Đề Xuất 11/2022 # Bàn Về Hành Vi Pháp Luật Và Hành Vi Đạo Đức / 2023 # Top 19 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 11/2022 # Bàn Về Hành Vi Pháp Luật Và Hành Vi Đạo Đức / 2023 # Top 19 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bàn Về Hành Vi Pháp Luật Và Hành Vi Đạo Đức / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1. Hành vi của con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như tâm lí học, xã hội học, luật học… Là hình thức biểu hiện của ý thức con người ra ngoài thế giới khách quan, hành vi là xử sự của con người trong hoàn cảnh, điều kiện cụ thể, “được biểu hiện ra ngoài bằng những lời nói, cử chỉ nhất định hoặc bằng sự thiếu vắng những lời nói, cử chỉ nhất định”. Theo cách hiểu này, hành vi có hai hình thức biểu hiện là hành động hoặc không hành động và khi nói đến hành vi của con người là bao gồm cả hành vi có ý thức và hành vi vô thức.

Trong đời sống xã hội, các cá nhân có hoàn cảnh, điều kiện sống khác nhau với những nhu cầu, lợi ích khác nhau. Để thoả mãn nhu cầu, lợi ích của mình, mỗi chủ thể có những phương pháp, cách thức riêng. Trong cùng điều kiện, hoàn cảnh, các chủ thể khác nhau sẽ có thể có những cách xử sự khác nhau. Thực tế cho thấy có những hành vi vừa đáp ứng nhu cầu, mục đích của chủ thể đồng thời cũng phù hợp với lợi ích của người khác cũng như toàn thể cộng đồng. Ngược lại, có những hành vi chỉ thoả mãn nhu cầu của chủ thể nhất định nhưng lại xâm phạm tới lợi ích của người khác, xâm phạm tới lợi ích chung của cộng đồng, đi ngược với mong muốn chung của xã hội. Điều đó làm cho đời sống xã hội mất đi sự ổn định, trật tự, thậm chí trở nên hỗn loạn.

Giữa hành vi pháp luật và hành vi đạo đức, có những điểm giống nhau cơ bản sau đây:Một là hành vi pháp luật và hành vi đạo đức là những hành vi phổ biến nhất trong đời sống xã hội. Có thể nói, trong các hành vi xã hội của con người thì hành vi đạo đức và hành vi pháp luật chiếm tỉ trọng lớn nhất. Từ những xử sự trong gia đình, trường học cho đến các xử sự nơi làm việc hay khi tham gia vào bất cứ quan hệ xã hội nào, phần nhiều trong đó đều là những hành vi pháp luật, hành vi đạo đức.

Hai là hành vi pháp luật và hành vi đạo đức đều mang tính chất lịch sử xã hội. Qua mỗi thời kì lịch sử, con người có những hành vi khác nhau, cách thức thực hiện khác nhau, công cụ, phương tiện hỗ trợ khác nhau… Mặt khác, qua các thời kì lịch sử khác nhau, nội dung pháp luật và đạo đức cũng có sự thay đổi, bởi vậy, có hành vi thời kì này được coi là hành vi pháp luật nhưng thời kì khác lại không phải là hành vi pháp luật, có hành vi thời kì này là hành vi hợp pháp, thời kì khác lại bị coi là hành vi trái pháp luật. Điều này cũng hoàn toàn tương tự đối với hành vi đạo đức. Chẳng hạn, ở Việt Nam, trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá, tập trung, trong số hành vi pháp luật không có hành vi mua bán các loại chứng khoán; tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, hành vi này ngày càng trở nên phổ biến. Trước đây, để thực hiện hành vi kí kết hợp đồng, các chủ thể phải trực tiếp gặp gỡ nhau bàn bạc, thoả thuận, đi đến thống nhất và kí kết, ngày nay nhờ sự hỗ trợ của các phương tiện kĩ thuật, hành vi “thương mại điện tử” dần trở thành quen thuộc với mọi người.Ba là hành vi pháp luật và hành vi đạo đức đều chịu sự chi phối của những nhân tố sau đây:

– Điều kiện kinh tế-xã hội: Đây là yếu tố tác động khá mạnh mẽ đến hành vi con người. Chúng ta biết rằng nhu cầu chính là nguồn gốc, động lực của hành vi con người mà nhu cầu của con người lại phụ thuộc vào điều kiện kinh tế-xã hội. Bởi vậy, suy đến cùng, hành vi con người phụ thuộc vào điều kiện kinh tế-xã hội, nói cách khác, chính điều kiện kinh tế-xã hội quy định nguồn gốc, động lực, xu hướng của hành vi pháp luật và hành vi đạo đức. Kinh tế càng thấp kém, nhu cầu càng đơn giản, kinh tế càng phát triển, nhu cầu con người ngày mở rộng và nâng cao. Đồng thời, điều kiện kinh tế-xã hội còn là cơ sở hiện thực hoá hành vi con người bởi lẽ điều kiện kinh tế chính là nhân tố đảm bảo cho pháp luật, đạo đức đi vào cuộc sống, trở thành hành vi thực tế của các cá nhân, tổ chức trong xã hội.

– Điều kiện, hoàn cảnh sống: Yếu tố này cũng có ảnh hưởng khá lớn đến hành vi pháp luật và hành vi đạo đức của mỗi cá nhân. Sống trong điều kiện vật chất thiếu thốn dễ làm nảy sinh những hành vi tiêu cực, “đói ăn vụng, túng làm liều” là vì thế. Ngược lại, kiếm tiền một cách quá dễ dàng, điều kiện vật chất đầy đủ đến mức quá dư thừa cũng dễ làm con người ta ý thức không đúng đắn về giá trị của tiền bạc, của lao động, dẫn tới chi tiêu hoang phí, sống buông thả, “nhàn cư vi bất thiện” là như thế. Gia đình, khu dân cư, nhà trường, nơi công tác… cũng là những yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến hành vi con người. Một gia đình có gia pháp, có kỉ cương, nền nếp là cơ sở đảm bảo rất quan trọng để hành vi của các thành viên trong gia đình hợp pháp, phù hợp đạo đức. Ngược lại, nếu trong gia đình cha mẹ không có sự nêu gương, bản thân cha mẹ cũng có những hành vi trái pháp luật, trái đạo đức xã hội thì con cái cũng dễ có khả năng thực hiện những hành vi đó.

– Yếu tố ý thức cá nhân: Ý thức cá nhân, bao gồm trình độ văn hoá, hiểu biết pháp luật, đạo đức, quan điểm, quan niệm sống… có sự chi phối rất mạnh mẽ tới hành vi của con người. Điều kiện kinh tế-xã hội, hoàn cảnh sống… tác động đến hành vi mỗi người cũng đều thông qua lăng kính ý thức cá nhân của họ. Do vậy, có thể khẳng định ý thức cá nhân là yếu tố tác động trực tiếp và quan trọng nhất tới hành vi con người.

Một là nhân tố điều chỉnh hành vi: Hành vi pháp luật chịu sự tác động trực tiếp của quy phạm pháp luật, nói một cách cụ thể, chỉ khi có quy phạm pháp luật, các thành viên trong xã hội mới biết một cách chính xác cách xử sự mà nhà nước yêu cầu, đòi hỏi đối với mình. Chỉ một số ít trường hợp khi chưa có các quy phạm pháp luật, những quan niệm, quan điểm, tư tưởng pháp lí, những nguyên tắc, định hướng của pháp luật… mới phát huy vai trò thay thế cho các quy phạm pháp luật để điều chỉnh hành vi con người. Tất nhiên, điều này cần phải hết sức hạn chế, bởi minh bạch là một trong những thuộc tính vốn có của pháp luật.

Trong khi đó, có thể nói hành vi đạo đức trực tiếp chịu sự chi phối của các quan điểm, quan niệm, tư tưởng đạo đức. Nắm được các quan niệm, tư tưởng đạo đức là xác định được những hành vi nên làm, phải làm trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể, xác định. Do vậy, để điều chỉnh hành vi con người bằng đạo đức, vấn đề cơ bản và quan trọng là truyền bá, giáo dục các quan niệm, tư tưởng đạo đức. Những quan niệm, quan điểm, tư tưởng đạo đức xã hội được đề ra cho mọi đối tượng, tuy nhiên, các cá nhân do tuổi tác, trình độ nhận thức, nghề nghiệp, chức vụ… khác nhau nên nhận thức của họ về các quan điểm, tư tưởng đạo đức xã hội có sự khác nhau. Chính vì vậy, đạo đức xã hội thường không cứng nhắc mà khá uyển chuyển, linh hoạt, cho phù hợp với các chủ thể, trong các điều kiện, hoàn cảnh. Sự đánh giá về tính phù hợp hay không phù hợp đạo đức từ phía xã hội về hành vi cụ thể nào đó vì thế cũng không cố định, cứng nhắc. Chẳng hạn, không phải trong mọi trường hợp nói dối đều là không trung thực. Trong trường hợp nhất định, bác sĩ hay con cái hoàn toàn có thể không cần phải nói đúng sự thật về bệnh tật của cha mẹ mình.Hai là chủ thể của hành vi

Chủ thể của hành vi pháp luật là người có năng lực hành vi pháp luật. Tùy từng hành vi pháp luật cụ thể, pháp luật có các quy định tiêu chuẩn năng lực cụ thể để thực hiện hành vi đó. Thông thường, một người được coi là có năng lực hành vi pháp luật khi có sự hoàn thiện về thể chất, đủ sức khỏe để thực hiện hành vi, có trạng thái thần kinh bình thường, nhận thức và điều khiển được hành vi của mình, đạt đến độ tuổi nhất định do pháp luật quy định.

Chủ thể của hành vi đạo đức cũng phải là người có năng lực hành vi đạo đức. Tuy nhiên, năng lực hành vi đạo đức xuất hiện rất sớm, nó xuất hiện ngay từ khi con người thực hiện những hành vi có ý thức đầu tiên. Khi em bé bắt đầu biết nhận thức về những phạm trù đạo đức sơ đẳng nhất là lúc hành vi của nó được xem xét, đánh giá dưới góc độ đạo đức, theo phương châm “tre non dễ uốn” (trúc nộn dị kiểu). Như vậy, đạo đức điều chỉnh hành vi không kể tuổi tác của con người.

Ba là giới hạn của hành vi pháp luật và hành vi đạo đức

Có thể nói hành vi của con người phần lớn chịu sự điều chỉnh của pháp luật và đạo đức. Đối với mỗi người, cho dù ở đâu, bao giờ, khi nào cũng luôn phải chú ý đối nhân, xử thế sao cho phù hợp với các chuẩn mực đạo đức cũng như pháp luật. Xã hội “không thể một ngày thiếu pháp luật”,(4) nói cách khác, pháp luật chi phối hành vi hàng ngày của con người. Đạo đức là yếu tố tinh thần không thể tách rời hành vi của con người, không thể thiếu được trong đời sống của mỗi con người. Chính vì vậy, việc xác định ranh giới giữa hành vi pháp luật và hành vi đạo đức là hết sức khó khăn.

Trước hết, cần nhấn mạnh rằng việc xác định hành vi cụ thể là hành vi pháp luật hay hành vi đạo đức chỉ có ý nghĩa tương đối. Cùng hành vi, xét theo hệ thống pháp luật này là hành vi pháp luật nhưng xét theo hệ thống pháp luật khác có thể không phải là hành vi pháp luật. Điều này là do các hệ thống pháp luật được xây dựng trên nền tảng kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, đạo đức, truyền thống, tín ngưỡng… khác nhau, vì vậy, nội dung cũng như cách thức tác động của chúng đến các quan hệ xã hội là khác nhau. Chẳng hạn, theo pháp luật phong kiến Việt Nam, hành vi sinh con thứ ba trở lên không phải là hành vi pháp luật, tuy nhiên, theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, hành vi này bị coi là vi phạm pháp luật.(5) Đối với hành vi đạo đức, điều này cũng hoàn toàn tương tự. Xét theo hệ thống pháp luật hay nền đạo đức nhất định, hành vi cụ thể có thể chỉ là hành vi pháp luật hoặc chỉ là hành vi đạo đức; có thể vừa là hành vi pháp luật vừa là hành vi đạo đức và cũng có thể không phải hành vi pháp luật cũng không phải hành vi đạo đức. Có những hành vi được pháp luật điều chỉnh nhưng đạo đức không điều chỉnh chúng, nói cách khác, chúng chỉ là hành vi pháp luật mà không phải là hành vi đạo đức. Những hành vi thực hiện quy trình kĩ thuật do pháp luật quy định, những hành vi thực hiện trình tự, thủ tục pháp lí… chỉ là hành vi pháp luật. Ngược lại, có những hành vi được đạo đức điều chỉnh nhưng pháp luật không điều chỉnh, những hành vi thể hiện tình làng nghĩa xóm “tối lửa tắt đèn có nhau”, thăm hỏi nhau lúc ốm đau, giúp đỡ nhau bằng công sức, tiền bạc; những hành vi thể hiện tinh thần, tương thân, tương ái giữa con người với nhau trong cộng đồng… chỉ có thể là hành vi đạo đức.

Nhìn chung, những hành vi được pháp luật điều chỉnh thì thường cũng được đạo đức điều chỉnh, do vậy mà sự chồng lấn giữa hành vi pháp luật và hành vi đạo đức là rất lớn. Nội dung những quy định cụ thể của pháp luật và đạo đức có thể thống nhất hoặc mâu thuẫn nhau, nói cách khác, sự điều chỉnh của pháp luật và đạo đức có thể là thuận chiều cũng có thể là ngược chiều. Chính vì thế, hành vi nhất định có thể vừa hợp pháp vừa hợp đạo đức; hợp pháp nhưng không hợp đạo đức; hợp đạo đức nhưng không hợp pháp; vừa không hợp pháp vừa không hợp đạo đức. Chẳng hạn, theo các chuẩn mực pháp luật và đạo đức hiện hành ở Việt Nam, những hành vi của cha mẹ trong việc nuôi dạy, chăm sóc con cái vừa hợp pháp, vừa hợp đạo đức. Theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985, việc cha mẹ không tố giác hành vi phạm tội do con mình thực hiện bị coi là vi phạm pháp luật(6) nhưng xét về mặt đạo đức, hành vi này có thể được coi là phù hợp đạo đức xã hội. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trong xã hội, bên cạnh các quan niệm, quan điểm, quy tắc đạo đức chung của toàn xã hội còn có đạo đức của các giai cấp, tầng lớp; đạo đức của các tôn giáo; đạo đức của các thiết chế xã hội… trong đó các quan niệm, quan điểm, quy tắc đạo đức này chưa hẳn đã thống nhất, đồng bộ với nhau. Bởi vậy, hành vi cụ thể có thể là hợp chuẩn đối với hệ thống đạo đức này nhưng lại có thể lệch chuẩn đối với hệ thống đạo đức khác. Tất nhiên, đạo đức chung của toàn xã hội, đạo đức của giai cấp cầm quyền vẫn có sức chi phối mạnh mẽ nhất đối với hành vi của các thành viên trong xã hội.

Trong giới hạn nào đó, hành vi con người có thể vừa là hành vi pháp luật, vừa là hành vi đạo đức nhưng vượt ra ngoài giới hạn đó thì chỉ là hành vi đạo đức. Chẳng hạn, trường hợp gặp người bị nạn, pháp luật chỉ buộc chủ thể phải thực hiện hành vi cứu giúp, tức là làm cho người đó thoát khỏi sự nguy hiểm đến tính mạng, trong khi đó, đạo đức đòi hỏi rộng hơn nhiều, nó không chỉ yêu cầu chủ thể phải thực hiện hành vi giúp người bị nạn thoát khỏi sự nguy hiểm đến tính mạng mà còn đòi hỏi chủ thể phải có những những hành vi giúp đỡ về vật chất cũng như về tinh thần khác. Trong trường hợp này, hành vi đưa người đang chới với giữa dòng nước chảy xiết vào bờ, đưa người bị tai nạn giao thông vào bệnh viện cấp cứu… vừa là hành vi pháp luật, vừa là hành vi đạo đức nhưng những hành vi như giúp đỡ tiền bạc, động viên, an ủi, đưa về nhà chăm sóc… không còn là hành vi pháp luật, nó chỉ còn được đánh giá về mặt đạo đức. Ngược lại, hành vi nhất định nào đó có thể được đánh giá về mặt đạo đức không phụ thuộc vào tính chất và mức độ nhưng hành vi này chỉ bị đánh giá về mặt pháp luật khi tác động, ảnh hưởng ở mức độ nhất định đối với đời sống xã hội. Chẳng hạn, hành vi nói dối, hành vi “sống thử”, “sống gấp”… luôn bị đánh giá về mặt đạo đức. Tuy nhiên, những hành vi này chỉ được đánh giá về mặt pháp luật trong những trường hợp nhất định.(7) Hành vi gây thiệt hại cho xã hội chỉ trở thành đối tượng của pháp luật khi thiệt hại mà nó gây ra ở mức độ nào đó. Người ta không cần xử lí bằng pháp luật đối với hành vi trộm cắp những tài sản nhỏ nhặt.

Pháp luật chỉ điều chỉnh các hành vi xã hội đã tồn tại một cách khách quan, phổ biến, điển hình, ổn định ở mức độ nhất định, còn đạo đức do tính chất mềm dẻo và linh động, nó điều chỉnh các hành vi xã hội ngay từ khi nó mới manh nha hình thành. Chẳng hạn, những hành vi mang thai hộ; cho, nhận trứng, tinh trùng, các bộ phận trên cơ thể người; hiến xác hoặc các bộ phận trên cơ thể sau khi chết… đầu tiên xảy ra trong đời sống được đánh giá về mặt đạo đức… Nhưng những hành vi này chỉ trở thành hành vi pháp luật khi đã trở nên phổ biến và ổn định tương đối. Tóm lại, cả pháp luật và đạo đức đều không thể điều chỉnh tất cả các hành vi con người. Pháp luật chỉ có thể điều chỉnh những hành vi thể hiện lí trí, ý chí của chủ thể, trong khi đó, đạo đức điều chỉnh cả những hành vi chịu sự chi phối bởi tình cảm của con người.

Bốn là cơ chế tâm lí của hành vi

Như đã đề cập, hành vi của con người là hành vi có ý thức, bởi vậy, đánh giá hành vi pháp luật và hành vi đạo đức của con người không chỉ xem xét biểu hiện bên ngoài của nó mà còn cần phân tích cơ chế tâm lí của chúng. Cơ chế tâm lí của hành vi pháp luật và hành vi đạo đức là quá trình rất phức tạp, nó bao gồm việc hình thành động cơ hành vi, lựa chọn và quyết định phương án hành vi, hiện thực hoá hành vi, tự đánh giá về hành vi đã thực hiện.

Khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, trên cơ sở sự hiểu biết của chủ thể cũng như thái độ, tình cảm của bản thân đối với pháp luật cũng như đạo đức xã hội, từ vốn sống, nhân cách, từ sự hiểu người, hiểu mình, sự ý thức về vị trí và vai trò của bản thân mình, xuất phát từ tình cảm của cá nhân về đối tượng của hành vi, trên cơ sở sự dự liệu về những hậu quả có thể phải gánh chịu cũng như thái độ của bản thân đối với những hậu quả đó… (gọi chung là ý thức cá nhân bao gồm tri thức, tình cảm, ý chí, động cơ, mục đích…), chủ thể tự lựa chọn cho mình phương án hành vi cụ thể. Sau khi đã quyết định lựa chọn phương án xử sự cụ thể, chủ thể hiện thực hoá sự lựa chọn đó bằng cách tiến hành hoặc không tiến hành những thao tác, cử chỉ, lời nói nhất định. Sau khi hành vi được thực hiện, các chủ thể thường có sự tự đánh giá về nó. Khi đó, về mặt tâm lí, chủ thể có thể thoả mãn, bằng lòng, hưng phấn hoặc ngược lại là sự ăn năn, ân hận, sợ hãi… Trong toàn bộ cơ chế này, các yếu tố lí trí, ý chí, tình cảm, thói quen… giữ vai trò khác nhau đối với mỗi loại hành vi.

Đối với hành vi đạo đức, yếu tố tình cảm, yếu tố thói quen đóng vai trò rất quan trọng. Có thể nói, tình cảm là yếu tố quan trọng nhất đối với hành vi đạo đức. Nếu không có tình cảm đạo đức thì các khái niệm đạo đức, các phạm trù luân lí, những tri thức thu được về thiện ác, công bằng, lương tâm, danh dự… chỉ được nhận thức ở mức độ ghi nhận thông tin mà không có cơ sở để chuyển hoá thành động cơ của hành vi. Bằng tình cảm đạo đức, chủ thể không cần phải do dự khi lựa chọn hành vi cần thực hiện đồng thời lại tích cực, say mê thực hiện hành vi với quyết tâm cao độ… Yếu tố tình cảm chi phối, ảnh hưởng đến tất cả các giai đoạn trong diễn biến tâm lí của hành vi, từ việc hình thành động cơ cho đến sự tự đánh giá về hành vi của mình. Nhiều khi, tình cảm còn làm con người “mất” lí trí, thực hiện hành vi không có sự kiểm soát của lí trí. Xuất phát từ vai trò quan trọng của yếu tố tình cảm đối với hành vi đạo đức, cho nên khi đánh giá về hành vi đạo đức, người ta không chỉ đánh giá sự phù hợp hay không phù hợp về hình thức của hành vi đối với các chuẩn mực đạo đức xã hội. Bởi vậy, có những hành vi mặc dù về hình thức là phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội nhưng vẫn bị chê cười, bị coi là giả tạo, là “chơi ngông”… Trong khi đó, đối với hành vi pháp luật, yếu tố lí trí, ý chí lại thể hiện vai trò quan trọng hơn, bởi vậy, trong việc đánh giá hành vi pháp luật, chỉ cần đánh giá về lí trí và sự tự do ý chí mà thôi.

Có thể nói, đạo đức là yếu tố điều chỉnh gần gũi nhất đối với hành vi con người. Chính vì thế, những quan niệm, quan điểm, tư tưởng đạo đức được truyền bá hết sức sâu rộng trong xã hội, bởi vậy, nó đã ăn sâu, bám rễ một cách chắc chắn trong mỗi người, nó chi phối hoạt động hàng ngày, hàng giờ của con người. Nhiều hành vi đạo đức vì thế đã trở thành tập quán, truyền thống của cộng đồng, thậm chí có những hành vi đạo đức đã trở thành vô thức, chúng xảy ra tự động ngay cả khi không có sự điều khiển của ý thức.

Năm là biện pháp tác động đến hành vi

Để đạt được mục đích điều chỉnh, pháp luật và đạo đức có những phương pháp, cách thức tác động riêng, mang tính đặc thù. Hành vi pháp luật chịu sự tác động bởi các biện pháp nhà nước. Tuỳ điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, nhà nước có thể sử dụng một hoặc kết hợp các biện pháp khác nhau, từ tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, đến khen thưởng, xử phạt. Thực hiện sự tác động này, nhà nước có bộ máy chuyên môn với đầy đủ sức mạnh được tổ chức từ trung ương xuống địa phương. Để đảm bảo tăng cường hành vi hợp pháp, giảm thiểu hành vi trái pháp luật, khi cần thiết, nhà nước có thể sử dụng các biện pháp cưỡng chế đã được quy định, gây ra những bất lợi về vật chất, tinh thần, thậm chí cả tính mạng đối với người vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, tất cả những biện pháp tác động của nhà nước đều chỉ là sự tác động từ bên ngoài đối với chủ thể, nó chỉ được thực hiện trong hiện tại và chỉ có hiệu lực trong thời gian nhất định.

Trong khi đó, tác động đến hành vi đạo đức chủ yếu và trước hết là biện pháp giáo dục, thuyết phục, nói cách khác, thông qua sự tác động vào ý thức chủ thể mà tác động đến hành vi đạo đức của họ. Thông qua gia đình, nhà trường, các thiết chế xã hội, thông qua giao tiếp hàng ngày, thông qua con đường tự ý thức, tự đánh giá… những chuẩn mực đạo đức xã hội tác động đến ý thức chủ thể, được chủ thể tiếp thu, hấp thụ, được nội tâm hoá trở thành tri thức, tình cảm, nghĩa vụ, trách nhiệm đạo đức của họ. Trên cơ sở đó, mỗi người tự xây dựng phương châm ứng xử cho mình trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, tự nguyện, tự giác thực hiện hành vi theo yêu cầu, đòi hỏi của các chuẩn mực đạo đức xã hội. Bên cạnh đó, dư luận xã hội là biện pháp tác động hết sức mạnh mẽ đến hành vi đạo đức của các chủ thể. Dư luận xã hội tác động đến chủ thể hàng ngày, hàng giờ, ở mọi nơi, mọi lúc, diễn ra lâu dài, dai dẳng, thậm chí trở thành “bia miệng ngàn năm”. Sự xấu hổ và lòng tự trọng khiến không ai có thể bỏ qua dư luận xã hội, đặc biệt đối với những người trọng danh dự thì sự tác động của dư luận càng trở nên có hiệu quả. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng tác động đến hành vi con người, cưỡng chế nhà nước cũng như sự tác động của dư luận xã hội đều có những hạn chế của nó. Sự tác động theo kiểu “nói xuông” của dư luận xã hội sẽ trở nên kém hiệu quả, thậm chí là vô tác dụng đối với những kẻ bất lương, không biết xấu hổ, không có lòng tự trọng. Tương tự, biện pháp cưỡng chế nhà nước không phải khi nào cũng đem lại hiệu quả như mong muốn. Ở khá nhiều người, trong tư duy của họ không có khái niệm sợ hãi, để đạt được mục đích, họ chấp nhận đánh đổi cả danh dự, sự tự do, thậm chí kể cả tính mạng của bản thân. Bởi vậy, trong công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật, việc tăng cường các biện pháp cưỡng chế, nâng cao mức chế tài không phải khi nào cũng có ý nghĩa. Ở góc độ khác, nói như Khổng Tử, sử dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước để tác động “tuy có thể giảm được phạm pháp, nhưng người phạm pháp không biết xấu hổ, sỉ nhục, vì vậy không thể xoá bỏ được gốc rễ của sự vi phạm. Điều này cho thấy trong quản lí xã hội, cần có sự kết hợp chặt chẽ các biện pháp tác động của pháp luật và đạo đức, nhằm điều chỉnh có hiệu quả nhất đối với hành vi con người.

Trước hết, trong công tác xây dựng pháp luật, nhận thức sâu sắc giới hạn của hành vi pháp luật giúp các chủ thể có thẩm quyền xác định đúng đối tượng tác động của pháp luật để có thể điều chỉnh có hiệu quả đối với chúng. Như đã phân tích, pháp luật chỉ có thể điều chỉnh được các hành vi bị chi phối bởi ý chí, lí trí của chủ thể, nó không thể điều chỉnh những hành vi bị chi phối bởi tình cảm con người. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam hiện hành quy định cha mẹ có nghĩa vụ và quyền yêu thương con; con cháu có bổn phận kính trọng ông bà, cha mẹ; vợ chồng yêu thương, quý trọng nhau… Chúng tôi cho rằng vấn đề này phải được suy nghĩ một cách cẩn trọng hơn. Chúng ta đều biết kính trọng, yêu thương là những phạm trù tình cảm, nằm sâu trong ý thức mỗi người, chỉ đạo đức mới có thể tác động đến. Pháp luật không thể cho phép hay bắt buộc người này phải yêu thương, quý trọng người khác. Để thể hiện sự yêu thương, quý trọng… các chủ thể phải thực hiện từ những hành vi “nhỏ nhặt”, đời thường đến những hành vi có ý nghĩa cực kì to lớn, thậm chí hi sinh cả tính mạng bản thân vì người mà mình yêu thương, kính trọng. Tất cả những hành vi đó đòi hỏi chủ thể phải thực hiện chúng bằng sự tự nguyện, tự giác, tích cực mà không phải dựa trên bất cứ sự cưỡng bức nào từ bên ngoài. Mặt khác, trong lĩnh vực tình cảm, hành vi chưa chắc đã phản ánh đúng mục đích, ý nghĩa đích thực của nó. Chẳng hạn, người Việt Nam có triết lí “bằng mặt không bằng lòng”; “yêu cho roi cho vọt”… Vì thế, chỉ thông qua hành vi, không thể đánh giá được sự yêu thương hay quý trọng mà vấn đề này chỉ “người trong cuộc” mới cảm nhận được. Sự quy định như trên là vượt quá giới hạn điều chỉnh của pháp luật, là sự “lấn sân” của pháp luật đối với đạo đức. Thiết nghĩ, thay vì quy định như hiện nay, pháp luật nên quy định rõ hành vi nào là không yêu thương, không tôn trọng, không biết ơn… nếu xét thấy cần phải tác động để giảm thiểu nó. Lịch sử pháp luật Việt Nam dưới thời phong kiến cũng đã để lại những kinh nghiệm lập pháp cần tham khảo.

Thứ hai, trong điều chỉnh hành vi con người, cần có sự kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa pháp luật với đạo đức. Muốn vậy, hoạt động xây dựng pháp luật phải được tiến hành trên nền tảng đạo đức, phù hợp với các chuẩn mực đạo đức, ghi nhận, thể chế hoá các chuẩn mực đạo đức. Tuy nhiên, pháp luật có đặc trưng riêng, khác hẳn đạo đức xã hội ở tính xác định về hình thức, do vậy, việc ghi nhận, thể chế hoá các chuẩn mực đạo đức xã hội thành pháp luật phải đảm bảo sự cụ thể, rõ ràng, đảm bảo tính khả thi của pháp luật.

Tuy nhiên, trên thực tế, trong nhiều trường hợp, sự pháp luật hoá các quan niệm, quan điểm đạo đức còn khá chung chung. Chẳng hạn, Điều 128 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung trái đạo đức xã hội thì vô hiệu”. Điều 15 Luật thương mại năm 1998; Điều 6 Luật doanh nghiệp năm 1999 đều quy định cấm lưu thông hàng hoá, cung ứng dịch vụ, kinh doanh ngành nghề gây phương hại đến truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức, thuần phong mĩ tục Việt Nam. Điều 7 Luật tổ chức toà án năm 2002 quy định: “Toà án xét xử công khai, trừ trường hợp cần xét xử kín để bảo vệ truyền thống tốt đẹp của dân tộc”… Vấn đề đặt ra, đạo đức xã hội, truyền thống, thuần phong, mĩ tục của dân tộc cần được hiểu như thế nào? Điều 128 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng”. Tuy nhiên, đạo đức xã hội thường rất phức tạp, bao gồm đạo đức của các giai cấp, tầng lớp, đạo đức của các tôn giáo, đạo đức của các thiết chế nghề nghiệp… Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, về cơ bản, các chuẩn mực đạo đức này mặc dù không đối lập nhau nhưng không hoàn toàn đồng nhất với nhau. Mặt khác, trong đời sống xã hội đang diễn ra sự thay đổi trong các quan niệm, quan điểm đạo đức, nhiều chuẩn mực đạo đức cũ đang được nhận thức lại… Ở khía cạnh khác, đạo đức xã hội thường tồn tại ở dạng không thành văn nên nó không có tính xác định chặt chẽ như pháp luật. Các chuẩn mực đạo đức xã hội thường chỉ mang tính định hướng, sự nhận thức của mỗi người về các chuẩn mực đạo đức thường có sự khác nhau, vì vậy, xử sự của họ khó có thể thống nhất. Sự đánh giá về tính phù hợp hay không phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội đối với hành vi cụ thể vì thế cũng không thể cố định. Chính vì vậy, theo chúng tôi, cách quy định như trên đã làm cho những quy định đó trở nên khó hiểu, gây khó khăn cho các chủ thể trong việc thực hiện chúng.

Thứ ba, để tăng cường hành vi vừa hợp pháp vừa hợp đạo đức đồng thời giảm thiểu hành vi trái pháp luật cũng như đạo đức xã hội, trong công tác tổ chức thực hiện pháp luật, cần hết sức coi trọng việc giáo dục pháp luật, đạo đức. Giáo dục pháp luật, đạo đức chính là cầu nối để đưa pháp luật và đạo đức vào cuộc sống, nó có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao tri thức pháp luật, đạo đức, xây dựng thái độ, tình cảm đúng mực đối với pháp luật và đạo đức, qua đó từng bước hình thành thói quen xử sự theo pháp luật đồng thời coi trọng các giá trị đạo đức xã hội. Giáo dục pháp luật và đạo đức còn góp phần quan trọng trong việc hình thành và hoàn thiện nhân cách, hoàn thiện năng lực cá nhân, định hướng hành vi con người đến chân, thiện, mĩ, nhân đạo, giảm trừ cái ác, cái bất công… Hoạt động này có ý nghĩa rất lớn trong việc xây dựng quan điểm sống có quy tắc, có chuẩn mực, tôn trọng người khác, tôn trọng cộng đồng. Trong hoạt động này, cần phát huy thật tốt vai trò của gia đình, nhà trường, cơ quan, tổ chức, các vị già làng, trưởng bản, các vị bô lão… Gia đình là nơi sinh thành và là môi trường sinh hoạt hàng ngày của mỗi người. Gia đình là tế bào, là hạt nhân của xã hội. Muốn cho xã hội tốt thì gia đình càng phải tốt. Vì vậy cần nêu cao trách nhiệm của gia đình trong việc giáo dục đạo đức, hình thành nhân cách con người, làm cho gia đình thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội. Nhà trường là thiết chế rất quan trọng trong công tác giáo dục đạo đức, pháp luật bởi nó thực hiện đồng thời các chức năng dạy chữ, dạy nghề và dạy người. Sau gia đình và đồng thời với gia đình, nhà trường là nơi giúp cho con người hình thành nhân cách, lối sống. Vì vậy trong nhà trường phải coi trọng giáo dục đạo lí làm người, ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, coi trọng công tác giáo dục truyền thống lịch sử dân tộc. Các quan điểm, chuẩn mực đạo đức, pháp luật một khi được lồng ghép trong quá trình truyền bá giáo lí, đức tin sẽ rất dễ dàng thâm nhập vào quần chúng. Vì vậy, cần hết sức coi trọng vai trò của các tổ chức tôn giáo, các vị chức sắc tôn giáo trong việc giáo dục pháp luật, đạo đức. Công tác hoà giải ở cơ sở có ý nghĩa hết sức to lớn trong đời sống cộng đồng, đặc biệt trong điều kiện xã hội có truyền thống coi trọng đạo lí như Việt Nam. Hoà giải làm cho vụ việc được giải quyết triệt để, tránh được tình trạng “bằng mặt không bằng lòng”, qua đó giữ được tình làng nghĩa xóm, phát huy tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái trong cộng đồng, góp phần phòng ngừa và hạn chế các vi phạm pháp luật, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, giảm bớt các vụ việc phải giải quyết tại các cơ quan nhà nước, giảm bớt sự tốn kém của người dân về thời gian, tiền bạc. Chính vì vậy, cần nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác hoà giải ở cơ sở, đảm bảo nguyên tắc thấu tình, đạt lí, giải quyết các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân trên cơ sở vận dụng những chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức, phù hợp với các quy định trong pháp luật.

Thứ tư, trong công tác bảo vệ pháp luật, nhà chức trách cần phải kiên trì quan điểm giáo dục thuyết phục trước, cưỡng chế sau, chỉ áp dụng cưỡng chế nhà nước khi không còn biện pháp nào khác. Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế nhà nước phải luôn quán triệt phương châm “đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại”. Nhà nước và xã hội phải luôn tạo mọi điều kiện để những người “lầm đường lạc lối” quay trở lại con đường lương thiện, “làm lại cuộc đời”, tuyệt đối tránh tình trạng đẩy người vi phạm vào đường cùng, “không còn gì để mất”. Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế cốt là để người vi phạm suy nghĩ sâu sắc về hành vi của mình, “hiểu được thế nào là nhục nhã khi phạm tội” và “cam tâm tình nguyện sửa chữa sai lầm của mình tận gốc từ mặt tư tưởng”, có như vậy mới xoá bỏ được tận gốc rễ sự vi phạm. Chính vì vậy, việc theo dõi, giúp đỡ người vi phạm sửa chữa sai lầm, khuyết điểm là điều hết sức cần thiết và có ý nghĩa./.

Theo: “Tạp chí Luật học”

Những Hành Vi Vi Phạm Pháp Luật Hôn Nhân Và Gia Đình / 2023

Những hành vi vi phạm pháp luật hôn nhân và gia đình?. Bố mẹ tôi lấy nhau được 34 năm và có bốn người con. Mấy năm gần đây bố tôi có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác và suốt ngày về đánh vợ chửi con. Chúng tôi đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng bố tôi không nghe. Giờ ông muốn đuổi mẹ con tôi ra khỏi nhà để cho người đàn bà đó nhà và đất. Bố tôi đã viết đơn ly dị và bắt mẹ tôi phải ký nhưng mẹ tôi chưa ký. Tôi muốn hỏi, bố tôi làm như vậy có vi phạm quy định của pháp luật không (sổ đỏ đứng tên bố tôi) và mẹ tôi có được chia tài sản không?

Với câu hỏi như trên, Luật sư tư vấn cho bạn như sau:a. Về các hành vi bạo lực gia đìnhCăn cứ Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 và Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì các hành vi của bố anh/chị như đánh vợ, chửi con, đuổi vợ, con ra khỏi nhà thuộc một trong các hành vi bạo lực gia đình được quy định tại điểm a, điểm b, điểm c khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, đồng thời vi phạm quy định về một trong các hành vi bị cấm được quy định tại điểm h khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình. Tùy theo tính chất và mức độ của hành vi có thể bị xem xét xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự.b. Về mối quan hệ giữa bố của anh/chị với một người phụ nữ khácTheo chị trình bày thì giữa bố của anh/chị với một người phụ nữ khác có mối quan hệ bất chính. Tuy nhiên, Tòa án sẽ không thể căn cứ vào trình bày này để xác định bố của anh/chị có vi phạm quy định của pháp luật không, vì cụm từ quan hệ bất chính là chưa rõ ràng, đồng thời mối quan hệ này có thể được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.Trong trường hợp có căn cứ chứng mình mối quan hệ bất chính này thuộc trường hợp “chung sống như vợ chồng” tức là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì mới có căn cứ để khẳng định bố của anh/chị có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình. Hành vi của người “Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác” có thể bị xử phạt từ 1 triệu đến 3 triệu đồng (điểm b khoản 1 Điều 48 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP).c. Về việc chia tài sản khi ly hônĐể xác định tài sản có trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng hay tài sản chung của vợ chồng thì cần phải căn cứ vào nguồn gốc tạo dựng nên tài sản, không thể chỉ căn cứ vào ai là thực hiện giao dịch hay ai là người đứng tên trên các giấy tờ đó. Do đó, việc chỉ một mình bố của anh/chị đứng tên trên sổ đỏ không phải là căn cứ để xác định quyền sở hữu riêng của của ông đối với tài sản này.Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:” 1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung“.Nếu nhà và đất mà bố bạn đứng tên thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì đó là một trong số những tài sản chung của vợ chồng, sẽ được chia khi ly hôn.

Nội dung tư vấn trên website chỉ mang tính tham khảo, cần Luật sư tư vấn chi tiết quý khách vui lòng gọi 1900 6280

Một Số Hành Vi Vi Phạm Pháp Luật Hôn Nhân Và Gia Đình / 2023

Căn cứ Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007 và Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì các hành vi của bố anh/chị như đánh vợ, chửi con, đuổi vợ, con ra khỏi nhà thuộc một trong các hành vi bạo lực gia đình được quy định tại điểm a, điểm b, điểm c khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, đồng thời vi phạm quy định về một trong các hành vi bị cấm được quy định tại điểm h khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình. Tùy theo tính chất và mức độ của hành vi có thể bị xem xét xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự.

2. Về mối quan hệ giữa bố của anh/chị với một người phụ nữ khác

Theo chị trình bày thì giữa bố của anh/chị với một người phụ nữ khác có mối quan hệ bất chính. Tuy nhiên, Tòa án sẽ không thể căn cứ vào trình bày này để xác định bố của anh/chị có vi phạm quy định của pháp luật không, vì cụm từ quan hệ bất chính là chưa rõ ràng, đồng thời mối quan hệ này có thể được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.

Trong trường hợp có căn cứ chứng mình mối quan hệ bất chính này thuộc trường hợp “chung sống như vợ chồng” tức là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì mới có căn cứ để khẳng định bố của anh/chị có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình. Hành vi của người “Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác” có thể bị xử phạt từ 1 triệu đến 3 triệu đồng (điểm b khoản 1 Điều 48 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP).

3. Về việc chia tài sản khi ly hôn

Để xác định tài sản có trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng hay tài sản chung của vợ chồng thì cần phải căn cứ vào nguồn gốc tạo dựng nên tài sản, không thể chỉ căn cứ vào ai là thực hiện giao dịch hay ai là người đứng tên trên các giấy tờ đó. Do đó, việc chỉ một mình bố của anh/chị đứng tên trên sổ đỏ không phải là căn cứ để xác định quyền sở hữu riêng của của ông đối với tài sản này.

Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.

Nếu nhà và đất mà bố bạn đứng tên thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì đó là một trong số những tài sản chung của vợ chồng, sẽ được chia khi ly hôn.

Xử Lý Hành Vi Vi Phạm Pháp Luật Về Phòng, Chống Tham Nhũng / 2023

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng (PCTN) năm 2018 thì ” Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”.

1. .1. Các quy định của pháp luật về xử lý hành vi vi phạm pháp luật về PCTN Thực trạng xử lý hành vi vi phạm pháp luật về PCTN

Những quy định về xử lý tham nhũng được ghi nhận ở nhiều văn bản pháp luật, có thể kể đến như: Luật PCTN năm 2018; Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung một số điều năm 2017); Luật Cán bộ, công chức năm 2008; Luật Viên chức năm 2010…

Luật PCTN năm 2018 đã dành cả Chương IX quy định cụ thể nội dung xử lý tham nhũng và hành vi khác vi phạm pháp luật về PCTN. Tại Khoản 1 Điều 92 quy định: “Người có hành vi tham nhũng giữ bất kì chức vụ, vị trí công tác nào đều phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật, kể cả người đã nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác”.

Bên cạnh đó, Luật này còn quy định về xử lý các hành vi vi phạm quy định về PCTN bao gồm: Về công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; về định mức, tiêu chuẩn, chế độ; về quy tắc ứng xử; về xung đột lợi ích; về chuyển đổi vị trí công tác của người có chức vụ, quyền hạn; về nghĩa vụ báo cáo về hành vi tham nhũng và xử lý báo cáo về hành vi tham nhũng; về nghĩa vụ trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm; về thời hạn kê khai tài sản, thu nhập hoặc vi phạm quy định khác về kiểm soát tài sản, thu nhập.

Người có hành vi vi phạm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Người có hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật nếu là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thì bị xem xét áp dụng tăng hình thức kỷ luật. Người có hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật nếu là thành viên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội thì còn bị xử lý theo điều lệ, quy chế, quy định của tổ chức đó.

Theo quy định tại điều 78 của Nghị định 59, trường hợp người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra vụ việc tham nhũng ít nghiêm trọng sẽ bị áp dụng hình thức kỷ luật khiển trách. Trường hợp người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra vụ việc tham nhũng nghiêm trọng hoặc nhiều vụ việc tham nhũng ít nghiêm trọng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách sẽ bị áp dụng hình thức kỷ luật cảnh cáo. Đối với trường hợp người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra vụ việc tham nhũng rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc nhiều vụ việc tham nhũng nghiêm trọng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách sẽ bị áp dụng hình thức kỷ luật cách chức.

Theo quy định tại Điều 95 Luật PCTN năm 2018, đối với doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước là công ty đại chúng, tổ chức tín dụng và tổ chức xã hội do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định thành lập hoặc phê duyệt điều lệ có huy động các khoản đóng góp của Nhân dân để hoạt động từ thiện vi phạm quy định tại Điều 80 của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà Doanh nghiệp, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức bị xử lý theo điều lệ, quy chế, quy định của doanh nghiệp, tổ chức đó. Trường hợp doanh nghiệp, tổ chức không thực hiện các biện pháp xử lý đối với người giữ chức danh, chức vụ quản lý thì bị cơ quan có thẩm quyền thanh tra công bố công khai về tên, địa chỉ và hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.

Đối tượng bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự được quy định tại Điều 92 Luật PCTN năm 2018 và các văn bản pháp luật khác gồm người có hành vi tham nhũng là đối tượng chính của chế tài hình sự và chế tài kỷ luật, là người đã có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để trục lợi; Người không báo cáo, tố giác khi biết hành vi tham nhũng.

Trong số các đối lượng nêu trên, người có hành vi tham nhũng là đối tượng trọng yếu nhất của việc xử lý kỷ luật và xử lý hình sự. Vì vậy, pháp luật quy định tương đối đầy đủ hệ thống chế tài áp dụng cho người có hành vi tham nhũng tùy theo tính chất, mức độ vi phạm của họ ở mức độ khái quát nhất có thể phân chia thành hai loại chế tài: Chế tài kỷ luật áp dụng cho người có hành vi tham nhũng ở mức độ ít nguy hiểm cho xã hội, còn chế tài hình sự được áp dụng cho người có hành vi tham nhũng gây nguy hiểm cao cho xã hội bị coi là tội phạm.

Việc giáng chức, cách chức chỉ áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. Công chức bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo thì đương nhiên bị buộc thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; công chức lãnh đạo, quản lý phạm tội bị Tòa án kết án và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên thôi giữ chức vụ do bổ nhiệm.

Ngoài những quy định chung của chế tài kỷ luật được quy định trong Luật Công chức, viên chức năm 2008 thì Luật PCTN năm 2018 quy định nghiêm khắc hơn, thể hiện ở những nội dung sau: Người bị kết án về tội phạm tham nhũng là cán bộ, công chức, viên chức mà bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên bị buộc thôi việc đối với đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng Nhân dân thì đương nhiên mất quyền đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng Nhân dân. (Điều 92 Luật PCTN năm 2018).

Chế tài hình sự: (Hình phạt) là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó. Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Theo quy định của Luật PCTN năm 2018 và Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017) thì những hành vi tham nhũng sau được hình sự hóa và bị xử lý bằng chế tài hình sự: Tội tham ô tài sản (Điều 353); Tội nhận hối lộ (Điều 354); Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356); Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (Điều 358); Tội giả mạo trong công tác (Điều 359).

Ngoài ra, theo quy định mới của Luật PCTN năm 2018 mở rộng việc PCTN ở khu vực ngoài nhà nước nên các tội danh sau cũng là tội tham nhũng: Tội đưa hối lộ (Điều 364), Tội môi giới hối lộ (Điều 365) (Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017).

1.2. Thực trạng xử lý hành vi vi phạm pháp luật về PCTN

Các biện pháp tư pháp nói trên được áp dụng đối với người phạm tội tham nhũng nhằm thu hồi, sữa chữa, khắc phục tài sản do người phạm tội chiếm đoạt bất hợp pháp bởi hành vi tham nhũng hoặc dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội trả lại cho chủ sở hữu hoặc xung công quĩ đồng thời nhằm tước đoạt những điều kiện để người phạm tội có thể tái phạm. Vì vậy, biện pháp tư pháp này không những có mục đích trừng trị đối với người phạm tội mà còn có ý nghĩa phòng ngừa tội phạm.

Trong những năm qua, công cuộc đấu tranh chống tham nhũng được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm. Song song với việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về PCTN, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng xây dựng, kiện toàn lực lượng có chức năng PCTN.

Cùng với việc phát hiện, xử lý nghiêm các vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế, các cơ quan chức năng đã chú trọng xác minh, áp dụng các biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản của các đối tượng phạm tội tham nhũng ngay từ giai đoạn điều tra, không để tẩu tán, hợp pháp hóa tài sản tham nhũng; khuyến khích người phạm tội tự nguyện giao nộp tài sản tham nhũng, khắc phục hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

Đồng thời, các cơ quan nhà nước đã thực hiện những hình thức kỷ luật tương xứng với hình thức kỷ luật của Đảng đối với cán bộ, công chức sai phạm, đảm bảo kịp thời, đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng và kỷ luật theo pháp luật của Nhà nước.

Theo báo cáo số 330/BC-CP ngày 22/9/2016 của Chính phủ về tổng kết 10 năm thực hiện Luật PCTN năm 2005 thì trong 10 năm thực hiện Luật PCTN 2005, công tác điều tra, truy tố, xét xử các hành vi tham nhũng có nhiều tiến bộ. Các vụ án tham nhũng được phát hiện, xử lý với số lượng lớn (đã khởi tố 2.530 vụ án tham nhũng với 5.447 bị can; truy tố 2.959 vụ, 6.935 bị can; xét xử 2.628 vụ, 5.870 bị cáo).

Tuy nhiên, công tác phát hiện và xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng vẫn còn những hạn chế, yếu kém. Hiệu quả phát hiện vụ việc tham nhũng qua thanh tra, kiểm tra, kiểm toán còn chưa cao; các cơ quan chức năng vào cuộc chưa quyết liệt. Thẩm quyền của các cơ quan này còn hạn chế, không đủ để làm rõ hành vi tham nhũng trong trường hợp đã phát hiện dấu hiệu tiêu cực, tham nhũng. Các vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện, xử lý chủ yếu ở cấp cơ sở; nhiều vụ việc, vụ án có quy mô lớn chậm được phát hiện, khi phát hiện thì chậm được làm rõ, kết luận và xử lý. Công tác giám định tư pháp còn nhiều khó khăn, hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu. Việc xử lý các vụ án tham nhũng thường bị kéo dài, có một số trường hợp là tội phạm tham nhũng nhưng cho hưởng án treo chưa đúng với quy định của pháp luật.

Thực tế hiện nay, ngoài các vụ tham nhũng lớn mà người vi phạm phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đối với các vụ tham nhũng nhỏ hay tham nhũng “vặt”, cán bộ, công chức, viên chức vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Viên chức năm 2010 và Nghị định số 34/2011/NĐ-CP, Nghị định số 27/2012/NĐ-CP hướng dẫn việc thi hành hai luật này. Tuy nhiên, cán bộ, công chức trong những vụ, việc vi phạm đạo đức nghề nghiệp, những vụ tham nhũng “vặt” thời gian qua hầu hết chỉ bị xử lý kỷ luật ở mức độ khá nhẹ so với hành vi vi phạm, trong đó chủ yếu là hình thức kỷ luật khiển trách và cảnh cáo, hay thuyên chuyển công tác. Số cán bộ vi phạm bị cách chức hoặc cho thôi việc là rất ít.

Có thể nói, chế tài theo quy định hiện hành đã có nhưng chưa thật sự nghiêm. Các quy định về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức quá nhẹ dẫn đến việc xử lý vi phạm của các đối tượng này trong suốt thời gian qua chưa thật sự có tính răn đe. Chưa kể một số quy định không rõ ràng khiến một số lãnh đạo đơn vị, cơ quan có cá nhân sai phạm dựa vào đó bao che cho cấp dưới của mình.

Bởi vậy, cần phải tăng nặng các biện pháp chế tài, bảo đảm tính nghiêm khắc và đủ sức răn đe hơn đối với các vi phạm, hoàn thiện thể chế vận hành chống tham nhũng, để cán bộ, công chức “không thể, không dám tham nhũng”.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý hành vi vi phạm pháp luật về PCTN

Theo tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư cũng như quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm”, để nâng cao hiệu quả công tác chống tham nhũng nói chung, nâng cao hiệu quả xử lý hành vi vi phạm pháp luật về PCTN nói riêng, cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:

Thứ nhất, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PCTN. Các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương nâng cao nhận thức và thấy được sự nguy hiểm của “loại giặc nội xâm” này, từ đó tập trung nguồn lực tối đa cho công tác, PCTN. Trong đó có công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy cấp trên với cấp ủy cấp dưới, chú trọng cấp cơ sở. Nghiêm khắc truy cứu trách nhiệm của tổ chức đảng các cấp, lãnh đạo các cơ quan, địa phương, đơn vị, khi để cán bộ dưới quyền tham nhũng. Có như vậy các chỉ đạo của Trung ương đảng về công tác PCTN mới có sức mạnh lan tỏa trong các bộ, ngành địa phương để đẩy lùi “quốc nạn” tham nhũng.

Thứ hai, hệ thống pháp luật về PCTN đã được Đảng, Nhà nước quan tâm hoàn thiện làm cơ sở pháp lý cho việc đấu tranh PCTN. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về PCTN hiện nay còn thiếu và chưa đồng bộ. Các quy định về PCTN trong khu vực ngoài nhà nước hiện còn đang bỏ trống ở rất nhiều lĩnh vực. Cần hoàn thiện và thực hiện tốt các quy định pháp luật về trách nhiệm và quyền hạn của cán bộ, công chức, viên chức cũng như các quy định về trách nhiệm đảng viên với đội ngũ này. Chú trọng việc thực hiện các giải pháp phòng ngừa tham nhũng còn hình thức, hiệu quả thấp (như kê khai tài sản…), tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, nhất là các lĩnh vực có nhiều dư luận tiêu cực, tham nhũng, lãng phí.

Thứ ba, cần phải xây dựng lực lượng chuyên trách chịu trách nhiệm chính trong cả nước về PCTN. Lực lượng này cần được đào tạo bài bản và được trao những quyền năng pháp lý đủ mạnh để đấu tranh PCTN. Trong lực lượng này cần xây dựng đội ngũ làm công tác PCTN đủ năng lực, có phẩm chất trong sáng vừa “hồng” vừa “chuyên”. Cần kiên quyết loại khỏi bộ máy của Đảng và Nhà nước những cán bộ hư hỏng, tham nhũng.

Thứ tư, tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật trong Nhân dân; phát huy vai trò của Nhân dân và các phương tiện thông tin đại chúng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tệ tham nhũng. Trong những năm qua, người dân và báo chí đã góp phần không nhỏ trong công cuộc đấu tranh PCTN. Để tăng cường hơn nữa sức mạnh của Nhân dân và báo chí trong công cuộc đấu tranh này cần nâng cao nhận thức của công dân và người làm báo để có những bài viết sắc bén đấu tranh trực diện với tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Tai mắt của người dân, sức mạnh của phương tiện thông tin đại chúng là một nhân tố quan trọng trong việc phòng ngừa, đấu tranh, xử lý hành vi vi phạm pháp luật.

Thứ năm, cần cải cách chế độ tiền lương để cho cán bộ, công chức, người lao động có thể đủ sống bằng đồng lương của mình. Cần xây dựng một xã hội công khai, minh bạch để tham nhũng không còn đất sống, người có chức vụ quyền hạn không “muốn” và “không thể” tham nhũng.

Thứ sáu, xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng khi bị phát hiện. Đảm bảo rằng có hành vi tham nhũng thì sẽ bị pháp luật xử lý. Pháp luật là nghiêm minh không có “vùng cấm” đối với đối tượng vi phạm pháp luật./.

Vụ Pháp chế, Thanh tra Chính phủ

Nguyễn Đình Bính

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bàn Về Hành Vi Pháp Luật Và Hành Vi Đạo Đức / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!