Đề Xuất 11/2022 # Bàn Về Vấn Đề Giải Quyết Khiếu Nại Trả Lại Đơn Khởi Kiện Vụ Án Dân Sự / 2023 # Top 20 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 11/2022 # Bàn Về Vấn Đề Giải Quyết Khiếu Nại Trả Lại Đơn Khởi Kiện Vụ Án Dân Sự / 2023 # Top 20 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bàn Về Vấn Đề Giải Quyết Khiếu Nại Trả Lại Đơn Khởi Kiện Vụ Án Dân Sự / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trang chủ

VKSND TP Hải Phòng

Bàn về vấn đề giải quyết khiếu nại trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự

Trả lại đơn khởi kiện là một chế định trong Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) được áp dụng trong một số trường hợp cụ thể. Các căn cứ trả lại đơn khởi kiện quy định cụ thể tại Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự:

Điều 192. Trả lại đơn khởi kiện, hậu quả của việc trả lại đơn khởi kiện

1. Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây:

a) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 186 và Điều 187 của Bộ luật này hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;

b) Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó;

c) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;

d) Hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 195 của Bộ luật này mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng;

đ) Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;

e) Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 193 của Bộ luật này.

g) Người khởi kiện rút đơn khởi kiện.

2. Khi trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Thẩm phán phải có văn bản nêu rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp. Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao chụp và lưu tại Tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu.

3. Đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện lại trong các trường hợp sau đây:

a) Người khởi kiện đã có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;

b) Yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà trước đó Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu mà theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;

c) Đã có đủ điều kiện khởi kiện;

d) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

4. Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành khoản 1 và khoản 3 Điều này.

Điều 194. Khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện

1. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện.

2. Ngay sau khi nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phải phân công một Thẩm phán khác xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị. Phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có khiếu nại; trường hợp đương sự vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp.

a) Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện và thông báo cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp;

b) Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.

5. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định trả lời khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của Thẩm phán, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp xem xét, giải quyết.

6. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp phải ra một trong các quyết định sau đây:

a) Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện;

b) Yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩmnhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.

Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp có hiệu lực thi hành và được gửi ngay cho người khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát đã kiến nghị và Tòa án đã ra quyết định trả lại đơn khởi kiện.

7. Trường hợp có căn cứ xác định quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp quy định tại khoản 6 Điều này có vi phạm pháp luật thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định, đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao nếu quyết định bị khiếu nại,kiến nghị là của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao nếu quyết định bị khiếu nại, kiến nghị là của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao.

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại của đương sự, kiến nghị của Viện kiểm sát thì Chánh án phải giải quyết. Quyết định của Chánh án là quyết định cuối cùng.

Theo quy định tại Điều 194 BLTTDS, khi Quyết định trả lại đơn khởi kiện của Thẩm phán được phân công xem xét thụ lý đơn khởi kiện bị đương sự khiếu nại, Chánh án sẽ phân công một Thẩm phán khác xem xét, giải quyết việc khiếu nại. Việc xem xét, giải quyết khiếu nại Quyết định trả lại đơn khởi kiện bằng việc mở phiên họp có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp. Quá trình nghiên cứu hồ sơ cũng như trên cơ sở ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát, nếu thấy việc trả lại đơn khởi kiện có căn cứ quy định tại Điều 192 BLTTDS thì Thẩm phán được phân công xem xét giải quyết khiếu nại trả lại đơn khởi kiện sẽ ra quyết định giữ nguyên quyết định trả lại đơn khởi kiện. Trường hợp thấy việc trả lại đơn khởi kiện không đúng quy định, Thẩm phán phải nhận lại đơn và hồ sơ để tiến hành thụ lý.

Cũng theo Điều 194 BLTTDS, trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định của thẩm phán được phân công giải quyết khiếu nại quyết định trả lại đơn khởi kiện thì có quyền khiếu nại tới Chánh án tòa án trên một cấp để xem xét giải quyết.

Thực tế, quá trình tham gia giải quyết khiếu nại quyết định trả lại đơn khởi kiện, người viết nhận thấy việc quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại quyết định trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 194 BLTTDS như trên là chưa phù hợp. Bởi lẽ:

Thứ nhất: Xuất phát từ việc thẩm phán được phân công xem xét đơn khởi kiện của đương sự để tiến hành thụ lý hoặc không thụ lý, việc phân công thẩm phán là do Chánh án quyết định. Tuy nhiên, thẩm phán phải lại là người chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Khi thẩm phán ra quyết định trả lại đơn khởi kiện và quyết định này bị khiếu nại thì nên chăng việc giải quyết khiếu nại phải do Chánh án trực tiếp xem xét, quyết định. Xét về mặt địa vị pháp lý, hai thẩm phán có địa vị pháp lý ngang bằng nhau, đều tự chịu trách nhiệm cho quyết định của mình. Do đó nếu một thẩm phán ra quyết định trả lại đơn khởi kiện, một thẩm phán khác xem xét quyết định đó đúng hay sai là không hợp lý, vì vậy nên quy định Chánh án là người xem xét giải quyết khiếu nại này mới hợp lý đảm bảo được tính chỉ đạo và thẩm quyền.

Thứ hai: Đối với trường hợp đương sự không đồng ý đối với quyết định giải quyết khiếu nại,thì Chánh án cấp trên trực tiếp xem xét giải quyết khiếu nại lần thứ hai. Như vậy, luật quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần thứ nhất là do thẩm phán giải quyết, lần thứ hai do Chánh án tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết. Cũng xét về mặt địa vị pháp lý và thẩm quyền, chỉ đạo điều hành, Chánh án cấp trên trực tiếp chỉ đạo nhiệm vụ đối với Chánh án cấp dưới và theo thông thường sẽ giải quyết các khiếu nại mà Chánh án cấp dưới đã giải quyết. Ở đây luật quy định Chánh án cấp trên trực tiếp xem xét giải quyết khiếu nại quyết định của Thẩm phán Tòa án cấp dưới là chưa hợp lý.

                           Đào Thị Lan Phương, VKSND huyện Thủy Nguyên 

Tweet

Đồng chí Lê Minh Trí tái đắc cử chức vụ Viện…

VKSND thành phố Hải Phòng ký kết chương trình…

Màu áo thiên thanh trên thành phố Cảng

Thư của Viện trưởng VKSND tối cao gửi cán bộ,…

Phòng 8 kiểm sát tháng tại Trại giam Xuân Nguyên,…

1

 2 

Khiếu Nại Việc Trả Lại Đơn Kiện Trong Vụ Án Hành Chính / 2023

Khiếu nại việc trả lại đơn kiện trong vụ án hành chính

Khi nhận đơn khởi kiện, xét thấy vụ việc và đơn khởi kiện đúng theo quy định của pháp luật thì Tòa án phải tiến hành thủ tục tiếp theo là thụ lý vụ án. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào nhận được đơn khởi kiện Tòa án có thẩm quyền cũng thụ lý vụ án, có những trường hợp Tòa án không chấp nhận thụ lý bằng việc trả lại đơn khởi kiện cho đương sự. Tại Điều 109 Luật Tố tụng hành chính có quy định về những trường hợp trả lại đơn khởi kiện trong vụ án hành chính như sau:

– Người khởi kiện không có quyền khởi kiện;

– Người khởi kiện không có đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính;

– Thời hiệu khởi kiện đã hết mà không có lý do chính đáng;

– Chưa có đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính;

– Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;

– Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;

– Người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại trong trường hợp quy định tại Điều 31 của Luật Tố tụng hành chính;

– Đơn khởi kiện không có đủ nội dung quy định tại khoản 1 Điều 105 của Luật Tố tụng hành chính mà không được người khởi kiện sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 108 của Luật Tố tụng hành chính;

– Hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 1 Điều 11 của Luật Tố tụng hành chính mà người khởi kiện không xuất trình biên lai tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp có lý‎ do chính đáng.

Điều cần nói của quy định tại Điều 109 Luật Tố tụng hành chính là khi trả lại đơn khởi kiện, Tòa án phải có văn bản ghi rõ lý‎ do trả lại đơn kiện để người khởi kiện có căn cứ khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện. Đây là quy định mới giúp cho các đương sự thực hiện quyền khiếu nại khi họ bị Tòa án trả lại đơn khởi kiện không đúng. Bài viết này quý‎ độc giả sẽ được tiếp tục giới thiệu quy định về quyền khiếu nại khi bị trả lại đơn khởi kiện trong vụ án hành chính.

Quyền khiếu nại khi trả lại đơn khởi kiện là quyền cơ bản của người khiếu nại xuất phát từ nhận thức chủ quan khi họ cho rằng quyết định trả lại đơn khởi kiện của Tòa án là không đúng, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nếu không quy định về quyền khiếu nại khi trả lại đơn khởi kiện thì sẽ có những trường hợp bất cập xảy ra khi quyết định trả lại đơn là theo ‎‎ý thức chủ quan của Tòa án. Quyền khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện được quy định tại Điều 101 Luật Tố tụng hành chính, theo đó trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện, người khởi kiện có quyền khiếu nại với Chánh án Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện, nếu người khởi kiện xét thấy việc trả lại đơn khởi kiện của mình với lý‎ do Tòa án đưa ra không đúng như các trường hợp pháp luật đã nêu trên thì có quyền khiếu nại.

Khi Chánh án Tòa án nhận được khiếu nại của người khởi kiện về việc trả lại đơn khởi kiện thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh án Tòa án phải ra một trong các quyết định sau:

– Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện và thông báo cho đương sự, Viện Kiểm sát cùng cấp biết;

– Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.

Trường hợp người khởi kiện không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Chánh án Tòa án thì trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khởi kiện có quyền khiếu nại với Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết và đây là quyết định giải quyết cuối cùng. Nếu quyết định giải quyết khiếu nại của Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp về việc trả lại đơn khởi kiện là không đúng theo quy định của pháp luật thì Tòa án phải nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo để tiến hành thụ lý‎ vụ án.

Nếu Thẩm phán được phân công xem xét đơn khởi kiện xét thấy vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết thì thông báo cho người khởi kiện biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí; trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì thông báo cho người khởi kiện biết về việc thụ lý vụ án. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí. Toà án thụ lý vụ án vào ngày người khởi kiện xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí.

Trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì ngày thụ lý vụ án là ngày Thẩm phán thông báo cho người khởi kiện biết việc thụ lý.

Người Dân Được Quyền Khởi Kiện Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại / 2023

Những quyết định giải quyết khiếu nại được ban hành sau khi có khiếu nại hoặc là kết quả giải quyết của việc giải quyết khiếu nại mà không có nội dung sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính bị khiếu nại thì đều không được xác định là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.

Hướng dẫn này đã hạn chế quyền khởi kiện của cá nhân, cơ quan, tổ chức đối với các quyết định giải quyết khiếu nại. Điều này không phù hợp với Luật Tố tụng hành chính 2010 và Hiến pháp 2013. Pháp Luật chúng tôi đã nhiều lần phản ánh các trường hợp người dân gặp khó khăn khi khởi kiện các quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại trong lĩnh vực đất đai. Nhiều chuyên gia pháp lý cũng cho rằng hướng dẫn trên của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao là không hợp lý.

Mới đây, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao đã ban hành Nghị quyết 01/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2011 nói trên. Theo Nghị quyết 01/2015, người dân được quyền khởi kiện hành chính đối với các quyết định giải quyết khiếu nại dù có nội dung giữ nguyên hay sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính bị khiếu nại hay không. Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức đã có đơn khởi kiện vụ án hành chính đúng thời hiệu theo Điều 104 Luật Tố tụng hành chính nhưng bị tòa trả lại đơn khởi kiện hoặc đình chỉ việc giải quyết vụ án với lý do quyết định giải quyết khiếu nại không thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính mà trong thời hạn một năm kể từ ngày Nghị quyết 01/2015 có hiệu lực (1-3), nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức tiếp tục có đơn khởi kiện vụ án hành chính thì tòa thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.

Bên cạnh đó, một thay đổi đáng chú ý khác là trong trường hợp đối tượng khởi kiện ghi trong đơn không thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính thì tòa giải thích cho người khởi kiện biết để người khởi kiện sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện về đối tượng khởi kiện trong thời hạn được hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 02/2011. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao đề nghị các tòa phản ánh về TAND Tối cao để có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời.

HỒNG HÀ

Giải Quyết Khiếu Nại Về Thi Hành Án Dân Sự (Lần 2) / 2023

Thông tin thủ tục hành chính Giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự (lần 2) – Bộ Tư pháp

Thời hạn giải quyết:

– 30 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại đối với quyết định, hành vi về thi hành án trước khi áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế – 05 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại đối với quyết định về áp dụng biện pháp phong toả tài khoản và quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp bảo đảm khác – 45 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp cưỡng chế Trường hợp cần thiết, đối với những vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại – 30 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại đối với quyết định, hành vi sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế – Trường hợp ở vùng sâu, vùng xa, đường sá xa xôi, đi lại khó khăn, vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại

Cách thực hiện thủ tục hành chính Giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự (lần 2) – Bộ Tư pháp

 Trình tự thực hiện

Bước 1:

Bước 2:

Bước 3:

Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai phải ra quyết định giải quyết khiếu nại

Bước 4:

Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai có hiệu lực thi hành

 Điều kiện thực hiện

Nội dung Văn bản quy định

Chưa có văn bản!

Thành phần hồ sơ của thủ tục hành chính Giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự (lần 2) – Bộ Tư pháp

Đơn của người khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; họ, tên, địa chỉ của người khiếu nại; họ, tên, địa chỉ của người bị khiếu nại; nội dung khiếu nại, lý do khiếu nại và yêu cầu giải quyết. Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ

Nếu trình bày trực tiếp nội dung khiếu nại tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì người có trách nhiệm tiếp nhận việc khiếu nại phải hướng dẫn người khiếu nại viết thành đơn hoặc ghi lại nội dung theo quy định, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại

Nếu khiếu nại thông qua người đại diện thì người đại diện phải có giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của việc đại diện

Bản sao Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu

Các biểu mẫu của thủ tục hành chính Giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự (lần 2) – Bộ Tư pháp Phí và lệ phí của thủ tục hành chính Giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự (lần 2) – Bộ Tư pháp Cơ sở pháp lý của thủ tục hành chính Giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự (lần 2) – Bộ Tư pháp

Lược đồ Giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự (lần 2) – Bộ Tư pháp

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bàn Về Vấn Đề Giải Quyết Khiếu Nại Trả Lại Đơn Khởi Kiện Vụ Án Dân Sự / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!