảnh giác cách mạng cho cán bộ, đảng viên;

Hai là, công tác Bảo vệ chính trị nội bộ phải góp phần tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”;

Ba là, thực hiện nghiêm các quy định của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ; tất cả các trường hợp trước khi tiếp nhận, giới thiệu quy hoạch, bổ nhiệm… phải được thẩm định và kết luận về tiêu chuẩn chính trị. Những trường hợp có vấn đề về chính trị, phải được thẩm tra, xác minh và có kết luận;

Bốn là, tăng cường quản lý cán bộ, đảng viên ra nước ngoài và quan hệ, tiếp xúc với tổ chức, cá nhân nước ngoài;

Năm là, thường xuyên rà soát chính trị nội bộ, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và có biện pháp xử lý, sử dụng phù hợp đối với những trường hợp có vấn đề về chính trị;

Sáu là, tăng cường quản lý thông tin, tài liệu, giữ gìn bí mật nội bộ, bí mật quốc gia; đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, đấu tranh với các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch;

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bộ Chính Trị Ban Hành Kết Luận Về Công Tác Dân Tộc Trong Tình Hình Mới / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!