Đề Xuất 12/2022 # Báo Cáo Đánh Giá 10 Năm Thực Hiện Chính Sách Bảo Hiểm Thất Nghiệp / 2023 # Top 14 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Báo Cáo Đánh Giá 10 Năm Thực Hiện Chính Sách Bảo Hiểm Thất Nghiệp / 2023 # Top 14 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Báo Cáo Đánh Giá 10 Năm Thực Hiện Chính Sách Bảo Hiểm Thất Nghiệp / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

BÁO CÁOĐánh giá 10 năm thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp

Trong những năm qua, Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Tĩnh đã từng bước đẩy mạnh công tác tư vấn, tiếp nhận và giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp cho người lao động, thực hiện tư vấn giới thiệu việc làm, hỗ trợ học nghề cho 100% lao động lần đầu khi đến Trung tâm và trong suốt quá trình hưởng trợ cấp thất nghiệp. Công tác tiếp nhận và giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp được thực hiện theo quy trình chuẩn từ khâu tiếp nhận hồ sơ, xem xét và ban hành quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, theo dõi tình hình thông báo tìm việc làm hàng tháng, tư vấn, giới thiệu việc làm, hỗ trợ học nghề cho người thất nghiệp. Số liệu tiếp nhận và giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp từ ngày 01/01/2010 đến 30/04/2019 như sau: 3. Tư vấn, giới thiệu việc làm, học nghề:Để thực hiện tốt chính sách bảo hiểm thất nghiệp, trong những năm qua, Trung tâm đã tập trung nâng cao chất lượng công tác tư vấn, giới thiệu việc làm, giải pháp đầu tiên và quan trọng được Trung tâm đưa ra là đẩy mạnh công tác tư vấn, thông tin tuyên truyền. Bên cạnh các hình thức tuyên truyền như: Treo băng rôn, cờ phướn, đăng truyền hình, phát thông báo…Trung tâm tập trung các hình thức tuyên truyền đó là: tổ chức các phiên sàn giao dịch việc làm cố định và lưu động tại các địa phương, mời các doanh nghiệp lớn về tuyển dụng tại Sàn để thu hút lượng lớn lao động tham gia phỏng vấn( có những phiên giao dịch việc làm thu hút đến 1.000 người tham dự) và tổ chức các hội nghị, hội thảo thông tin tuyên truyền tận các xã trên địa bàn toàn tỉnh và tập trung tư vấn cho lao động thất nghiệp ngay khi đến làm chế độ và trong cả quá trình hưởng chế độ.Tất cả lao động đến tham gia đều được tư vấn đầy đủ về các chế độ, chính sách thông qua tư vấn tập thể, sau đó căn cứ nhu cầu của lao động, mỗi lao động sẽ được tư vấn từng lĩnh vực phù hợp với nguyện vọng của lao động.Kết quả tư vấn giới thiệu việc làm cho lao động như sau:

Đặc biệt, thực hiện công văn 671/CVL-TTLĐ ngày 30/6/2017 của Cục Việc làm về xây dựng mô hình giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động, Trung tâm đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh công tác tư vấn, giới thiệu việc làm theo quy trình mới, theo đó có bộ phận tư vấn ban đầu, bộ phận xử lý, giải quyết hồ sơ, trả kết quả cho lao động, đảm bảo thuận lợi nhất cho lao động khi đến liên hệ, giao dịch. Với việc thực hiện theo mô hình mới đã tạo điều kiện rất thuận tiện cho việc đi lại của người lao động, việctổ chức tư vấn chế độ chính sách, việc làm, học nghề cho người lao động trước khi có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp vàtư vấn, giới thiệu việc làm thường xuyên trong suốt thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động.4. Hỗ trợ học nghề:– Hỗ trợ học nghề đối với người lao động: Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Tĩnh đã đẩy mạnh công tác tư vấn học nghề, giúp người lao động có thể hiểu rõ các điểm mạnh, điểm yếu của bản thân, nhu cầu của người sử dụng lao động, nhu cầu của thị trường lao động… qua đó đã góp phần định hướng nghề nghiệp phù hợp cho người thất nghiệp. Trung tâm đã tăng cường công tác phối hợp với các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh, tư vấn cho người lao động những ngành nghề mà nhu cầu thị trường đang cần, để kết thúc khóa học nghề người lao động dễ dàng tìm kiếm được việc làm.Kết quả cụ thể như sau:

Luật Bảo Hiểm Thất Nghiệp 2022 / 2023

Luật bảo hiểm thất nghiệp 2019 mới nhất quy định các chế độ đối với người thất nghiệp – thay thế các quy định của luật Bảo hiểm xã hội, gồm: trợ cấp thất nghiệp; hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm; hỗ trợ học nghề, đồng thời, bổ sung chế độ hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động.

Luật quy định cụ thể về điều kiện, trình tự, thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp theo hướng tiếp thu, kế thừa các quy định hiện hành và sửa đổi, bổ sung các quy định mới đảm bảo phù hợp hơn, tiến bộ hơn (như việc sửa đổi quy định về mức hỗ trợ của Nhà nước theo hướng nhà nước hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp căn cứ tình hình kết dư Quỹ từng thời kỳ).

Tìm hiểu Luật bảo hiểm thất nghiệp mới nhất

Bảo hiểm thất nghiệp là gì ?

là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

Năm 2009, cả nước chỉ có hơn 5,9 triệu người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp (BHTN). Nhưng tới năm 2018, con số trên đã nâng lên hơn 12,6 triệu người lao động tham gia (tăng 7,7% so với năm 2017) với 361.000 đơn vị đăng ký BHTN. ( Báo Dân Trí ) 

Các văn bản pháp luật quy định luật việc làm về bảo hiểm thất nghiệp

2. Nghị định 30/2016/NĐ-CP uy định chi tiết hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp

3. Nghị định 61/2015/NĐ-CP quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và quỹ quốc gia về việc làm

4. Nghị định 31/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật việc làm về đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

5. Nghị định 28/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật việc làm về bảo hiểm thất nghiệp

Đề tìm hiểu luật bảo hiểm này  có từ năm nào ?

NỘI DUNG LUẬT BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 2019

MỤC 1. NGUYÊN TẮC, ĐỐI TƯỢNG, CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

Điều 41. Nguyên tắc bảo hiểm thất nghiệp

1. Bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

2. Mức đóng bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền lương của người lao động.

3. Mức hưởng bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp.

4. Việc thực hiện bảo hiểm thất nghiệp phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia.

5. Quỹ bảo hiểm thất nghiệp được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm an toàn và được Nhà nước bảo hộ.

Điều 42. Các chế độ bảo hiểm thất nghiệp

1. Trợ cấp thất nghiệp.

2. Hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm.

3. Hỗ trợ Học nghề.

4. Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động.

Điều 43. Đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp

1. Người lao động phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp khi làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc như sau:

a) Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn;

b) Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn;

c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.

Trong trường hợp người lao động giao kết và đang thực hiện nhiều hợp đồng lao động quy định tại khoản này thì người lao động và người sử dụng lao động của hợp đồng lao động giao kết đầu tiên có trách nhiệm tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

2. Người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này đang hưởng lương hưu, giúp việc gia đình thì không phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

3. Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình, hộ kinh doanh, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng làm việc hoặc hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều này.

Điều 44. Tham gia bảo hiểm thất nghiệp

1. Người sử dụng lao động phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động tại tổ chức bảo hiểm xã hội trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc có hiệu lực.

2. Hằng tháng, người sử dụng lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo mức quy định tại điểm b khoản 1 Điều 57 của Luật này và trích tiền lương của từng người lao động theo mức quy định tại điểm a khoản 1 Điều 57 của Luật này để đóng cùng một lúc vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

3. Căn cứ vào tình hình kết dư của Quỹ bảo hiểm thất nghiệp, Nhà nước chuyển kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước vào Quỹ theo mức do Chính phủ quy định tại khoản 3 Điều 59 của Luật này.

Điều 45. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp

1. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp để xét hưởng bảo hiểm thất nghiệp là tổng các khoảng thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp liên tục hoặc không liên tục được cộng dồn từ khi bắt đầu đóng bảo hiểm thất nghiệp cho đến khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật mà chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp.

2. Sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trước đó của người lao động không được tính để hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần tiếp theo. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp cho lần hưởng bảo hiểm thất nghiệp tiếp theo được tính lại từ đầu, trừ trường hợp chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại các điểm b, c, h, l, m và n khoản 3 Điều 53 của Luật này.

3. Thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật về lao động, pháp luật về viên chức.

Điều 46. Hưởng trợ cấp thất nghiệp

1. Trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập.

2. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày trung tâm dịch vụ việc làm tiếp nhận đủ hồ sơ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp; trường hợp không đủ điều kiện để hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp thì phải trả lời bằng văn bản cho người lao động.

3. Tổ chức bảo hiểm xã hội thực hiện việc chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp.

MỤC 2. HỖ TRỢ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG, NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ KỸ NĂNG NGHỀ ĐỂ DUY TRÌ VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

Điều 47. Điều kiện, thời gian và mức hỗ trợ

1. Người sử dụng lao động được hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp liên tục từ đủ 12 tháng trở lên tính đến thời điểm đề nghị hỗ trợ;

b) Gặp khó khăn do suy giảm kinh tế hoặc vì lý do bất khả kháng khác buộc phải thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ sản xuất, kinh doanh;

c) Không đủ kinh phí để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho người lao động;

d) Có phương án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề và duy trì việc làm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

2. Thời gian hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động theo phương án được phê duyệt và không quá 06 tháng.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này và mức hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động, bảo đảm cân đối quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

Điều 48. Trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề

1. Người sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề và sử dụng lao động theo phương án đã được phê duyệt; sử dụng nguồn kinh phí đúng đối tượng, đúng mục đích và thực hiện báo cáo kết quả tổ chức đào tạo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền sau khi kết thúc khóa đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề.

2. Người lao động có trách nhiệm thực hiện quy định của pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề.

MỤC 3. TRỢ CẤP THẤT NGHIỆP

Điều 49. Điều kiện hưởng

Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Chết.

Điều 50. Mức, thời gian, thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp

1. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

2. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng.

3. Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này.

Điều 51. Bảo hiểm y tế

1. Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được hưởng chế độ bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế.

2. Tổ chức bảo hiểm xã hội đóng bảo hiểm y tế cho người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

Điều 52. Thông báo về việc tìm kiếm việc làm

1. Trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, hằng tháng người lao động phải trực tiếp thông báo với trung tâm dịch vụ việc làm nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp về việc tìm kiếm việc làm, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người lao động ốm đau, thai sản, tai nạn có giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh;

b) Trường hợp bất khả kháng.

2. Đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này thì người lao động có trách nhiệm thông báo cho trung tâm dịch vụ việc làm nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp.

3. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện Điều này.

Điều 53. Tạm dừng, tiếp tục, chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp

1. Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp khi không thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng theo quy định tại Điều 52 của Luật này.

2. Người lao động bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu vẫn còn thời gian được hưởng theo quyết định thì tiếp tục hưởng trợ cấp thất nghiệp khi thực hiện thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng theo quy định tại Điều 52 của Luật này.

3. Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp trong các trường hợp sau đây:

a) Hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp;

b) Tìm được việc làm;

c) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

d) Hưởng lương hưu hằng tháng;

đ) Sau 02 lần từ chối nhận việc làm do trung tâm dịch vụ việc làm nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp giới thiệu mà không có lý do chính đáng;

e) Không thực hiện thông báo tìm kiếm việc làm hằng tháng theo quy định tại Điều 52 của Luật này trong 03 tháng liên tục;

g) Ra nước ngoài để định cư, đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

h) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

i) Bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật bảo hiểm thất nghiệp;

k) Chết;

l) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

m) Bị tòa án tuyên bố mất tích;

n) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù.

4. Người lao động bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp thuộc các trường hợp quy định tại các điểm b, c, h, l, m và n khoản 3 Điều này được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần tiếp theo khi đủ điều kiện quy định tại Điều 49 của Luật này.

Thời gian bảo lưu được tính bằng tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trừ đi thời gian đóng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp, theo nguyên tắc mỗi tháng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp tương ứng 12 tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp.

MỤC 4. HỖ TRỢ TƯ VẤN, GIỚI THIỆU VIỆC LÀM, HỌC NGHỀ

Điều 54. Tư vấn, giới thiệu việc làm

Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp bị chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc mà có nhu cầu tìm kiếm việc làm được tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí.

Điều 55. Điều kiện được hỗ trợ học nghề

Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hỗ trợ học nghề khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Đủ các điều kiện quy định tại các khoản 1, 3 và 4 Điều 49 của Luật này;

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 09 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật.

Điều 56. Thời gian, mức hỗ trợ học nghề

1. Thời gian hỗ trợ học nghề theo thời gian học nghề thực tế nhưng không quá 06 tháng.

2. Mức hỗ trợ học nghề theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

MỤC 5. QUỸ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

Điều 57. Mức đóng, nguồn hình thành và sử dụng Quỹ bảo hiểm thất nghiệp

1. Mức đóng và trách nhiệm đóng bảo hiểm thất nghiệp được quy định như sau:

a) Người lao động đóng bằng 1% tiền lương tháng;

b) Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp;

c) Nhà nước hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp và do ngân sách trung ương bảo đảm.

2. Nguồn hình thành Quỹ bảo hiểm thất nghiệp bao gồm:

a) Các khoản đóng và hỗ trợ theo quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ;

c) Nguồn thu hợp pháp khác.

3. Quỹ bảo hiểm thất nghiệp được sử dụng như sau:

a) Chi trả trợ cấp thất nghiệp;

b) Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động;

c) Hỗ trợ học nghề;

d) Hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm;

đ) Đóng bảo hiểm y tế cho người hưởng trợ cấp thất nghiệp;

e) Chi phí quản lý bảo hiểm thất nghiệp thực hiện theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội;

g) Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng Quỹ.

Điều 58. Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp

1. Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp là tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thực hiện theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội. Trường hợp mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp cao hơn hai mươi tháng lương cơ sở thì mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp bằng hai mươi tháng lương cơ sở tại thời điểm đóng bảo hiểm thất nghiệp.

2. Người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp là tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thực hiện theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội. Trường hợp mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp cao hơn hai mươi tháng lương tối thiểu vùng thì mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp bằng hai mươi tháng lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động tại thời điểm đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Điều 59. Quản lý Quỹ bảo hiểm thất nghiệp

1. Quỹ bảo hiểm thất nghiệp được hạch toán độc lập. Tổ chức bảo hiểm xã hội thực hiện việc thu, chi, quản lý và sử dụng Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

2. Hoạt động đầu tư từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp phải bảo đảm an toàn, minh bạch, hiệu quả và thu hồi được khi cần thiết, thông qua các hình thức sau:

a) Mua trái phiếu, tín phiếu, công trái của Nhà nước; trái phiếu của ngân hàng thương mại do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ;

b) Đầu tư vào các dự án quan trọng theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ;

c) Cho ngân sách nhà nước, Ngân hàng phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, ngân hàng thương mại do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ vay.

3. Chính phủ quy định chi tiết tỷ lệ hỗ trợ từ ngân sách nhà nước; việc quản lý, sử dụng Quỹ; tổ chức thực hiện bảo hiểm thất nghiệp.

Tư vấn luật bảo hiểm thất nghiệp

HI vọng bài viết này sẽ cung cấp các thông tin cơ bản giúp cho bạn cập nhật các kiến thức cơ bản về Luật bảo hiểm thất nghiệp mới nhất. Nếu có thắc mắc gì hoặc cần trao đổi, góp ý xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.#luatbaohiemthatnghiep #ebaohiem

Bảo Hiểm Thất Nghiệp Ở Thụy Điển / 2023

Hệ thống bảo hiểm thất nghiệp của đất nước này đảm bảo những người có thu nhập trung bình vẫn có khả năng chi trả cho cuôc sống bình thường của mình trong suốt thời gian nhận trợ cấp thất nghiệp và tìm kiếm công việc mới.

Phần lớn những người làm việc ở Thụy điển đều tham gia Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Trong 200 ngày đầu tiên sau khi thất nghiệp, mức quyền lợi được hưởng tối đa là 80% theo mức lương trước khi thất nghiệp, nhưng không quá 680 cu-ron/ngày; 100 ngày tiếp theo (có thể được kéo dài tới 1 năm sau đó) mức hưởng trợ cấp còn 70%. Tuy nhiên, không phải tất cả các đối tượng đều được hưởng mức tối đa mà chỉ có những người có mức thu nhập thấp thì mới được nhận 80% tiền trợ cấp.

Tại Thụy điển, phần lớn tiền đảm bảo cho trợ cấp thất nghiệp lấy từ tiền thuế, nhưng hệ thống bảo hiểm thất nghiệp ở quốc gia này được quản lý bởi những tổ chức tư nhân – chủ yếu là các nghiệp đoàn. Người lao động không nhất thiết phải là công dân Thụy điển – người lao động chỉ cần có giấy phép nhập cư và có thẻ cư trú là đủ điều kiện để tham gia Bảo hiểm thất nghiệp.

:

Ngoài các quỹ trên, ở Thụy điển còn có hai tổ chức dành cho các đối tượng khác trong xã hội:

Tổ chức AEA (Akademikernas Erkända Arbetstöshetskassa) dành cho những người có bằng cấp về mặt học vấn – trình độ từ đại học trở lên. Quỹ này dành cho những người đạt 180 điểm theo thang điểm của Hệ thống chuyển giao tín chỉ châu Âu hoặc 120 điểm theo thang điểm trước đây của Thụy điển. Với những người có bằng cấp giáo dục ngoài Thụy điển thì ít nhất họ cũng phải có trình độ cử nhân.

Tổ chức ALFA KASSAN dành cho những trường hợp người lao động còn lại chưa tham gia với bất cứ quỹ bảo hiểm thất nghiệp nào.

Phí tham gia quỹ bảo hiểm thất nghiệp được trích một phần từ nguồn của Chính phủ (thông qua nghĩa vụ đóng góp của các chủ sử dụng lao động) và một phần từ chính đóng góp của người lao động.

Các quỹ bảo hiểm thất nghiệp khác nhau thì có mức phí tham gia khác nhau tương ứng với mức độ rủi ro do thất nghiệp theo từng dạng nghề nghiệp, ví dụ, mức phí thấp nhất áp dụng cho người lao động làm việc trong ngành tài chính và bảo hiểm (Finans – Och fönsäkringsbranschens) là 118 cu-ron một tháng đối với những người không phải là thành viên, tiếp theo là AEA với mức là 150 cu-ron áp dụng đối với quỹ bảo hiểm trí thức (AEA).

Như vậy, muốn được nhận trợ cấp thất nghiệp toàn phần thì người lao động phải là thành viên của tổ chức nào đó và phải đóng góp đều đặn ít nhất là một năm khi người lao động trở thành người thất nghiệp.

Nếu người lao động không tham gia vào một quỹ thất nghiệp đủ 1 năm trước khi trở thành người thất nghiệp thì người lao động vẫn được nhận một mức trợ cấp cơ bản là 320 cu-ron một ngày với điều kiện người lao động vẫn có việc làm và thường xuyên và đầy đủ trong vòng 12 tháng trước thất nghiệp. Nếu người lao động làm việc bán thời gian thì sẽ nhận được 50% của tổng số tiền được trợ cấp – có nghĩa là bạn sẽ nhận được 160 cu-ron một ngày.

Nếu người lao động chưa tham gia bảo hiểm thất nghiệp ở bất kì tổ chức nào thì quỹ Alfa Kassan sẽ chịu trách nhiệm chi trả và người lao động phải liên hệ với quỹ này để nhận được trợ cấp thất nghiệp. Nếu người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp tại một tổ chức nào đó nhưng chưa đủ một năm thì quỹ đó vẫn sẽ chi trả trợ cấp thất nghiệp bán phần cho người lao động đó, Alfa Kassan không chịu trách nhiệm chi trả.

Dù quỹ nào chi trả đi nữa thì bảo hiểm thất nghiệp ở Thụy điển hoàn toàn không dựa vào khả năng tài chính của người tham gia. Người lao động có thể sở hữu chiếc xe hơi Bentley trong biệt thự kèm theo khoản tiền 10 triệu cu-ron trong tài khoản thì họ vẫn cứ nhận được đầy đủ khoản tiền trợ cấp thất nghiệp nếu như họ trở thành người thất nghiệp.

“Đặc điểm chính của hệ thống bảo hiểm thất nghiệp ở Thụy điển là bảo hiểm thất nghiệp không phải là hệ thống trợ cấp và cũng dựa vào tình trạng thu nhập của người lao động. Nó là một hệ thống thu nhập chịu thuế và được sử dụng để tạo nên quỹ hưu trí của nhà nước” Ngài Gertrue Hedenström Eriksson – điều phối viên Liên đoàn các quỹ bảo hiểm thất nghiệp đã cho biết như vậy.

Mặc dù bảo hiểm thất nghiệp không dựa vào tình trạng tài chính của người thất nghiệp nhưng các quỹ này cũng phải có những hàng loạt những điều kiện khắt khe được đặt ra cho người lao động để được hưởng tiền trợ cấp thất nghiệp. Người lao động phải là người hoàn toàn khoẻ mạnh về mặt thể xác (có nghĩa là bạn không bị mắc một thứ bệnh nào) và bạn phải làm việc ít nhất 3 giờ trong 1 ngày và 7 ngày trong 1 tuần. Bạn cũng phải tích cực tìm kiếm việc làm phù hợp với mình và phải đăng ký tìm việc tại Trung tâm tìm kiếm việc làm của Chính phủ (Arbetstsförmedingen). Người lao động có thể phải chấp nhận làm việc tại những địa điểm khác xa so với nơi cư trú của họ theo yêu cầu của trung tâm tìm kiếm việc làm.

Một điều đáng nói nữa là, hệ thống trợ cấp hưu trí ở Thụy điển coi tiền bảo hiểm thất nghiệp cũng là một loại thu nhập chịu thuế giống như các khoản thu nhập khác. Người lao động vẫn phải đóng lệ phí tham gia bảo hiểm thất nghiệp ngay cả khi đang ở trạng thái thất nghiệp, tất nhiên với mức đóng thấp hơn.

Những người điều hành hoặc sở hữu một công ty thì phải tuyên bố giải thể hoặc ít nhất ngừng mọi hoạt động nếu muốn nhận được tiền trợ cấp thất nghiệp. Nhưng họ không được phép sử dụng tiền này để cứu vãn những hoạt động kinh doanh của công ty. Chính điều này đã làm cho rất nhiều các chủ sử dụng lao động của các công ty nhỏ không tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

Nếu bạn đang là người thất nghiệp và không tham gia bất cứ một loại hình bảo hiểm thất nghiệp nào thì bạn có thể nhận được một khoản trợ cấp – được gọi là trợ cấp xã hội. Tất cả những người này đều chịu sự quản lý của chính quyền địa phương và phải được thẩm tra về điều kiện sống của họ.

SOURCE: TẠP CHÍ BẢO HIỂM XÃ HỘI SỐ 1 (121) NĂM 2009 – THS. NGUYỄN BÍCH NGỌC – Viện Khoa học BHXH

(Kiến thức Luật pháp: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

Luật sư Minh Tiến

Báo Cáo Đánh Giá Vnen Và Những Điều Phi Thực Tế / 2023

LTS: Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam nhận được bài viết của thày giáo Nguyễn Nguyên, một người trực tiếp giảng dạy theo mô hình Trường học mới Việt Nam (VNEN) về báo cáo đánh giá tác động của VNEN từ Ngân hàng Thế giới, mà Quỹ Hỗ trợ đổi mới giáo dục phổ thông vừa dịch, công bố. Tòa soạn trân trọng mời quý bạn đọc theo dõi bài viết này và cảm ơn thầy Nguyễn Nguyên. Văn phong và nội dung bài viết thể hiện quan điểm, góc nhìn của tác giả. Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam trân trọng kính mời các nhà quản lý giáo dục, các nhà nghiên cứu, đặc biệt là các thày cô giáo và phụ huynh các trường, lớp VNEN lên tiếng trao đổi về mô hình này.

Sau khi Ngân hàng Thế giới chính thức công bố kết quả đánh giá tác động của VNEN và công bố này được các phương tiện thông tin đại chúng đăng tải thì đã có nhiều ý kiến của bạn đọc không đồng tình.

Bởi phần nhiều của bản công bố là nhấn mạnh đến nhưng ưu điểm, đến sự đồng tình của hiệu trưởng, giáo viên, học sinh và phụ huynh.

Nhưng thực tế như thế nào thì trên các diễn đàn giáo dục trong thời gian qua chúng ta đã tường tận về những “ưu điểm” của VNEN.

Kể từ năm học 2012-2012, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho thí điểm VNEN tại 24 trường tiểu học và 48 lớp 2 ở 12 huyện thuộc địa bàn 6 tỉnh.

Đến năm học 2017-2018 này thì số trường áp dụng đã nâng lên rất nhiều lần so với năm bắt đầu triển khai dự án, gồm: có 4.800 trường Tiểu học (gần 32% tổng số trường) và 1.500 trường Trung học cơ sở (trên 14% tổng số trường).

Như vậy, nếu nói về số lượng thì VNEN đã “thực sự thành công” về mặt nhân rộng, kể cả quy mô cũng như tốc độ, cho dù là “tự nguyện” hay “cưỡng bách trên tinh thần tự nguyện”.

Song xét về mức độ phản đối của xã hội thì cũng không có chương trình đổi mới giáo dục nào bị phản ứng dữ dội nhiều như VNEN.

Báo cáo đưa ra nhiều con số không ai kiểm chứng được, khác xa với thực tế

Nhiều địa phương chính quyền phải vào cuộc, thành lập Hội đồng đánh giá tác động của VNEN và đi đến kết luận là dừng nhân rộng. Một số tỉnh đã dừng triển khai hoàn toàn VNEN.

Như ở thành phố Vinh, Nghệ An, phụ huynh trường Trung học cơ sở Hưng Dũng áp dụng mô hình VNEN đã phải “theo kiện” hơn một năm nay về việc dừng thí điểm mô hình này với con em họ, đến bây giờ họ mới thấy ánh sáng le lói cuối đường hầm.

Sau một năm khiếu nại kiên trì không mệt mỏi của phụ huynh, cuối cùng Sở Giáo dục và Đào tạo mới chấp nhận thực hiện tinh thần chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc “triển khai VNEN trên tinh thần tự nguyện”.

Theo Báo Nghệ An ngày 9/9, hôm 7/9 Sở Giáo dục và Đào tạo có văn bản trả lời về đơn kiến nghị của phụ huynh nhà trường.

Trong đó, dù chưa khẳng định có hay không việc triển khai dạy học theo mô hình trường học mới, nhưng Sở đồng ý để ban giám hiệu nhà trường lấy ý kiến của giáo viên, phụ huynh và học sinh về phương án lựa chọn sách giáo khoa.

Theo phương án này, có thể hiểu nếu đại đa số phụ huynh chọn sách giáo khoa hướng dẫn học của chương trình trường học mới thì nhà trường tiếp tục dạy học theo chương trình này. Ngược lại, nếu các ý kiến lựa chọn sách giáo khoa hiện hành thì nhà trường sẽ trở lại dạy học theo chương trình phổ thông hiện tại.

Nhận được quyết định này, ông Ninh Viết Tăng, hiệu trưởng nhà trường không giấu được niềm vui bởi hơn bao giờ hết ông rất muốn nhà trường sớm ổn định chương trình để triển khai việc dạy và học có hiệu quả, nhất là khi việc tựu trường đã được 2 tuần. [1]

Vì thế, khi Ngân hàng Thế giới công bố bản đánh giá chính thức về tác động của VNEN đã khiến cho nhiều người bất ngờ, thất vọng.

Phải nói rằng bản đánh giá tác động VNEN của Ngân hàng Thế giới tương đối công phu, trình bày rõ ràng, mạch lạc từng đề mục.

Sau khi Ngân hàng Thế giới đưa lên Website thì Quỹ Hỗ trợ đổi mới giáo dục phổ thông đã dịch ra tiếng Việt thành 2 bản. Một bản tóm tắt và một bản đầy đủ.

Có điều chúng tôi tiếp cận với hai bản dịch này, đặc biệt là bản dịch tiếng Việt đầy đủ với 183 trang thì nhận thấy, chủ yếu báo cáo ca ngợi ưu điểm, về sự đồng tình khi áp dụng chương trình VNEN nhưng không đề cập đến nguồn kiểm chứng

Chỉ có 2 trang (171-172) trong số 183 trang là nói về “thách thức của VNEN”.

Tuyệt nhiên không có một chữ nào nói về “hạn chế” về những “phản ứng” ở nhiều địa phương khi giảng dạy VNEN.

Dường như những phản ứng, những tiếu kêu của phụ huynh và giáo viên VNEN các địa phương không đến được tai các chuyên gia xây dựng báo cáo này.

Trong khi bản đánh giá này đưa ra nhiều con số cho thấy nhiều hiệu trưởng, giáo viên, phụ huynh tán đồng, coi VNEN là tốt là ưu điểm.

Thế nhưng tuyệt nhiên không có tên trường, địa phương, thầy hiệu trưởng, thầy cô giáo, học sinh, phù huynh nào cụ thể.

Có thể thấy đánh giá của báo cáo này không khác nhiều so với các chuyên gia VNEN như thầy Nguyễn Vinh Hiển, thầy Lê Tiến Thành, thầy Phạm Ngọc Định, thầy Đặng Tự Ân trên truyền thông.

Có khác chăng chỉ là báo cáo của Ngân hàng Thế giới đưa ra các con số chi tiết, nhưng lại không có tên tuổi và nguồn kiểm chứng cụ thể.

Vì thế, bản đánh giá tác động của VNEN chưa đủ sức thuyết phục để tạo niềm tin với công chúng về những “điểm sáng” cụ thể, con người cụ thể. Thậm chí nó càng làm người ta nghi ngờ tính trung thực của báo cáo này.

“Thách thức” thực sự của VNEN là gì?

Báo cáo của Ngân hàng Thế giới đánh giá có 3 thách thức đối với VNEN thông qua đề mục:

7.7 Các thách thức của VNEN

7.7.1 Thách thức do tư duy của giáo viên.

Báo cáo viết:

“Mặc dù mức độ hiệu quả của giáo viên tăng lên khi áp dụng VNEN, vẫn phải cần thời gian để thay đổi tư duy của họ hướng tới việc áp dụng hoàn toàn VNEN…

Phần này báo cáo không đưa ra được có bao nhiêu học sinh dân tộc thiểu số học mô hình VNEN trên tổng số học sinh VNEN của cả nước.

Với cách triển khai ồ ạt của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chúng tôi tin rằng tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số học VNEN rất ít so với tổng số học sinh VNEN của cả nước.

Báo cáo viết: “Giáo viên thường cho rằng, một thách thức khác là việc cha mẹ học sinh không đủ khả năng để giúp con trong học tập, do thiếu kiến thức và tình trạng di cư tạm thời”.

Hãy nghe một cô giáo dạy VNEN ở Nghệ An, cô Nguyễn Thị Thanh Hằng, giáo viên dạy Ngữ văn, chủ nhiệm lớp 7A trường Trung học cơ sở Lê Thị Bạch Cát, thị xã Cửa Lò chia sẻ lý do tại sao VNEN không hiệu quả:

Đó là điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị chưa đáp ứng được yêu cầu, số lượng học sinh đông nên khó bao quát đánh giá hết học sinh một cách chu đáo. Với sách giáo khoa, phần nội dung khó phân tiết một cách rõ ràng, phần lý thuyết và thực hành bị tách rời nên khó củng cố kiến thức. Bên cạnh đó, trong quá trình giảng dạy, do chương trình không nặng về kiểm tra, mỗi kỳ chỉ có hai bài thi (thay vì 10 bài thi) như các chương trình hiện hành nên không đánh giá đúng năng lực học sinh, không có động lực cho học sinh phấn đấu.

Những hạn chế trên cũng là điều gặp phải ở nhiều trường trung học cơ sở đang dạy thí điểm chương trình trường học mới khác. Điều bất cập là ở chỗ, dù đang có nhiều ý kiến nghi ngại về chương trình nhưng Sở Giáo dục và Đào tạo (Nghệ An) lại chưa tổ chức một hội nghị toàn ngành để lấy ý kiến từ cơ sở để bàn phương án triển khai trong năm học này và những năm học tiếp theo.

Thay vào đó, lại là những ý kiến chỉ đạo còn mang tính chung chung như “chủ động lựa chọn một số thành tố của mô hình để thực hiện đổi mới phương thức giáo dục” hay phải thực hiện “linh hoạt, không rập khuôn, cứng nhắc” khiến các trường bị động trong quá trình thực hiện. [1]

Chuyên gia VNEN Lê Tiến Thành và Nguyễn Vinh Hiển thì khẳng định điều hoàn toàn ngược lại.

Thầy Lê Tiến Thành Thành được nhà đài VTV hỏi:

“VNEN khó nhất là gì ạ? Là kinh phí, là cơ sở hạ tầng, là số lượng học sinh quá đông, là sách giáo khoa hay trình độ giáo viên, thưa ông?”

Nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục Tiểu học kiêm Giám đốc ban quản lý Dự án GPE-VNEN Lê Tiến Thành trả lời:

“Tất cả đối với chúng ta, cả cái nền giáo dục này, nan giản nhất là chất lượng đội ngũ giáo viên. Vậy thì đội ngũ giáo viên với VNEN không phải không đủ trình độ về khoa học để dạy nó, mà (họ) chưa quen với một phương pháp dạy học mới.

Ta chỉ quen là giảng giải truyền thụ, bây giờ chuyển sang là mô hình tổ chức, hướng dẫn hoạt động học cho học sinh.” [2]

Ngày 15/8, thầy Vinh Hiển có bài viết trên Báo Giáo dục và Thời đại, thầy Hiển khẳng định: phòng chật, học sinh đông vẫn có thể triển khai VNEN. [3]

Với một con số ấn tượng như vậy thì cớ gì phụ huynh ở Hà Tĩnh, Nghệ An, Đăk Lắk…lại cùng nhau kéo đến trường để phản đối VNEN?

Cũng theo bản đánh giá thì khi khảo sát về câu: “Mô hình truyền thống đang vận hành tốt” đã có 70% giáo viên và 75% hiệu trưởng không đồng ý với nhận định này.

Và cũng trong bản đánh giá thì “Hiệu trưởng VNEN cho thấy niềm tin vào bản thân của họ ngày càng lớn khi họ được áp dụng thử mô hình”.

Điều này cũng có nghĩa là họ đã thừa nhận VNEN hay hơn chương trình hiện hành.

Đề nghị quý thày cô hiệu trưởng các trường áp dụng VNEN và các thày cô giáo dạy VNEN được các chuyên gia phỏng vấn, hãy lên tiếng và đưa ra những bằng chứng xác tín về hiệu quả của VNEN.

Chúng tôi thi thoảng cũng có thấy một vài thày cô chia sẻ điều này trên Báo Giáo dục và Thời đại, nhưng tất cả đều chỉ dừng ở lý thuyết và nhắc lại những gì các chuyên gia VNEN như thầy Hiển, thầy Thành, thầy Định, thầy Ân vẫn nói.

Chưa thầy cô nào đưa ra được bằng chứng xác tín chứng minh cho quan điểm, lập luận của mình.

Ở chiều ngược lại, thầy Lê Văn Anh Hiệu trưởng Trường Trung học Cơ sở Thạch Linh, Thành phố Hà Tĩnh cho biết:

“Tại kỳ họp Hôi đồng nhân dân tỉnh Hà Tĩnh vừa rồi, tôi được mời đến để nói về VNEN và tôi đã thẳng thắn đề xuất là phải dừng lại ngay” bởi theo thầy là có 5 hạn chế của VNEN không thể khắc phục được. [4]

Thầy Bùi Quang Huân, Hiệu trưởng Trường Trung học Cơ sở Cẩm Bình huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh cho rằng:

VNEN có những điểm tích cực nhưng cũng có nhiều điểm hạn chế, chưa phù hợp với đối tượng học sinh ở vùng nông thôn. Bởi vì sĩ số đông, phương tiện và đồ dùng dạy học không đầy đủ. Môn văn, sử, địa lý thì các em có thể học tiếp thu dễ hơn so với môn toán, lý, hóa. Đặc biệt, với các môn tự nhiên vì không chấm bằng điểm cụ thể, không có bài kiểm tra điểm, không có bài tập về nhà cho nên hạn chế học sinh rất nhiều”.

Thầy Huân nhấn mạnh rằng:

“Với cách dạy và học như vậy, phụ huynh không kiểm tra được việc học của con em mình. Học VNEN không có bài kiểm tra thường xuyên, không hậu kiểm được, con học được bao nhiêu điểm phụ huynh không thể kiểm tra được. Đặc biệt, các môn khoa học tự nhiên không tính bằng điểm. Không có bài tập thường xuyên để đánh giá nên các thầy cô đánh giá không sát thực tế. Tôi cho rằng, cách học này với các môn khoa học tự nhiên là không phù hợp.”

Cả thầy Lê Văn Anh và thầy Bùi Quang Huân cho thấy, VNEN có nhiều điểm yếu.

Việc dạy và học theo mô hình VNEN không đem lại chất lượng như kỳ vọng của phụ huynh học sinh. Không chỉ vậy, cách dạy học này còn rất tốn kém và lãng phí. [4]

Bản đánh giá tác động của VNEN còn rất nhiều con số, nhiều luận điểm khiến cho chúng tôi băn khoăn, thậm chí dư luận hoang mang không hiểu thật giả thế nào.

Làm giáo dục, điều tối quan trọng là sự trung thực. Chừng nào còn có sự nghi ngờ về tính trung thực trong các báo cáo về giáo dục, thì đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục nước nhà còn là điều xa vời.

Vì thế, chúng tôi mong rằng các nhà quản lý, các thày cô và phụ huynh học sinh ở các trường dạy – học theo mô hình VNEN, xin hãy lên tiếng!

Chỉ có tiếng nói trung thực của quý vị mới cứu được chính con em chúng ta thoát khỏi những bùng nhùng của một số cách làm áp đặt, “cưỡng bách trên tinh thần tự nguyện” trong giáo dục.

[2] http://vtv.vn/van-de-hom-nay/mo-hinh-truong-hoc-moi-vnen-nen-dung-hay-tiep-tuc-20170831012121807.htm

[3] http://giaoducthoidai.vn/giao-duc/phong-chat-hoc-sinh-dong-van-co-the-trien-khai-vnen-3669184-v.html

[4] http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Y-kien-xac-thuc-cua-cac-thay-hieu-truong-o-nhung-truong-da-noi-khong-voi-VNEN-post178381.gd

Bạn đang đọc nội dung bài viết Báo Cáo Đánh Giá 10 Năm Thực Hiện Chính Sách Bảo Hiểm Thất Nghiệp / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!