Đề Xuất 12/2022 # Bài Giảng Địa 8 Bài 26 : Đặc Điểm Tài Nguyên Khoáng Sản Việt Nam / 2023 # Top 20 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Bài Giảng Địa 8 Bài 26 : Đặc Điểm Tài Nguyên Khoáng Sản Việt Nam / 2023 # Top 20 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bài Giảng Địa 8 Bài 26 : Đặc Điểm Tài Nguyên Khoáng Sản Việt Nam / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Loài người xuất hiện trên Trái Đất vào giai đoạn nào ? Chọn câu đúng a b c d Tiền Cambri . Cả ba đều sai . Tân kiến tạo . Cổ kiến tạo . Trình bày lịch sử phát triển của tự nhiên nước ta . Giới thiệu bài ( SGK ) Gv nhận xét cho điểm trả bài đừng nhắc lại nội dung mất thời gian nhiều 8 phút Mỏ khoáng sản là gì ? Những nơi tập trung khoáng sản gọi là mỏ khoáng sản . Khoáng sản là gì ? Khoáng sản là những tích tụ tự nhiên các khoáng vật và đá có ích được con người khai thác và sử dụng . 1. Việt Nam là nước giàu tài nguyên khoáng sản. 2. Vấn đề khai thác và bảo vệ tài nguyên khoáng sản . Xem bài thuộc giáo án rồi xóa phần chữ màu đen nha ! Chúc thành công . Đây được 19 điểm đó . 1. Việt Nam là nước giàu tài nguyên khoáng sản. (Tại Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khóa 3 ngày 16/4/1962 ). Bác nói : Nước ta ở về xứ nóng, khí hậu tốt, Rừng vàng biển bạc, đất phì nhiêu. Một số người có quan niệm không đúng về “rừng vàng biển bạc” tưởng như vô tận và là biểu tượng của một đất nước được thiên nhiên ưu đãi.Từ đó đã nhận thức không đúng về thực trạng tài nguyên đất nước, có tâm lý chủ quan, ỷ lại vào nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có.Vậy thực chất vấn đề ra sao? Ta sẽ nghiên cứu mục 1 … ( phần này học thuộc xóa đừng chiếu ) 1. Việt Nam là nước giàu tài nguyên khoáng sản. Dấu hiệu của việc sử dụng khoáng sản của tổ tiên ta là gì và có từ bao giờ ? – Đó là các công cụ bằng đá , sắt , đồng được phát hiện trong các mộ cổ ở núi Đọ , Quan Yên ( Thanh Hóa )cách đây hàng chục vạn năm – thời kì đồ đá cũ . 1. Việt Nam là nước giàu tài nguyên khoáng sản. Lược đồ khoáng sản Việt Nam . Quan sát lược đồ nhận xét số lượng và mật độ các mỏ khoáng sản ở nước ta . Qui mô và trữ lượng khoáng sản nước ta như thế nào ? – Khoáng sản nước ta phong phú về loại hình, đa dạng về chủng loại ( 5000 điểm , 60 loại ). – Phần lớn khoáng sản có trữ lượng vừa và nhỏ. 1. Việt Nam là nước giàu tài nguyên khoáng sản. Quan sát lược đồ khoáng sản Việt Nam kể tên và xác định những khoáng sản có trữ lượng lớn của nước ta . – Khoáng sản nước ta phong phú về loại hình, đa dạng về chủng loại ( 5000 điểm , 60 loại ). – Phần lớn khoáng sản có trữ lượng vừa và nhỏ. – Một số khoáng sản có trữ lượng lớn : sắt, than, thiếc , crôm , dầu mỏ, bôxit, đá vôi … 1. Việt Nam là nước giàu tài nguyên khoáng sản. – Khoáng sản nước ta phong phú về loại hình, đa dạng về chủng loại ( 5000 điểm , 60 loại ). – Phần lớn khoáng sản có trữ lượng vừa và nhỏ. – Một số khoáng sản có trữ lượng lớn : sắt, than, thiếc , crôm , dầu mỏ, bôxit, đá vôi … Vì sao Việt Nam là nước giàu có về khoáng sản ? – Lịch sử kiến tạo địa chất lâu dài , phức tạp . – Nhiều chu kì kiến tạo sản sinh một hệ khoáng sản đặc trưng . – Vị trí tiếp giáp hai đại sinh khoáng lớn Địa trung Hải – Thái Bình dương . – Sự phát hiện ,thăm dò ,tìm kiếm có hiệu quả . 1. Việt Nam là nước giàu tài nguyên khoáng sản. – Khoáng sản nước ta phong phú về loại hình, đa dạng về chủng loại ( 5000 điểm , 60 loại ). – Phần lớn khoáng sản có trữ lượng vừa và nhỏ. – Một số khoáng sản có trữ lượng lớn : sắt, than, thiếc , crôm , dầu mỏ, bôxit, đá vôi … Trò chơi : Ai nhanh hơn Hai đội A và B cùng đính kí hiệu tương ứng với các khoáng sản sau : Gv cắt hình kí hiệu ( 7 loại khoáng sản x 2 đội ) nhưng có 5 loại ở bảng cho ,chia bảng đen làm 2 ghi tên đội A và B , xong GV đọc tên khoáng hs lên đính trên bảng ,tuyên dương đội đúng nhiều động viên đội thua . 1. Việt Nam là nước giàu tài nguyên khoáng sản. – Khoáng sản nước ta phong phú về loại hình ,đa dạng về chủng loại ( 5000 điểm , 60 loại ) – Phần lớn khoáng sản có trữ lượng vừa và nhỏ. – Một số khoáng sản có trữ lượng lớn : sắt, than, thiếc , crôm , dầu mỏ, bôxit, đá vôi … Trò chơi : Ai nhanh hơn Đính kí hiệu dùng cho các khoáng sản sau : Al 1. Việt Nam là nước giàu tài nguyên khoáng sản. Lược đồ khoáng sản Việt Nam . – Khoáng sản nước ta phong phú về loại hình ,đa dạng về chủng loại ( 5000 điểm , 60 loại ) – Phần lớn khoáng sản có trữ lượng vừa và nhỏ. – Một số khoáng sản có trữ lượng lớn : sắt, than, thiếc , crôm , dầu mỏ, bôxit, đá vôi … Chứng minh nước ta có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú đa dạng . 1. Việt Nam là nước giàu tài nguyên khoáng sản. Lược đồ khoáng sản Việt Nam . – Khoáng sản nước ta phong phú về loại hình, đa dạng về chủng loại ( 5000 điểm , 60 loại ). – Phần lớn khoáng sản có trữ lượng vừa và nhỏ. – Một số khoáng sản có trữ lượng lớn : sắt, than ,thiếc , crôm , dầu mỏ, bôxit, đá vôi … Hs đọc bảng Gv nhấn mạnh dầu mỏ , khí đốt, than là nhiên liệu quan trọng ngành CN năng lương , là nguyên liệu CN hóa chất , sắt , vàng thiếc, bô xit nguyên liệu cn luyện kim , apatit nguyên liệu CN hóa chất …góp phần cn hóa hiện đại hóa đất nước . Chuyển ý : Quy mô và trữ lượng tài nguyên khoáng sản nước ta không có loại nào ngang tầm cở của thế giới . Do đó cần phải bỏ quan niệm sai lầm về sự giàu có vô tận của tài nguyên . Trong khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản chúng ta cần phải làm gì ? Cùng tìm hiểu phần 2 : Vấn đề ….. 1. Việt Nam là nước giàu tài nguyên khoáng sản. 2. Vấn đề khai thác và bảo vệ tài nguyên khoáng sản . – Cần phải thực hiện nghiêm chỉnh luật khoáng sản của nhà nước – Chúng ta phải khai thác hợp lí sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả . – Khoáng sản là tài nguyên không thể phục hồi . – Có ý nghĩa rất lớn trong sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước . Giải thích nguyên nhân làm cho một số mỏ khoáng sản có nguy cơ cạn kiệt . Quản lí lỏng lẻo, tự do khai thác bừa bãi gây thất thoát , lãng phí. Kĩ thuật khai thác lạc hậu hàm lượng quặng còn nhiều trong chất thải. – Chính sách vơ vét của thực dân Pháp. – Tại sao chúng ta phải khai thác hợp lí , sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả nguốn tài nguyên khoáng sản ? – Một số có nguy cơ cạn kiệt . Hai câu ở slide cho hoạt động cặp ( cá nhân suy nghĩ – cặp đôi chi sẻ .. 1. Việt Nam là nước giàu tài nguyên khoáng sản. 2. Vấn đề khai thác và bảo vệ tài nguyên khoáng sản . – Khoáng sản là tài nguyên không thể phục hồi . – Có ý nghĩa rất lớn trong sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước . – Một số có nguy cơ cạn kiệt . Hiện trạng môi trường quanh khu vực khai thác khoáng sản như thế nào ? Hs xem ảnh sau rồi trả lời . 1. Việt Nam là nước giàu tài nguyên khoáng sản. 2. Vấn đề khai thác và bảo vệ tài nguyên khoáng sản . – Chúng ta phải khai thác hợp lí sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả . – Khoáng sản là tài nguyên không thể phục hồi . – Có ý nghĩa rất lớn trong sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước . – Một số có nguy cơ cạn kiệt . – Cần phải thực hiện nghiêm chỉnh Luật khoáng sản của Nhà nước . Chúng ta cần phải làm gì để bảo vệ tài nguyên khoáng sản ? Gv nhìn 2 đoạn đầu trong luật khóang sản đọc cho học sinh nghe để giáo dục (GV học thuộc sẽ hay hơn ) Cùng với Luật khoáng sản tháng 6 – 2.000 Luật dầu khí và Luật đầu tư sửa đổi ra đời nâng cao vị trí thu hút đầu tư vào Việt Nam trên trường quốc tế . Chọn câu đúng Mỏ than lớn và thuộc loại tốt nhất nước ta là ở : a Quảng Ninh . Quảng Nam . Thái Nguyên . b Thanh Hóa . d c Chọn câu đúng Bô xit tập trung nhiều ở : a b c d Cao Bằng Tây Nguyên . Lạng Sơn . Cả a,b,c đều sai . Vì sao phải khai thác hợp lí, sử dụng tiết kiệm hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản ? Chọn câu đúng a b c d Khoáng sản là tài nguyên không thể phục hồi . Cả a, b, c đều đúng . Phần lớn có trữ lượng vừa và nhỏ. Một số có nguy cơ cạn kiệt . Có ý nghĩa rất lớn trong sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước . Học bài trả lời câu hỏi 1 và 2 sách giáo khoa . Chuẩn bị bài 27: Thực hành – Đọc bản đồ Việt Nam + Xác định vị trí tỉnh Long An. + Xác định tọa độ các điểm cực phần đất liền của nước ta . + 1. Lập bảng thống kê các tỉnh theo mẫu. + 2. Vẽ lại các kí hiệu và ghi nơi phân bố 10 loại khoáng sản chính .

Bài 26. Đặc Điểm Tài Nguyên Khoáng Sản Việt Nam / 2023

TỔ 2CHÀO MỪNG QUÝ THẦY CÔ VÀ TẤT CẢ CÁC BẠN ĐẾN THAM DỰ BUỔI THUYẾT TRÌNHBài 26: Đặc điểm tài nguyên khoáng sản Việt NamCấu trúc bài:1. Việt Nam là nước giàu tài nguyên khoáng sản.2. Sự hình thành các vùng mỏ chính ở nứơc ta.3. Vấn đề khai thác và bảo vệ tài nguyên khoáng sản.1. Việt Nam là nước giàu tài nguyên khoáng sản:Khoáng sản và mỏ khoáng sản là gì? Khoáng sản: Là thành phần tạo khoáng vật của lớp vỏ Trái Đất, mà phần hóa học và các tính chất vật lí của chúng cho phép sử dụng chúng có hiệu quả và lợi ích trong lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất của nền kinh tế quốc dân. Mỏ khoáng sản: Là sự tích tụ của khoáng sản tạo ra (hay còn gọi là khoáng sàng), còn trong trường hợp chiếm diện tích lớn thì được gọi là các vùng mỏ, bồn hay bể.Ngành địa chất Việt Nam đã khảo sát, thăm dò được khoảng 5000 điểm quặng và tụ khoáng của gần 60 loại khoáng sản khác nhau, trong đó có nhiều loại đã và đang được khai thác.Phần lớn các khoáng sản có trữ lượng vừa và nhỏ. Một số mỏ có trữ lượng lớn như là than, dầu khí, apatit, đá vôi, sắt, crôm, đồng, thiếc, bô xít( quặng nhôm) .Thông qua hình 26.1 tìm một số mỏ khoáng sản lớn nêu trênVị trí phân bố của một số loại khoáng sản khác:Bôxít: Măng Đen, Pleiku, Krông Búk, Đắc Nông, Di Linh,…Uranium: Khe Hoa.Đất hiếm: Phong Thổ.Đá axít: Quy Nhơn, Tây Ninh, Thốt Nốt, Rạch Giá,…Đá vôi xi măng: Lũng Cú, Sơn La, Kiên Lương, Bỉm Sơn,…Titan: Sơn Dương.

Vậy tại sao Việt Nam lại là một đất nước có nhiều khoáng sản?Việt Nam là một đất nước có lịch sử địa chất kiến tạo rất lâu dài, phức tạp, mỗi chu kì kiến tạo sản sinh một hệ khoáng sản đặc trưng.Vị trí tiếp giáp hai vành đai sinh khoáng lớn của thế giới: Địa Trung Hải và Thái Bình Dương.Hiệu quả của việc thăm dò, tìm kiếm khoáng sản của ngành địa chất ngày càng cao. Than đáDầu khíApatit 2. Sự hình thành các vùng mỏ chính ở nước ta:a) Giai đoạn tiền Cambri: – Khoáng sản: than chì, đồng, sắt, đá quý. – Phân bố: tại các nền cổ, đá bị biến chất mạnh như khu nền cổ Việt Bắc, Hoàng Liên Sơn, Kon Tum,…Giai đoạn Tiền Cambrib) Giai đoạn Cổ kiến tạo: – Khoáng sản: apatít,than, sắt, thiếc, mangan, titan, vàng, đất hiếm,bôxít trầm tích, đá vôi, đá quý,… – Phân bố: trên khắp lãnh thổ nứơc ta.Giai đoạn Cổ kiến tạoc) Giai đoạn Tân kiến tạo: – Khoáng sản: dầu mỏ, khí đốt, than nâu, than bùn,… – Phân bố: các bồn trầm tích ngoài thềm lục địa và dứơi đồng bằng châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long, các mỏ bôxít ở Tây Nguyên.Giai đoạn Tân kiến tạoKhai thác sắtKhai thác titanThông tin thêm về các giai đoạn, thời kì và đặc điểm phát triển địa chất khoáng sản Việt Nam3. Vấn đề khai thác và bảo vệ tài nguyên khoáng sản: Mời các bạn và cô cùng xem những hình ảnh và thông tin về tình trạng khai thác tài nguyên khoáng sản ở nước ta

Vàng

Giá vàng tăng cao là một trong những nguyên nhân khiến ở nhiều nơi trên thế giới, từng dòng người vẫn không ngừng đổ về những khu mỏ khai thác vàng có phép và không phép. Do sử dụng hình thức khai thác thủ công và công nghệ thô sơ, hoạt động khai thác vàng vô tình đẩy các cộng đồng địa phương, nhân công tham gia khai thác và môi trường tự nhiên vào tình trạng bị hủy hoại bởi nhiễm độc thủy ngân.

Nước thường đục nhất vào thời điểm ban đêm, khi những người khai thác vàng hoạt động và khi nước được xả vào các xô, chậu để một lúc sẽ xuất hiện rất nhiều lắng đọng của cát ở dưới đáy. Đặc biệt từ khi phải sử dụng nguồn nước ô nhiễm này nhiều người dân mắc các bệnh về tiêu hóa, ho… than Để sản xuất 1 tấn than, cần bóc đi từ 8 – 10 m3 đất phủ, thải từ 1 – 3 m3nước thải mỏ. Chỉ tính riêng năm 2006, các mỏ than của Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt nam đã thải vào môi trường tới 182,6 triệu m3 đất đá, khoảng 70 triệu m3 nước thải mỏ, dẫn đến một số vùng của tỉnh Quảng Ninh bị ô nhiễm đến mức báo động như Mạo Khê, Uông Bí, Cẩm Phả… Trên các mỏ than thường có mặt với hàm lượng cao các nguyên tố Sc, Ti, Mn…Các khoáng vật sulphua có trong than còn chứa Zn, Cd, HG…làm cho bụi mỏ trở nên độc hại với sức khỏe con người.

Bôxit – Khai thác quặng bôxit chế biến thành alumin để luyện nhôm là một quy trình tiêu tốn lượng nước và điện khổng lồ, đồng thời phát thải một lượng khí thải nhà kính và bùn đỏ có sức hủy diệt môi trường rất ghê gớm. – Chưa kể theo quy trình hiện nay, muốn sản xuất 1 tấn nhôm cần phải có 2 tấn alumin, tức phải khai thác ít nhất 4 tấn quặng bôxit. Và quá trình này thải ra đến 3 tấn bùn đỏ là một chất thải cực kỳ nguy hại, thậm chí chứa phóng xạ mà ngay cả các nước phát triển như Mỹ, Nhật cũng không có cách nào xử lý ngoài việc chôn lấp. – Hiện nay không có cách nào khác là chôn lấp bùn đỏ ngay tại Tây nguyên và với vị trí thượng nguồn của các con sông lớn, những bãi bùn đỏ sẽ trở thành những núi “bom bẩn” nếu xảy ra thiên tai, lũ quét gây tràn vỡ. Nguyên nhân gây cạn kiệt nguồn tài nguyên khoáng sản ở nước ta?Do chế độ bóc lột và chính sách vơ vét tàn bạo của thực dân Pháp trong hơn 80 năm.Do nhu cầu sử dụng ngày càng cao của con người.Do những hành vi khai thác, sử dụng bừa bãi, thiếu hợp lí.Do việc tham dò, đánh giá thiếu chính xác về hàm lượng, trữ lượng, phân bố,…Tại sao phải khai thác hợp lí, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản?– Khoáng sản là loại tài nguyên không thể phục hồi.– Có ý nghĩa lớn lao trong sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước.Thực trạng môi trường Việt Nam xung quanh việc khai thác khoáng sảnViệc sử dụng thiếu hiệu quả các nguồn khoáng sản tự nhiên; tác động đến cảnh quan và hình thái môi trường; tích tụ hoặc phát tán chất thải; làm ảnh hưởng đến sử dụng nước, ô nhiễm nước, tiềm ẩn nguy cơ về dòng thải axit mỏ…

Phá vỡ cân bằng điều kiện sinh thái được hình thành từ hàng chục triệu năm, gây ô nhiễm nặng nề đối với môi trường, trở thành vấn đề cấp bách mang tính chính trị và xã hội của cộng đồng một cách sâu sắc.

– Làm đục nước sông, cản trở thuyền bè qua lại và nguy cơ gia tăng tai nạn giao thông đường thủy. LUẬT KHOÁNG SẢN1. Nhà nước có chiến lược, quy hoạch khoáng sản để phát triển bền vững kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh trong từng thời kỳ.2. Nhà nước bảo đảm khoáng sản được bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả.3. Nhà nước đầu tư và tổ chức thực hiện điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản theo chiến lược, quy hoạch khoáng sản; đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển công nghệ trong công tác điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản và hoạt động khoáng sản.4. Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư, hợp tác với các tổ chức chuyên ngành địa chất của Nhà nước để điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản.5. Nhà nước đầu tư thăm dò, khai thác một số loại khoáng sản quan trọng để phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh.Chính sách của Nhà nước về Khoáng sảnNguyên tắc hoạt động khai thác khoáng sản1. Hoạt động khoáng sản phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch khoáng sản, gắn với bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh và các tài nguyên thiên nhiên khác; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.2. Chỉ được tiến hành hoạt động khoáng sản khi được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép.3. Thăm dò khoáng sản phải đánh giá đầy đủ trữ lượng, chất lượng các loại khoáng sản có trong khu vực thăm dò.4. Khai thác khoáng sản phải lấy hiệu quả kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường làm tiêu chuẩn cơ bản để quyết định đầu tư; áp dụng công nghệ khai thác tiên tiến, phù hợp với quy mô, đặc điểm từng mỏ, loại khoáng sản để thu hồi tối đa khoáng sản.Những hành vi cấm1. Lợi dụng hoạt động khoáng sản xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.2. Lợi dụng thăm dò để khai thác khoáng sản.3. Thực hiện điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản, hoạt động khoáng sản khi chưa được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép.4. Cản trở trái pháp luật hoạt động điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản, hoạt động khoáng sản.5. Cung cấp trái pháp luật thông tin về khoáng sản thuộc bí mật nhà nước.6. Cố ý hủy hoại mẫu vật địa chất, khoáng sản có giá trị hoặc quý hiếm.7. Các hành vi khác theo quy định của pháp luật.3. Vấn đề khai thác và bảo vệ tài nguyên khoáng sảnKhoáng sản là loại tài nguyên không thể phục hồi. Do đó, phải khai thác hợp lí, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả nguồn tài nguyên này.Hiện nay một số khoáng sản ở nứơc ta đang có nguy cơ bị cạn kiệt và sử dụng còn lãng phíCác doanh nghiệp khai thác khoáng sản cần phải thực hiện đúng Luật khoáng sản của nước ta để vừa có nguồn khoáng sản lâu dài vừa bảo vệ môi trường và sức khỏe cho con người.Câu hỏi củng cố1. Cho biết những khoáng sản có trữ lượng lớn ở nước ta?2. Là một ngừơi học sinh bạn sẽ làm gì để bảo vệ tài nguyên khoáng sản?BÀI THUYẾT TRÌNH CỦA TỔ 2 CHÚNG EMĐẾN ĐÂY LÀ KẾT THÚCXIN CẢM ƠN QUÝ THẦY CÔ VÀ TẤT CẢ CÁC BẠNĐÃ CHÚ Ý LẮNG NGHE

Xử Phạt Vi Phạm Trong Lĩnh Vực Tài Nguyên Nước Và Khoáng Sản / 2023

Nằm trong khu vực Đông Nam Á, nơi giao cắt của hai vành đai khoáng lớn Thái Bình Dương và Địa Trung Hải, Việt Nam có nguồn tài nguyên nước và khoáng sản đa dạng, phong phú. Điều đó đã góp phần rất lớn cho sự phát triển kinh tế của nước nhà đồng thời mang đến nhiều thách thức trong công tác bảo vệ môi trường và bảo vệ khai thác để sử dụng hợp lý tiết kiệm nguồn tài nguyên này.

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước bao gồm: Vi phạm các quy định về điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; vi phạm các quy định về hồ chứa và vận hành hồ chứa; vi phạm các quy định về bảo vệ tài nguyên nước; vi phạm các quy định về phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra; vi phạm các quy định về lấy ý kiến cộng đồng dân cư và các vi phạm khác trong quản lý tài nguyên nước.

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản bao gồm: Vi phạm các quy định về thăm dò, khai thác khoáng sản; vi phạm các quy định về đấu giá quyền khai thác khoáng sản; vi phạm các quy định về sử dụng số liệu, thông tin kết quả điều tra địa chất về khoáng sản, thăm dò khoáng sản; vi phạm các quy định về quyền lợi của địa phương và người dân nơi có khoáng sản được khai thác; vi phạm các quy định về bảo vệ khoáng sản chưa khai thác; vi phạm các quy định về kỹ thuật an toàn mỏ và các vi phạm khác trong lĩnh vực khoáng sản.

Phạt tiền: Mức phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước là 250.000.000 đồng đối với cá nhân và 500.000.000 đồng đối với tổ chức. Mức phạt tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản là 1.000.000.000 đồng đối với cá nhân và 2.000.000.000 đồng đối với tổ chức;

Tước quyền sử dụng giấy phép thăm dò, khai thác khoáng sản từ 01 tháng đến 12 tháng

Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung sau:

Tước quyền sử dụng giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước; giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất; giấy phép thăm dò, khai thác khoáng sản từ 01 tháng đến 24 tháng;

Đình chỉ hoạt động lập, thực hiện đề án, dự án về tài nguyên nước, đình chỉ hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên nước, thăm dò, khai thác khoáng sản từ 01 tháng đến 12 tháng;

Tịch thu tang vật, mẫu vật là khoáng sản, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính, ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả như: khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước; phục hồi môi trường khu vực khai thác; xử lý, khắc phục sự cố sụt, lún đất hoặc sự cố bất thường khác; phục hồi môi trường, đất đai; …

53A Nơ Trang Long, Phường 7, Quận Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG NGUỒN SỐNG XANH

Hotline: 0909 773 264 (Ms Hải) hoặc 0283 5100 127 Email: greenlife@nguonsongxanh.vn Website: nguonsongxanh.vn

Tài Nguyên Nước Và Khoáng Sản Bai Giang Ql Tnn Va Khoang San Doc / 2023

TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ KHOÁNG SẢN

1.1. Khái niệm và vai trò của tài nguyên nước và khoáng sản

– Tài nguyên môi trường đất gồm: tài nguyên đất nông nghiệp, tài nguyên đất rừng, tài nguyên đất cho công nghiệp, tài nguyên đất hiếm.

– T ài nguyên không gian, tài nguyên ngoài trái đất (mặt trăng, các hành tinh)

– Tài nguyên năng lượng gồm: tài nguyên năng lượng địa nhiệt, tài nguyên năng lượng gió, tài nguyên năng lượng mặt trời, tài nguyên năng lượng sóng biển, …

Tài nguyên nước được phân thành 3 dạng chủ yếu theo vị trí cũng như đặc điểm hình thành, khai thác và sử dụng. Đó là nguồn nước trên mặt đất (nước mặt), nước dưới đất (nước ngầm) và nước trong khí quyển (hơi nước).

* Khái niệm về k hoáng sản là thành tạo khoáng vật của , mà thành phần hóa học và các tính chất vật lý của chúng cho phép sử dụng chúng có hiệu quả và lợi ích trong lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất của nền kinh tế quốc dân

Khoáng sản nằm trong lớp vỏ Trái Đất ở dạng tích tụ với các đặc trưng khác nhau (gân, mạch, cán, bướu, nham cán, vỉa, ổ, sa khoáng v.v.).

– Nguồn nước sinh hoạt: Là nguồn có thể cung cấp nước sinh hoạt hoặc nước có thể xử lý thành nước sạch một cách kinh tế.

– Nguồn nước quốc tế: Là nguồn nước từ lãnh thổ Việt Nam chảy sang lãnh thổ các nước khác, từ lãnh thổ các nước khác chảy vào lãnh thổ Việt Nam hoặc nằm trên biên giới giữa Việt Nam và nước láng giềng.

– Phát triển tài nguyên nước: Là biện pháp nhằm nâng cao khả năng khai thác, sử dụng bền vững TNN và nâng cao giá trị của TNN.

– Bảo vệ TNN: Là biện pháp phòng, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, bảo đảm an toàn nguồn nước và bảo vệ khả năng phát triển tài nguyên nước.

– Khai thác nguồn nước: Là hoạt động nhằm mang lại lợi ích từ nguồn nước.

– Sử dụng tổng hợp nguồn nước: Là sử dụng hợp lý, phát triển tiềm năng của một nguồn nước và hạn chế tác hại do nước gây ra để phục vụ tổng hợp nhiều mục đích.

– Vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước: Là vùng phụ cận khu vực lấy nước từ nguồn nước được quy định phải bảo vệ để phòng, chống ô nhiễm nguồn nước SH..

– Ô nhiễm nguồn nước: Là sự thay đổi tính chất vật lý, tính chất hoá học, thành phần sinh học của nước vi phạm tiêu chuẩn cho phép.

– Giấy phép về TNN: Bao gồm giấy phép thăm dò nước dưới đất; giấy phép khai thác, sử dụng TNN; giấy phép xả nước thải vào nguồn nước và giấy phép về các hoạt động phải xin phép trong phạm vi bảo vệ công trình thuỷ lợi.

– Suy thoái cạn kiệt nguồn nước: Là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của nguồn nước.

– Quy hoạch lưu vực sông: Là quy hoạch về bảo vệ, khai thác, sử dụng nguồn nước, phát triển TNN, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra trong lưu vực sông.

– Công trình thuỷ lợi: Là công trình khai thác mặt lợi của nước; phòng, chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái.

– Phân lũ, chậm lũ: Là việc chủ động chuyển một phần dòng chảy nước lũ theo hướng chảy khác, tạm chứa nước lại ở một khu vực để giảm mức nước lũ.

– Lập bản đồ địa chất các tỉ lệ khác nhau

– Khảo sát khoáng sản

– Thăm dò khoáng sản

– Khai thác khoáng sản (gồm cả khai thác tận thu khoáng sản)

– Các hoạt động khác nhằm làm tăng giá trị khoáng sản đã khai thác

– Không làm thay đổi thành phần khoáng vật tự nhiên của loại khoáng sản đưa vào chế biến

– Thông thường, một doanh nghiệp tiến hành hoạt động chế biến khoáng sản cùng với hoạt động khai thác khoáng sản (VD: khai thác đá nguyên khai sau đó thực hiện công tác nghiền sàng, phân loại đá).

Khoáng sản là nguyên liệu cung cấp cho các ngành công nghiệp, từ đó sản xuất ra các sản phẩm phục vụ đời sống xã hội.

Bảng 1.1. Trữ lượng nước trên trái đất

+ Theo các dạng tướng: có tướng lỏng, tướng rắn (băng, tuyết) và tướng khí (hơi nước).

Bảng 1.2. Đặc trưng của một số hồ chứa nhân tạo lớn trên thế giới

Nguồn: Nguồn nước và tính toán thủy lợi – Trịnh Trọng Hàn – 1993

Bảng 1.3. Lượng dòng chảy một số sông lớn

Nguồn: Nguồn nước và tính toán thủy lợi – Trịnh Trọng H àn – 1993

Nước ngầm là các dạng nước trong các lớp đất bên trên của quyển đá, nó là nước ngầm của vỏ trái đất hay còn gọi là nước trọng lực. Có 2 loại nước ngầm có áp và không có áp.

Bảng 1.4. Trữ lượng nước ngầm toàn cầu

+ Khoáng sản kim loại hay quặng: Bao gồm các loại quặng kim loại đen, kim loại màu và kim loại quý.

+ Thủy khoáng: Bao gồm nước khoáng và nước ngọt ngầm dưới đất.

+ Nguyên liệu khoáng-hóa : Bao gồm và các muối khoáng khác như photphat, barit, borat v.v.

– Dựa trên trạng thái vật lí phân ra:

+ Khoáng sản rắn: như quặng kim loại v.v

+ Khoáng sản lỏng: như dầu mỏ, nước khoáng v.v

+ Khoáng sản khí: khí đốt, khí trơ .

– Các dấu hiệu biểu hiện của tích tụ khoáng sản:

+ Sự tích tụ của khoáng sản tạo ra các , còn trong trường hợp chiếm một diện tích lớn thì gọi là các vùng mỏ. Người ta cũng phân biệt các loại khoáng sản rắn, lỏng và khí.

+ Sự tích tụ các chất dưới các dạng nguyên chất hay dưới dạng hợp chất xen lẫn với các thành phần khác nhau thì được gọi là quặng. Như vậy q uặng là một loại chứa các như hoặc , được từ mỏ và chế biến để sử dụ ng.

+ Các quặng kim loại thường là các , , , hoặc kim loại “tự sinh” (như đồng tự sinh ) là những khoáng vật không tập trung phổ biến trong vỏ Trái Đất hoặc các kim loại “quý” (ít gặp dạng hợp chất) như . Các quặng phải được xử lý để tách các kim loại cần lấy ra khỏi đá

+ Tỉnh khoáng sản là một phần lớn lớp vỏ Trái Đất, tương quan với nền địa chất , các đới hay đáy đại dương, với các mỏ khoáng sản phân bố trong phạm vi của nó và vốn có của nó. Đôi khi người ta cũng phân biệt tỉnh kim loại, tỉnh than, tỉnh dầu khí v.v.

+ Thân quặng ha y vỉa quặng là sự tích tụ cục bộ của nguyên liệu khoáng vật thiên nhiên, có thành phần cấu trúc-thạch học xác định hay tổ hợp của các thành phần này. Các thân quặng được hình thành bởi nhiều quá trình khác nhau gọi là quá trình .

Vùng, khu, bãi mỏ có thể lộ ra hoàn toàn trên bề mặt đất và được nói tới như là mỏ lộ thiên; nó cũng có thể bị phủ một phần bởi các loại đất đá khác nhau, thuộc về loại mỏ bán kín hoặc có thể bị vùi lấp hoàn toàn thì được xếp vào loại mỏ kín.

Một quốc gia lớn nữa cũng đang bị “khủng hoảng nước” đe dọa, đó là Ai Cập. Hàng nghìn năm nay, sông Nile là “thần nước” của mọi nền văn minh Ai Cập. Nhưng trước đây ba thập niên, con đập khổng lồ Asuan được dựng lên làm đảo lộn triền nước sông Nile muôn thuở. Cộng thêm là mùa màng đã được canh tân lên ba vụ thay vì một vụ như ngày xưa, có nghĩa là lượng nước tưới cũng phải gấp ba. Con đập vĩ đại đã ngăn mọi dòng chảy cố hữu đến được với ruộng đồng.

Những khó khăn của các nước công nghiệp về vấn đề nước: đó là vấn đề ô nhiễm công nghiệp và xử lý nguồn nước. Những thành phố công nghiệp lớn của các nước hầu như đều được xây dựng ở những nơi có sông chảy qua. Sông Huson chảy qua Newyork, sông Themes chảy qua London, sông Seine chảy qua Paris, Vũ Hán – Trùng Khánh sông Trường Giang, Deli sông Găng, Viên nằm ngay trên sông Đanup nổi tiếng… Do chất thải công nghiệp không được xử lý nghiêm ngặt ngay từ đầu nên các dòng sông, nơi thu nhận nước thải dần dần trở lên ô nhiễm. Trong nước thải công nghiệp có chứa muối của các kim loại nặng như chì, đồng, kẽm, sắt, crôm… khi xả vào sông chúng gây độc hại, ô nhiễm môi trường.

– Từ thời phong kiến ông cha ta đã biết đào sông phân lũ và dẫn nước vào ruộng, như các sông: Đan Nãi, Trầm-Thanh Hoá, Thiên Đức-Hà Nội, Lãnh-Thái Nguyên.

– Trước cách mạng tháng 8/1945 đã có một số hệ thống tưới được xây dựng, chủ yếu phục vụ để khai thác các đồn điền của Pháp như hệ thống ở sông Cầu ở Bắc Ninh, sông Liễn Sơn ở Bắc Giang, hệ thống Bái Thượng ở Đô Lương – Nghệ An…

– Sau năm 1954, nói đến sự phát triển tài nguyên nước ở Việt Nam, trước tiên phải nói đến quy hoạch và quản lý nước tới cho nông nghiệp một khu vực trước đây chiếm 90% nay là trên 70% dân số cả nước. Việt Nam đã xây dựng nhiều công trình khai thác TNN phục vụ phát triển kinh tế quốc dân, đặc biệt là phục vụ sản xuất nông nghiệp. Hai công trình tiêu biểu là hệ thống đại thuỷ nông Bắc Hưng Hải đưa nước tưới hàng vạn ha đất của các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Dương (1960). Các hồ chứa nước Thác Bà, Hoà Bình để kiểm soát lũ vùng sông Hồng, tích trữ nước phát điện.

– Tiếp đó là hồ chứa nước Kẻ Gỗ ở Hà Tĩnh, có tác đụng tổng hợp, diện tích tưới tự chảy 21.136 ha của 3 huyện thị (Cẩm Xuyên, Thạch Hà và thị xã Hà Tĩnh). Công trình Trung thuỷ nông Nam Thạch Hãn tỉnh Quảng Trị, Hồ Núi Cốc ở Thái Nguyên, hồg chứa nước Yaly…

– Bên cạnh những thành tựu trên, chúng ta vẫn còn nhiều nhược điểm, như các hệ thống tưới phần lớn đang xuống cấp, không đồng bộ, không đảm bảo được công suất thiết kế. Các công trình phân phối nước lạc hậu, tổn thất nước trên hệ thống lớn.

Trên thế giới việc khai thác khoáng sản được bắt đầu từ rất lâu, từ khi loài người biết làm đẹp, như khai thác vàng, bạc làm đồ trang sức. Hay khi con người biết sử dụng đồ đá, tìm kiếm những viên đá làm công cụ. Thời kỳ đồ đồng, đồ sắt loài người biết khai thác mỏ đồng, mỏ sắt để làm công cụ sản xuất, làm vũ khí săn bắn và tự vệ, hay sử dụng trong chiến tranh…… Khai thác mỏ là hoạt động khai thác hoặc các vật liệu địa chất từ lòng đất, thường là các thân , hoặc vỉa . Các vật liệu được khai thác từ mỏ như kim loại cơ bản , kim loại quý , , , , , , đá phiến dầu , và kali cacbonat . Khai thác mỏ ở nghĩa rộng hơn bao gồm việc khai thác các nguồn tài nguyên không tái tạo (như , khí thiên nhiên , hoặc thậm chí là ).

Những người Ai Cập cổ đại khai thác mỏ ở . Ban đầu, người Ai Cập sử dụng các đá malachit màu lục sáng để trang trí khảm và làm đồ gốm. Sau đó, vào giữa những năm 2.613 và 2.494 TCN. C ác dự án xây dựng lớn đòi hỏi những cuộc hành trình khắp nơi đến vùng Wadi Maghara để “đảm bảo việc cung cấp nguồn khoáng sản và các nguồn tài nguyên khác mà Ai Cập không có.” Các mỏ (turqoise) và cũng được tìm thấy ở “Wadi Hamamat, Tura, Aswan và các vùng khác thuộc Nubia” trên bán đảo Sinai và ở . Khai thác mỏ ở Ai Cập xuất hiện từ các triều đại sớm nhất, và các của , Ông đề cập rằng để phá hủy các đá cứng để lấy vàng. Họ nghiền quặng thành bột trước khi d ải chúng để lấy .

Khai thác mỏ ở châu Âu đã có từ rất lâu, ví dụ như các mỏ bạc , giúp phát triển thành phố Hy Lạp thuộc . Tuy nhiên, đã phát triển các phương pháp khai thác mỏ trên quy mô rộng, đặc biệt việc sử dụng một lượng nước lớn để mang quặng đi bằng cống thoát nước. Nước được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như để gạt bỏ lớp phủ và các đá vụn được gọi là khai thác mỏ thủy lực , cũng như rửa quặng đã được nghiền nhỏ, và vận hành các máy đơn giản. N ước được xả ra đẩy các vật liệu phủ làm lộ ra đá gốc và các mạch quặng nằm bên dưới. Đá lộ độ nhanh làm cho đá bị vỡ ra và dễ thu hồi bằng các dòng nước từ các bồn chứa như cách bốc lớp phủ ở trên. Họ sử dụng phương pháp tương tự để thu quặng ở . là một khu vực khai thác mỏ quan trọng nhất trong tất cả các khu vực khai thác của .

– Khai khoáng ở c hâu Âu thời trung cổ : Khai thác mỏ trong thời kỳ Trung Cổ được biết đến nhiều nhất từ công trình De Re Metallica (1556) của Georg Agricola , ông đã miêu tả một số phương pháp khai thác mỏ khác nhau, sau này được sử dụng trong các mỏ ở Đức và Saxon. Sử dụng năng lượng nước một dạng của cối xay nước được cải tiến; họ tạo ra quặng được nghiền nhỏ, đưa quặng lên từ hầm mỏ và thông gió trong mỏ bằng các công suất lớn. được sử dụng đầu tiên trong khai thác mỏ ở Selmecbánya , Vương quốc Hungary (ngày nay là Banská Štiavnica , ) vào năm 1627. Phương pháp dùng chất nổ này làm các khối đất đá vỡ ra và thu hồi mạch quặng nhanh hơn phương pháp đốt nêu trên. Năm 1762, học viện khai thác mỏ đầu tiên trên thế giới được thành lập trong thành phố này.

Trong lịch sử thuộc địa của châu Mỹ trước đây, “vàng và bạc tự nhiên được khai thác một cách nhanh chóng và chuyển chúng đến Tây Ban Nha trên các thuyền buồm chất đầy vàng và bạc” hầu hết từ các mỏ ở Trung và Nam Mỹ. được định tuổi khoảng năm 700 được khai thác vào thời châu Mỹ tiền Columbus ; trong khu vực mỏ Cerillos ở , ước tính “khoảng 15.000 tấn đá đã bị bóc ra khỏi núi Chalchihuitl sử dụng công cụ bằng đá trước năm 1700.”

Khi thác mỏ ở trở nên thịnh hành vào thế kỷ 19. Với cơn sốt vàng California vào giữa thập niên 1800, khai thác mỏ khoáng sản và kim loại quý cùng với , là một yếu tố tác động vào đến bờ biển Thái Bình Dương.

+ Mỏ kim cường Ekati (Canada): Hoạt động vào năm 1998, Ekati nằm cách vòng Bắc Cực khoảng 20 km. Từ lúc hoạt động đến nay, người ta đã khai thác ở Ekati khoảng 8.000 kg kim cương.

Quá trình khai thác mỏ bắt đầu từ giai đoạn phát hiện thân quặng đến khâu chiết tách khoáng sản và cuối cùng là trả lại hiện trạng của mặt đất gần với tự nhiên nhất gồm một số bước nhất định. Đầu tiên là phát hiện thân quặng, khâu này được tiến hành thông qua việc để tìm kiếm và sau đó là xác định quy mô, vị trí và giá trị của thân quặng. Khâu này cung cấp những số liệu để đánh giá tính trữ lượng tài nguyên để xác định kích thước và phân cấp quặng . Việc đánh giá này là để nghiên cứu tiền khả thi và xác định tính kinh tế của quặng.

Bước tiếp theo là nghiên cứu khả thi để đánh giá khả năng tài chính để đầu tư, kỹ thuật và rủi ro đầu tư của dự án. Đây là căn cứu để công ty khai thác mỏ ra quyết định phát triển mỏ hoặc từ bỏ dự án. Khâu này bao gồm cả quy hoạch mỏ để đánh giá tỷ lệ quặng có thể thu hồi, khả năng tiêu thụ, và khả năng chi trả để mang lại lợi nhuận, chi phí cho kỹ thuật sử dụng, nhà máy và cơ sở hạ tầng, các yêu cầu về tài chính và equity và các phân tích về mỏ như đã đề xuất từ khâu khai đào cho đến hoàn thổ.

Khi việc phân tích xác định một mỏ có giá trị thu hồi, phát triển mỏ mới bắt đầu và tiến hành xây dựng các công trình phụ trợ và nhà máy xử lý.

Vận hành mỏ để thu hồi quặng bắt đầu và tiếp tục dự án khi mà công ty khai thác mỏ vẫn còn thu được lợi nhuận (khoáng sản vẫn còn). Sau khi tất cả quặng được thu hồi sẽ tiến hành công tác để làm cho đất của khu mỏ có thể được sử dụng vào mục đích khác trong tương lai.

Công nghệ khai thác mỏ chủ yếu gồm 2 nhóm là khai thác mỏ lộ thiên và khai thác hầm lò. Đối tượng khai thác cũng được chia thành 2 nhóm tùy theo loại vật liệu: sa khoáng bao gồm các khoáng vật có giá trị nằm lẫn trong cuội lòng sông, cát bãi biển và các vật liệu bở rời khác; và quặng mạch hay còn gọi là quặng trong đá gốc, ở đây các khoáng vật có giá trị được tìm thấy trong các mạch, các lớp hoặc các hạt khoáng vật phân bố rãi rác trong khối đá. Cả hai loại này đều có thể khai thác theo phương pháp lộ thiên và hầm .

– Hiện nay khái niệm về phát triển bền vững TNN được hiểu là : ThÕ hÖ ngµy nay sö dông nguån tµi ngu yªn n­íc hiÖn cã sÏ kh”ng g©y ra nh÷ng rñi ro cho thÕ hÖ sau.

Quy hoạch kém sẽ dẫn đến phát triển tài nguyên nước không bền vững. Trên thế giới có nhiều vùng đất rộng lớn nhưng lại có rất ít tài nguyên nước ngọt. Nước mặt đất được coi là tài nguyên có thể tái tạo được, nhưng nó chỉ chiếm 1,5 % TNN ngọt, số còn lại chủ yếu ở trong đất (nước ngầm chiếm 98,5 %). Việc khai thác bừa bãi, quá mức, thiếu quy hoạch, quy hoạch kém sẽ dẫn đến phá hoại nguồn tài nguyên nước, nó sẽ ảnh hưởng xấu đến việc sử dụng nước trong tương lai.

– Bền vững về kỹ thuật(Cân bằng cung và cầu, cân bằng giữa lượng bổ xung và lượng khai thác (đến và đi).

– Bền vững về mặt tài chính (hoàn vốn)

– Bền vững về mặt xã hội (ổn định dân số, ổn định nhu cầu, trả các khoản phí)

– Bền vững về mặt kinh tế (phát triển kinh tế, phúc lợi, sản xuất bền vững)

– Bền vững về thể chế (khả năng lập kế hoạch, quản lý và vận hành hệ thống)

– Bền vững về môi trường (không có các tác động tiêu cực lâu dài hoặc các ảnh hưởng không thể khắc phục được).

Hệ thống tài nguyên nước gồm có các công trình thuỷ lợi và cơ cấu hạ tầng hành chính, các dịch vụ và hàng hoá đối với các đơn vị dùng nước, bao gồm tất cả các hoạt động trong xã hội có sử dụng nước.

Như chúng ta đã biết, qui hoạch là một quá trình khảo sát một vấn đề có hệ thống, một thực hành quản lý thông tin, đánh giá phân tích thông tin và cuối cùng là đưa ra quyết định.

Nói rõ hơn qui hoạch là sự phân tích có hệ thống những giải pháp đối với một vấn đề hoặc một nhu cầu bao gồm giá cả, lãi suất, những phản tác dụng và việc lựa chọn kế hoạch tốt nhất. Nhật Bản, Singapore, Thái Lan là những nước có diện tích đất ít ỏi, nhưng do tận dụng chất xám trong qui hoạch đã trở lên những cường quốc kinh tế.

– Nêu các giải pháp chung thích hợp để giải quyết các vấn đề và nhu cầu đã nêu ra.

Trên cơ sở nghiên cứu, thống kê để lập quy hoạch nước sơ bộ cần đề ra tiêu chuẩn sử dụng nước cho từng đơn vị sản phẩm hoặc cho từng đầu người và số % lượng nước coi như mất hẳn để làm cơ sở tính toán qui hoạch nước chính thức.

+ Làm thêm hồ chứa nước để nâng cao hệ số điều tiết.

+ Xử lý nước thải thật tốt bằng các biện pháp lọc, sinh vật, xử lý nước thải vào mục đích khác, không đổ ra sông làm ô nhiễm nước sông như dẫn nước thải thành phố để tưới cho các vùng ngoại thành…

+ Nghiên cứu các biện pháp hợp lý trong nông nghiệp nhằm tiết kiệm nước, đồng thời vẫn đảm bảo năng suất cao.

Như vậy để quy hoạch sơ bộ nguồn nuớc cũng như đề ra những biện pháp tiết kiệm nước, ta thấy có rất nhiều vấn đề mà các nhà khoa học phải giải quyết.

Mức độ B hạn chế hơn mức độ A nhưng chi tiết hơn mức độ A nhằm giải quyết những vấn đề ở phạm vi dài phức tạp nhưng lại được nhận ra sớm hơn trong nghiên cứu tổng thể. Mức độ B giới thiệu kế hoạch, chương trình hành động, những vấn đề có vị trí quan trọng đặc biệt sẽ được nêu ra và tính ưu tiên của các vấn đề trong qui hoạch.

Để lập được qui hoạch chính xác cần có tài liệu sau:

– Các ngành cần sử dụng nước (nhất là nước trong sử dụng đất, nước cho sinh hoạt dân cư nông thôn…) cần cho biết rõ vị trí của các khu vực cần nước, lượng nước cần thiết và cơ quan quản lý nước sẽ căn cứ vào đó để đề ra những biện pháp cung cấp nước cho các mục đích sử dụng.

– Các ngành sử dụng nước cho biết tại một địa bàn nào đó (như một tỉnh, một huyện hoặc một xã) sẽ phát triển ngành sản xuất nào, lượng nước cần là bao nhiêu, cơ quan quản lý nước sẽ căn cứ vào đó đề ra biện pháp cấp nước và qui định vị trí của điểm dùng nước.

Người làm công tác qui hoạch quản lý đất cần nắm được các loại qui hoạch nước đã được xác định với mức độ khác nhau trong vùng, trên cơ sở đó có phương án qui hoạch và quản lý đất hợp lý phù hợp với tài nguyên nước trong vùng

1. Tài nguyên nước phân bố không đều theo không gian và thời gian

T¹i sao nãi TNN mang tÊt c¶ tÝnh chÊt cña thuû v¨n? Chøng minh hiÖn t­îng thuû v¨n ë TNN mét mÆt mang tÝnh chÊt tù nhiªn, tÝnh quy luËt mét mÆt mang nh÷ng tÝnh chÊt chÊt ngÉu nhiªn, tÝnh tÊ t nhiªn?

Tất cả các đặc trưng của nguồn nước và sự thay đổi của chúng theo thời gian và không gian gọi là hiện tượng thuỷ văn (hay chế độ thuỷ nhiệm văn).

Cũng tương tự như nhiều hiện tượng tự nhiên khác, hiện tượng thuỷ văn một mặt mang tính chất tự nhiên, tính quy luật một mặt mang những tính chất chất ngẫu nhiên, tính tất nhiên, tính quy luật thể hiện bản chất của hiện tượng do những nguyên nhân bên trong thúc đẩy, còn tính chất ngẫu nhiên (chiếm đa số) do nguyên nhân bên ngoài quyết định. Tuỳ từng trường hợp, từng nơi, từng lúc tác động của các nguyên nhân bên trong, bên ngoài có ảnh hưởng khác nhau nên một hiện tượng có thể sinh ra có lúc tất nhiên, có lúc ngẫu nhiên. ví dụ hiện tượng lũ lụt: lũ lụt phụ thuộc vào cường độ mưa, lượng mưa, thời gian mưa, độ ẩm ban đầu của lưu vực, điều kiện địa chất, địa hình, thảm phủ thực vật… Ngoài những tính chất nói trên, hiện tượng thuỷ văn còn mang tính chất chu kỳ rõ rệt. Ví dụ mùa lũ, mùa kiệt thay nhau trong năm, thời gian ít nước, nhiều nước nằm xen kẽ nhau trong nhiều năm… tính chu kỳ này chỉ thể hiện qua mặt định tính (lũ, kiệt, nhiều nước, ít nước) còn thời gian kéo dài một chu kỳ, biên độ dao động của hiện tượng của hiện tượng trong chu kỳ không xác định được rõ ràng, do đó tính chu kỳ mâu thuẫn với tính ngẫu nhiên đã trình bày ở trên.

3. Tài nguyên nước không phải vô tận nhưng có tính chất tuần hoàn

4. Tính chất hai mặt của tài nguyên nước

– Mặt hại của tài nguyên nước:

Về mặt khai thác sử dụng đất, mặt hại của tài nguyên nước có thể liệt kê một số lợi ích chính mà tài nguyên nước đem lại:

+ Độ màu là do các chất gumid, các hợp chất keo của sắt, nước thải công nghiệp hay do sự phát triển mạnh mẽ của rong tảo trong các nguồn thiên nhiên tạo nên.

+ Mùi và vị: nguồn nước thiên nhiên có nhiều mùi vị khác nhau, có thể có vị cay nhẹ, vị mặn, chua, có khi hơi ngọt.

– Đặc điểm hoá học của nguồn nước được đánh giá qua các chỉ tiêu cơ bản sau.

+ Độ kiềm (mgdl/l), đặc trưng bởi các muối của axit hữu cơ như bicacbonat, cacbonat, hydrat… vì vậy người ta cũng phân biệt độ kiềm theo tên gọi của các muối.

Nhiễm bẩn nguồn nước được định nghĩa như là sự giảm chất lượng nước tự nhiên.

– Các nguồn gây nhiễm bẩn chất lượng nước

+ Nguồn nhiễm bẩn từ đô thị

+ Từ Hoạt động nông nghiệp

+ Từ hoạt động công nghiệp, giao thông, khai khoáng …..

Hay trong môi trường pH thấp hợp chất của phốt pho bị tan làm tăng phốt pho tan trong nước ảnh hưởng đến chất lượng nước. ….

+ Quá trình vận chuyển và phân huỷ các hợp chất hữu cơ

1.6.2. Các chỉ số đánh giá chất lượng nước

Trên quy mô thế giới, vấn đề quy hoạch nước đã đặt ra rất cấp thiết với nội dung lớn là.

– Đảm bảo đủ số lượng cho nhu cầu

– Khai thác nguồn nước mới.

– Chống tác hại, chống nhiễm bẩn nguồn nước

Như vậy là hàng loạt biện pháp phải đặt ra: dự trữ nước, điều hoà dòng chảy, phòng chống lụt, hạn hán, bảo vệ môi trường nước… phải có những biện pháp lớn như tạo hồ chứa nước, uốn nắn dòng sông, lọc nước biển lấy nước ngọt. Đặc biệt quan trọng là bảo vệ môi trường nước trong điều kiện phát triển nông nghiệp và công nghiệp hoá. Cụ thể là:

– Tăng cường sự tham gia của cộng đồng:

+ Nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của chất lượng tài nguyên nước đối với sức khoẻ của cộng đồng cũng như ảnh hưởng của nó tới chất lượng sống.

Phương pháp trung hòa

Xử lý sinh học

– Nhân tố khí hậu như lượng mưa, bốc hơi ……

– Nhân tố phi khí hậu:

+ Địa hình và thực vật, địa hình cao dốc dòng chảy sẽ tập trung nhanh hơn.

+ Loại đất cũng ảnh hưởng đến dòng chảy bề mặt. Đất cát dễ ngấm nước hơn đất sét, nếu lượng mưa như nhau sự hình thành dòng chảy trên đất sẽ lớn hơn.

+ Biện pháp nông nghiệp chủ yếu là làm ruộng bậc thang, bờ vùng bờ thửa, thâm canh cây trồng.

+ Biện pháp thuỷ lợi, trữ nước trong các ao núi, các loại hồ chứa, trong các hệ thống kênh mương….

Để đánh giá dòng chảy bề mặt người ta thường dùng các đại lượng sau :

+ Lưu lượng được đo ngay khi nguồn nước xuất hiện gọi là lưu lượng tức thời. Lưu lượng bình quân ngày.

+ Lưu lượng bình quân tháng

+ Lưu lượng bình quân năm

+ Lưu lượng bình quân nhiều năm

+ Ngoài ra có đường quá trình lưu lượng lũ ,đường quá trình lưu lượng kiệt…

Vì lưu lượng là hàm số của thời gian Q = f(t) nên ta có thể xác định tổng lượng dòng chảy là:

W= hay W = Q.t ( 1 .9)

Giả sử đem tổng lượng dòng chảy chảy qua mặt cắt sông hay suối trong thời gian nào đó trải đều trên toàn bộ diện tích lưu vực, ta được một lớp nước có chiều dày Y – gọi là độ sâu dòng chảy.

Độ sâu dòng chảy Y có đơn vị là m hoặc mm, được tính như sau:

Y= (mm) ( 1 .10)

Trong đó: W : tổng lượng dòng chảy trong t giây , tính bằng m 3

t: Thời gian tính bằng giây

( 1 .11)

F = ( 1 .12)

F = ( 1 .13)

Y= (mm) ( 1 .14)

– môđun dòng chảy bình quân trong thời gian t giây

Độ sâu dòng chảy và môđun dòng chảy thường dùng để nghiên cứu sự phân bố dòng chảy trong không gian.

 = ( 1 .15)

Tại sao lại gọi là nước dưới đất? Khái niệm nước dưới đất?

– Dựa vào tầng đất:

– Dựa vào theo lực chi phối phân tử nước trong đất (lực hấp thụ, lực mao quản và trọng lực) mà ta phân thành các loại nước sau đây:

1. Nước hấp thụ hay còn gọi là nước hút ẩm

Đây là nước bao quanh các hạt đất rắn thành các lớp phân tử.

2. Nước mao quản

Nước mao quản là nước chứa đây trong các lỗ rỗng rất nhỏ của đất (lỗ rỗng mao quản <= 1 mm). Nước mao quản nằm trong khoảng ẩm tính từ độ hút ẩm tới sức giữ ẩm đồng ruộng. Lực mao quản là kết quả hợp lực giữ lực hút với lực dính.

Ranh giới để phân biệt nước mao quản dễ vận động và khó vận động là điểm dừng mao dẫn (điểm nguy hiểm), nó có giá trị bằng 2/3 sức giữ ẩm đồng ruộng.

3. Nước trọng lực

Nước trọng lực là nước chứa đầy trong các khe rỗng phi mao quản của đất. Nước tồn tại trong khoảng ẩm từ sức giữ ẩm đồng ruộng tới độ ẩm bão hoà.

Nước ngầm là loại nước nằm trong một tầng đất đã bão hoà nước hoàn toàn, phía dưới là tầng không thấm nước.

Dựa vào áp suất trong tầng nước, người ta chia thành nước ngầm có áp, nước ngầm bán áp và nước ngầm không có áp.

– Để xác định trữ lượng nước trong đất người ta dựa vào các công thức sau:

Trong đó: K: là hệ số thấm của đất

K: hệ số thấm của đất; J: độ dốc thuỷ lực (mm)

J – độ dốc thủy lực J = (a + h) /h

a – là lớp nước trên mặt đ ất (mm); h – là độ sâu mực nước ngầm (mm)

+ Loại hình điều tiết: Có 2 loại hình là giữ nước và dẫn nước

+ Mức độ điều tiết: Lưu lượng (Q) trữ, hay dẫn đến, dẫn đi, nhiều hay ít ….

+ Biện pháp điều tiết: Các biện pháp cụ thể để điều tiết như sử dụng hồ chứa hay bảo vệ, trồng rừng giữ nước hay che phủ, tủ gốc …. Điều tiết dẫn nước (dẫn đến – sử dụng các phương pháp tưới, tiêu ….

Để đảm bảo yêu cầu sử dụng nước thì: Wt, Vt ≥ giới hạn nhất định Wy, Vy.

Về chất lượng: yêu cầu nước phải đảm bảo các tiêu chuẩn sinh học và hoá học. Đó là loại nước không gây nguy hiểm cho cơ thể người. Theo quan điểm vi khuẩn, nước không chứa các mầm mống. Theo quan điểm hoá học, nước không chứa các chất độc hại cho cơ thể người.

Tóm lại nước phải đảm bảo các tiêu chuẩn do Bộ y tế quy định.

Trong đó: q: Tiêu chuẩn cấp nước trong 1 ngày cho 1 người

N: Số dân trong khu vực cấp nước (người)

Bảng 3.2. Định mức cấp nước cho một số đối tượng

Bảng 3.3. Định mức cấp nước cho khu dân cư

Bảng 3.4 Giới thiệu chất lượng nước cho các ngành theo các chỉ tiêu trên

– Định mức cấp nước cho công nghiệp

2. Độ pH < 4,5 có thể tăng khả năng hoà tan của sắt, nhôm và mangan, dẫn tới tập trung cao bất lợi cho sự sinh trưởng của cây trồng.

4. Các nguyên tố vi lượng:

h là độ sâu mực nước ngầm (mm)

h – chiều sâu tầng đất bão hoà (mm)

A – độ rỗng đất (%)

Có nhiều phương pháp tính toán: đồ giải, lập bảng.

Công thức tổng quát tính nhu cầu nước cho cây trồng cạn là:

Vùng rừng núi Việt Nam không chỉ là nơi bắt nguồc của cá con sông nằm trọn ven trong nội địa Việt Nam mà còn là nơi bắt nguồn của các con sông đỏ sang các nước láng giềng. Với những đặc điểm trên sông ngòi Việt Nam có thể chia làm ba nhóm như sau:

– Nhóm I: Nhóm hệ thống sông mà thượng nguồn của lưu vực nằm trong lãnh thổ Việt Nam, nhưng nước chảy sang các nước láng giềng, bao gồm 2 hệ thống sông:

Hệ thống sông nhóm I có thượng nguồn nằm trên đất nước ta nên vừa chủ động vừa thuận lợi trong khai thác tài nguyên nước cho phát trển thuỷ điện Yaly, thuỷ điện Sêsan. Ở Kontum sông Sêsan có hai nhánh sông Pôkô và Đakbla cùng tạo dòng cho Sêsan và nâng tổng lượng dòng chảy hàng năm 10 – 11 tỷ mét khối, ngoài ra còn dự trữ vào hồ thuỷ điện Yaly trên 1 tỷ mét khối nước.

– Nhóm II : nhóm có hệ thống sông mà trung lưu và hạ lưu nằm trong lãnh thổ Việt Nam, thượng lưu nằm trên các nước láng giềng, bao gồm:

Do thượng nguồn các hệ thống sông không nằm trên lãnh thổ Việt Nam, mặt khác do sự dao động dòng chảy hằng năm từ 1,3 – 3,0 lần giữa năm nhiều nước và năm ít nước nên việc khai thác, sử dụng vừa không chủ động vừa không thuận lợi, ngoài ra con phải hứng chịu một khối lượng nước lũ hằng năm rất lớn, gây thiệt hại cho đất đai và thu hoạch mùa màng.

Theo kết quả khoan điều tra thăm dò, có thể phân chia vị trí địa chất thuỷ văn nước ta theo các phân vị sau:

* Các tầng chứa nước có lỗ hổng trong thành tạo đệ tứ:

* Các tầng chứa nước khe nứt trong thành tạo bazan Pliocen-đệ tứ

Tầng này phân bố rộng khắp ở Tây Nguyên và Đông Nam bộ, ngoài ra còn thấy ở Quỳ Hợp, Điện Biên … với diện tích không lớn. Lượng nước thay đổi vùng và phụ thuộc vào độ nứt nẻ, độ dày và mức độ phân bố của khối bazan. Chiều sâu lỗ khoan thường không quá 100 m. Có chỗ độ dày khối bazan 200-300 m như Pleiku. Chất lượng tốt, chủ yếu là nước bicarbonat Clorua với độ khoáng hoá 0,2-0,3 g/l. Nguồn cung cấp cho tầng nước này chủ yếu là mưa, nên động thái biến đổi nhanh theo mùa, mùa khô mực nước hạ nhanh. Có thể khai thác nước ở tầng này với quy mô từ vừa đến lớn.

* Các tầng chứa nước khe nứt trong thành tạo lục địa nguyên

Phân bố chủ yếu ở vùng Đông Bắc Bắc bộ, Bắc Trung bộ, ngoài ra còn gặp ở Tây Nguyên và Nam Trung bộ. Tầng chứa nước bao gồm các trầm tích lục nguyên hệ Triat, Jura, Neogen. Đất chứa nước chủ yếu là cát kết, cuội kết và sét kết bị nứt. Nhìn chung tầng này nghèo nước, tuy nhiên có một số nơi gặp tầng cát kết, cuội kết nứt nẻ khá giàu nước, Q lỗ khoan là 5-10 l/s. Còn Q phổ biến ở tầng nước này là 0,5-2,0 l/s hoặc nhỏ hơn. Khả năng khai thác chỉ ở quy mô nhỏ, cục bộ. Chất lượng nước tốt, tổng độ khoáng hoá thường là 0,01-0,2 g/l.

*Các tầng chứa nước khe nứt Karst trong thành tạo Carbonte

– Các tầng chứa nước khe nứt Karst – Pleozoi phân bố khá rộng ở vùng thuộc Bắc bộ như Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Sơn la, Lai Châu, Thanh Hoá. Đất chứa nước là đá vôi nứt nẻ hoặc karst phát triển. Nhìn chung lượng nước phong phú, lỗ khoan khai thác thường ở độ sâu 80- 150 m, có Q = 5-15 l/s hay lớn hơn. Chất lượng nước tốt, thường là dạng bicarbonate-clorua hay bicarbonate – sunfat, tổng độ khoáng hoá (ĐKH) là 0,3-0,7 g/l. Tầng nước này có thể đáp ứng cho khai thác quy mô vừa và lớn.

– Các thành tạo carbonate- Silur có diện tích phân bố hẹp, gặp ở một số vùng Tây Nghệ An, Hà Tỹnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Điện Biên, Lai Châu … mức độ nứt nẻ hẹp và karst yếu nên chứa ít nước.

*Các thành tạo địa chất rất nghèo nước hoặc không chứa nước

Sông trên cao nguyên vùng Tây Bắc đại diện cho các sông chảy trong miền đá vôi, với quá trình castơ gây mất nước. Đây là điều hạn chế lớn về nguồn nước trong khu vực đá vôi để canh tác và ngay cả để ăn uống, tuy nhiên nguồn nước ngầm không phải là quá hiếm.

– Vùng Đông Bắc bao gồm các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Bắc Kạn, Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Yên Bái.

Lượng mưa hàng năm ở các cao nguyên này không lớn lắm: mùa đông thiếu mưa (200 – 300 mm với 30 – 50 ngày mưa) nhưng mùa hè cũng chỉ khoảng 100 ngày với lượng mưa 1300 – 1500 mm. Nói chung đây là một vùng mưa ít nhưng vấn đề là ở chỗ nước mưa rơi xuống chảy đi đâu. Ở đây có hai hiện tượng thật trái ngược, mùa hè nước mưa rơi xuống chảy tràn trên vùng núi đá vôi, nhưng rồi nhanh chóng biến vào trong các khe nứt và mất dần xuống sâu do hiện tượng castơ ở miền núi đá vôi. Nhưng ở các thung lũng vào mùa này nước không tiêu kịp làm đất đai bị úng trong một thời gian dài, nhưng vào mùa khô rét thì trong các thung lũng này lại thiếu nước nghiêm trọng gây trở ngại cho sản xuất và cả nguồn nước sinh hoạt.

Vùng thung lũng sông Hồng cũng có lượng mưa rất lớn. Ngay ở Lao Cai lượng mưa lớn nhất có thể đạt đến trên 2500 mm, nhưng mùa đông lượng mưa giảm đi rất nhiều, ở Hà Giang và Lao Cai có lượng mưa tương ứng là 261mm và 229mm, có thể có sương muối.

Đặc biệt tỉnh Bắc Kạn có hệ thống sông ngòi tương đối phong phú. Bắc Kạn là đầu nguồn của 5 con sông lớn chảy sang các tỉnh lân cận như sông Lô, sông Gâm chảy sang Tuyên Quang, sông Kỳ Cùng chảy sang Lạng Sơn, sông Bằng Giang chảy sang Cao Bằng và sông Cầu chảy sang Thái Nguyên. Ngoài hệ thống sông ngòi, Bắc Kạn còn một số hồ ao mà đáng kể nhất là hồ Ba Bể, nằm ở độ cao 178m so với mực nước biển, hồ được hình thành từ một vùng đá vôi bị sụt do nước chảy ngầm đã đục rỗng lòng khối núi.

Sông ngòi, hồ, ao đều có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất và đời sống nhân dân. Đó là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho nông nghiệp và phát triển thủy sản. Tuy nhiên phần lớn sông là nhánh thượng nguồn có đặc điểm chung là ngắn, dốc, chế độ nước thất thường, có tiềm năng về thủy điện và tạo ra một số cảnh đẹp có khả năng lôi cuốn khách du lịch.

Trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay, nguồn nước ở vùng đồng bằng sông Hồng vẫn còn đủ để đảm bảo bơm nước tưới ruộng và giao thông vận tải thủy quanh năm.

Bắt đầu từ phía Nam đèo Hải Vân trở đi cho đến miền Đông Nam bộ, khối núi Trường Sơn Nam hầu như bao bọc hết diện tích của miền Trung Trung bộ và cực nam Trung bộ, còn các đồng bằng duyên hải chỉ là một đường viền nhỏ hẹp mà cuộc sống kinh tế trong quá khứ cũng như tương lai không hề tách rời với khối núi này. Đó là miền đất cao rộng lớn nằm sau lưng gờ núi Trường Sơn nam thường quen gọi là “Tây Nguyên” bao gồm nhiều cao nguyên có những độ cao khác nhau, Cao nguyên Kontum – Pleiku ở phía bắc cao dần từ 400 – 800m, cao nguyên Di Linh tận cùng ở phía nam vẫn còn cao 1000m, bao gồm các tỉnh Kontum, Gia Lai, Daklak và Lâm Đồng.

Ở Tây nguyên chỉ có một nơi mưa ít nhất, đó là thung lũng Cheo Leo, lượng mưa không quá 1300mm. Khí hậu ở đây tương đối khô khan và cây cối bao gồm những loài giỏi chịu hạn, lá dày và đầy gai để thích ứng với môi trường như chuối, mít, dứa, đu đủ, thanh long …

Mùa mưa ở Tây nguyên kéo dài từ tháng 5 – 11, có nhiều cơn bão lớn đổ bộ vào đất liền nhưng không vượt qua được sườn đông của dãy Trường sơn nam nên ở Tây nguyên không có bão, chỉ có những cơn gió lốc.

Mùa khô ở Tây nguyên kéo dài từ 6 đến 9 tháng tùy từng vùng. Trái với mùa mưa, vào thời kỳ này nắng gay gắt và không khí khô một cách khốc liệt. Hầu như ánh nắng dần dần hút cạn hết từng giọt nước trong đất, làm cho mặt đường đất đỏ trên các cao nguyên phủ một lớp bụi dày, bụi bay trong không khí tô nên một màu đỏ vàng vào thân cây và bụi cỏ xung quanh, nhiều rừng cây lại rụng gần hết lá, đặc biệt là rừng cây họ Dầu (gọi là rừng “khộp”) làm tăng thêm vẻ tiêu điều cảnh vật. Suối nhiều nhưng cũng có vùng đi hàng chục kilomet không có một dấu vết của nước, còn nước ngầm thì nằm sâu dưới mặt đất đến 30 – 60m. Vùng thung lũng Kontum – Pleiku là nơi lý tưởng cho trồng bông, mía, thuốc lá, cafê… vào mùa khô mực nước ngầm hạ thấp đến 12m dưới mặt đất, điều này cộng với khí hậu khô hạn làm cho việc gieo trồng ở đây nhất thiết phải có nước tưới. Nhưng nhờ các suối đổ từ các núi cao bao quanh có mưa nhiều không ngừng tiếp tế nước cho dòng sông Ba nên vào mùa khô hạn đã giải quyết nước tưới cho sản xuất nông nghiệp, mặc dù còn nhiều khó khăn trong khai thác.

Vùng cao nguyên Đắc Lắc nằm ở hữu ngạn sông EaAydun và sông Ba trỏ về đến vùng hồ Đắc Lắc nằm dưới chân cao nguyên Lâm Viên. Đây là cao nguyên đất đỏ phì nhiêu nhất, đông dân cư nhất và có thành phố Buôn Ma Thuật to lớn nhất, là thành phố quan trọng hàng đầu của Tây Nguyên. Các dòng sông gần như có nước quanh năm, nhiều chỗ nước đọng lại thành chảy vũng nhỏ, còn nước ngầm thì khá phong phú nằm ở những độ sâu khác nhau không xa mặt đất. Sông Crông Cơ Nô trước khi đổ và đồng bằng Đắc Lắc đã tạo điều kiện cho việc đắp đập sản xuất ra năng lượng thủy điện và giữ nước tưới cho các khu vực đất cao, hạn chế các cơn lũ thất thường hay xảy ra ở miền núi.

Phía nam cao nguyên Đắc Lắc có hồ Lak, nguồn nước vùng hồ Lak đều đổ xuống các thung lũng sâu: thung lũng sông Crông cơ nô ở phía Bắc, thung lũng sông Đa ở phía Tây, thung lũng sông ĐaNhim ở phía đông Nam, vì vậy mùa khô trên cao nguyên Đắc Lắc không khắc nghiệt và không dài bằng ở cao nguyên Kontum – Pleiku.

Vùng cao nguyên Liên Khương có nhiều suối, tuy cạn về mùa khô nhưng mực nước ngầm nằm không sâu lắm, các cống trong vùng chỉ đào khoảng vài mét là có nước.

Tây nguyên có nhiều khả năng về mặt nông lâm nghiệp. Do những điều kiện tự nhiên thay đổi rất rõ ràng theo từng vùng mà người ta phải chú ý đến tính đặc thù của chúng ở các vùng khi sử dụng vào mục đích kinh tế. Tuy nhiên có một điểm chung là, do điều kiện mùa khô kéo dài trong một số tháng liên tục nên cần phải lựa chọn những giống cây chịu hạn, những cây lâu năm nhiều hơn là cây hàng năm. Khi phát triển cây hàng năm thì vấn đề nước tưới trở thành vấn đề hàng đầu, mặc dù ngay đối với cây lâu năm, nước cũng có vai trò quan trọng không kém nếu muốn có sản lượng cây trồng cao giữa các tháng. Người ta dễ nhận thấy rằng mặc dù cây cao su là cây chịu hạn tốt nhưng sản lượng trong các tháng mùa khô thiếu nước tưới đều giảm sút so với các tháng có nước đầy

Hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận đều thuộc vùng khô hạn nhất của Nam Trung bộ, hai đồng bằng Phan Rang và Phan Rí của tỉnh Ninh Thuận đều sử dụng hai nguồn nước của sông Cái và sông Lũy. Nguồn nước hai sông này phụ thuộc chủ yếu vào lượng mưa hàng năm. Tuy nhiên hai đồng bằng này cách nhau không xa nhưng lại có chế độ mưa rất khác nhau. Ở Phan Rang, lượng mưa trung bình năm là 695mm, có năm chỉ 413mm, số ngày mưa là 49 ngày tập trung trong 3 tháng (9,10 và 11) nhưng không có tháng nào lượng mưa rơi lại vượt quá 185mm. Trong khi đó ở Phan Rí mùa mưa lại bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 như ở đồng bằng Nam bộ (lượng mưa rơi hàng tháng khoảng 100mm). Tình trạng khô hạn này lại được tăng cường do trong đồng bằng các bãi cát và cồn cát chiếm diện tích lớn đến 500km2 làm gia tăng sự bốc hơi và làm độ ẩm không khí hạ xuống đến mức thấp nhất. Vào mùa hè người ta có một hiện tượng kỳ lạ: trên mặt các bãi cát nóng bỏng có vô số những hạt trắng. Đó là những hạt muối được mang từ dưới lên trên do hiện tượng bốc hơi quá mạnh theo mao quản.

Đồng bằng Phan Thiết rộng đến 310km2 nhận nước tưới từ hàng chục con suối và sông chảy thẳng từ miền núi phía Bắc và phía Tây tới trong đó có hai con sông Cái. Một con sông Cái chảy theo phía Đông Bắc Phan Thiết để ra biển, còn sông Cái thứ hai chảy từ phía Tây đến đổ vào thị xã Phan Thiết ở sát bờ biển.

Nói chung, các khu vực đất cao trong vùng Ninh Thuận – Bình Thuận đều là những khu vực đất tốt nhưng vì thiếu nước tưới nên chưa sử dụng hết – có hệ thống kênh mương dẫn nước tưới thì đây là vùng đất lý tưởng của bông, mía, nho, tỏi, hành tây và nhiều loại cây ăn quả.

Chế độ khí hậu đặc biệt này được phản ánh rõ rệt trong chế độ các sông. Toàn miền có một mạng lưới khe suối khá dày đặc và ngắn có đầy cát vào mùa khô nhưng ngập nước lũ vào mùa mưa. Hệ thống sông Đồng Nai cung cấp nước cho toàn vùng cũng có một mạng lưới sông nhánh khá dày, trong đó các sông nhánh chính là sông La Ngà ở tả ngạn, sông Bé, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ ở hữu ngạn do bắt nguồn từ nhiều hướng khác nhau tạo ra cho hệ thống sông cấp nước một lưu vực rất rộng lớn.

Ven các sông La Ngà, sông Bé và sông Vàm Cỏ cũng có nhiều nơi thung lũng sông mở rộng tạo nên những đồng bằng rất phì nhiêu. Đồng bằng sông La Ngà khoảng 10.000ha, đồng bằng sông Bé rộng 20.000ha và nhiều đồng bằng thung lũng khác ngay trên sông Đồng Nai như thung lũng “Trơ đát” giữa Lâm Đồng và Long Khánh (thuộc thành phố Hồ Chí Minh) một phần đã được khai thác làm ruộng lúa nước.

Điều đáng quý là trong khi ở Tây nguyên, ảnh hưởng sâu sắc của mùa khô gây nhiều khó khăn cho nông nghiệp thì ở Đông Nam bộ ảnh hưởng đó được giảm bớt do mực nước ngầm trong các thung lũng kín giữa các đồi lại nằm rất nông, do đó có thể sử dụng được vào việc lấy nước tưới ruộng.

Tất cả các con sông chảy qua trong vùng đều có khả năng xây đập thủy điện để tạo ra những hồ chứa nước lớn và sản xuất năng lượng thủy điện nhất là trên sông Bé (có thể tưới cho gần 50.000ha và xây dựng nhà máy thủy điện tại Thuận Nghĩa), sông Đồng Nai có thể tưới 70.000ha hai bên sông Đồng Nai, 30.000ha từ Long Khánh đến Phước Tuy và đã xây nhà máy thủy điện Trị An, sông Sài Gòn và sông La Ngà có thể tưới cho 35.000ha thuộc sông La Ngà và 20.000ha thuộc tỉnh Bình Tuy cũ.

Miền Đông Nam bộ đã được ca tụng như là “thiên đường” của cao su, là vùng đất thích hợp cho nhiều cây công nghiệp kể cả mía, ca cao, quế, thuốc lá …

Sông Tiền Giang nhận đến 2/3 lưu lượng của sông Cửu Long và có lòng sông sâu nên là con sông mang nhiều nước và phù sa. Ngang Vĩnh Long cách biển 100 km, sông lại chia ra hai nhánh tạo thành sông Mỹ Tho và sông Cổ Chiên. Sông Mỹ Tho ngay sau đó lại tách ra một nhánh quan trọng tạo thành sông Hàm Luông, rồi lại tiếp tục chia ra nhánh Balai, sông Cửa Tiểu và sông Cửa Đại. Như vậy sông Tiền đổ ra biển qua 6 cửa, từ bắc xuống nam là cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Balai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên và cửa Cung hầu (một nhánh phụ của sông Cổ Chiên).

Nước chứa trong các kênh rạch cũng là một nguồn nước lớn. Không ai có thể tưởng tượng được rằng kênh rạch ở miền Tây có chiều dài tổng cộng 4900km (trong đó có 1575km) kênh có lòng rộng 8 – 16m, còn lại là dưới 8m). Các kênh rạch đã cắt xẻ bề mặt châu thổ thành các ô ruộng làm cho sự giao thông trong miền chủ yếu là trên mặt nước (đường thủy).

Đất đai trong vùng châu thổ là đất phù sa. Đất phù sa do sông Tiền, sông Hậu và các sông nhánh của chúng bồi đắp là loại đất tốt nhất, diện tích chừng 3.971.232ha.

Đất mặn chiếm diện tích khoảng 3190900ha phân bố ở cực nam Cà Mau và đất đỏ đất duyên hải Gò Công, Kiến Hòa. Vào mùa mưa, mặn bị rửa trôi đi một phần nhưng vào mùa khô mặn thường theo mao quản dâng lên đến mặt đất làm cho việc trồng trọt bị ảnh hưởng.

Đáng chú ý là đất phèn chiếm diện tích hơn 1.100.000ha, phân bố ở Đồng Tháp Mười và An Giang. Đây là những vùng đất trũng thường bị ngập nước làm cho sét lắng đọng trong nước lợ có nhiều sunfat và khi ở môi trường sét yếm khí bị biến đổi thành sunfa sắt. Nếu mực nước hạ xuống quá thấp, các chất sunfua bị ôxy hóa chuyển thành sunfat sắt và axit sunfuric nên đất có nhiều axit. Axit sunfuric hợp với sét tạo ra sunfat alumin và do có nhiều sunfat alumin nên gọi là đất phèn.

Để chống chọi với khô hạn làm bốc phèn và bốc mặn, nước vẫn là quan trọng. Nhưng nước sông Tiền và sông Hậu trong chính mùa khô cũng khó có thể đảm bảo tưới cùng một lúc những diện tích rất to lớn, nhất là khi nước rửa phèn và rửa mặn được coi là nước thải đi và chỉ sử dụng một lần.

Tài nguyên nước của bảy vùng kinh tế nước ta có quan hệ chặt chẽ đến khai thác, sử dụng đất và cả cuộc sống con người. Tuy nhiên, hàng năm còn gặp nhiều khó khăn trở ngại do bão lụt và khô hạn diễn biến nằm ngoài sự kiểm soát của con người. Nhưng con người có thể khắc phục được tình trạng đó bằng các công trình thủy lợi thích đáng, vì vậy chính sách về nước bao giờ cũng được Nhà nước chú trọng nhiều nhất ở nước ta.

2.2. Tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam

2.2.1. Loại khoáng sản và sự phân bố tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam

– Nhóm năng lượng: Than đá, than nâu, than bùn, dầu mỏ, khí tự nhiên

– Nhóm năng lượng: Than đá, than nâu, than bùn, dầu mỏ, khí tự nhiên

+ Mỏ Than đá có ở TP-Thái Nguyên, Sơn La, Quảng Ninh, Hòa Bình, Nông Sơn-Đà Nẵng

+ Mỏ Than nâu có ở Thái Bình, Hà Nội; Than bùn có ở Kiên Giang, Sóc Trăng

+ Mỏ Dầu có ở Đảo Phú Quý, đảo Hồng Ngọc, đảo dạng Đông, đảo Bạch Hổ, đảo Rồng …..

+ Mỏ Khí tự nhiên có ở Tiền Hải-Thái Bình, và ngoài thềm lục địa biển Đông.

+ Mỏ đồng có ở Bát Sát tỉnh Lao Cai, Yên Châu-Sơn La, Sơn Động-Bắc Giang

+ Mỏ asen có ở Tây Nguyên như cao nguyên Đà Lạt, Cao nguyên Di linh, Cao nguyên Pleyku.

+ Mỏ uranium có ở Khe Hoa – Đà Nẵng

+ Mỏ đá quý có ở Lục Yên – Yên Bái, Hàm Yên – Tuyên Quang

+ Mỏ đá axit có ở Kon Tum, Quy Nhơn, Buôn Ma Thuột, Tây Ninh, Phan Rang, Rạch Giá.

+ Mỏ đá vôi nằm rải rác ở nhiều tỉnh như Hà Giang, Thái Nguyên, Ninh Bình, Quảng Bình …

Từ những lý do trên, những năm gần đây hoạt động khai khoáng phát triển mạnh mẽ. Có rất nhiều mỏ quặng nằm sâu dưới lòng đất được đưa lên. Nhiều mỏ khoáng sản mới được phát hiện và đưa vào khai thác.

Do quản lý tài nguyên khoáng sản còn chưa thực sự chặt chẽ, do vậy những năm qua việc khai khoáng diễn ra còn lôn xộn, thiếu quản lý, thậm chí có nơi bung nổ khai khoáng tự phát, các mỏ thổ phỉ xuất hiện nhiều. Các hoạt động này đã làm thất thoát không ít khoáng sản của đất nước và đặc biệt nhiêm trọng hơn là các hoạt động này làm xã hội nơi đó bị xáo trộn, tệ nạn ra tăng và môi trường bị ô nhiễm

Việc quản lý hoạt động khai khác khoáng sản những năm gần đây đã được Đảng và Nhà nước quan tâm. Rất nhiều các văn bản, chỉ thị, thông tư, quyết định đưa ra nhằm chấn chỉnh lại hoạt động khoáng sản trong toàn quốc. Tăng cường quyền lực của các địa phương có khoáng sản đang được khai thác nhằm hạn chế việc khai thác bừa bãi ở một số địa phương. Việc hoạt động khai khoáng được giao cho các tổ chức cá nhân có khả năng và trách nhiệm hơn.

2007-2015 riêng tại tỉnh Đăk Nông dự kiến hình thành đến bốn tổ hợp công nghiệp bauxite nhôm. Trong năm 2008 đã có hai dự án khai thác bauxite và sản xuất nhôm tổng công suất 1,2 triệu tấn/năm được phép triển khai tại Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ ( Đắk Nông). Dự án bauxite là một trong những chủ đề đang thu hút quan tâm của dư luận trong nước.

Trước mắt, hai bên sẽ hợp tác xử lý các thông tin về địa chất của các vỉa than đã thu được trong quá trình tìm kiếm, thăm dò dầu khí về bể than Đồng bằng sông Hồng.

Khai thác mỏ sắt Thạch Khê, mỏ sắt lớn nhất Đông Nam Á, kéo dài suốt 50 năm qua đang sắp trở thành hiện thực. Ngày 8/9, dự án này chính thức được khởi công . Với trữ lượng 554 triệu tấn, mỏ sắt Thạch Khê (tỉnh Hà Tĩnh) là mỏ sắt lớn nhất Đông Nam Á đồng thời là mỏ chiếm ½ trữ lượng quặng sắt của cả nước.

Để phục vụ cho việc khai thác mỏ sắt Thạch Khê, tỉnh Hà Tĩnh đã có một sự chuẩn bị bền bỉ suốt từ nhiều năm qua. Đó là việc kêu gọi các dự án xây dựng đường nối quốc lộ 1A đi mỏ sắt, xây dựng đường nối mỏ sắt đi khu kinh tế Vũng Áng, đó là việc khởi công xây dựng hồ chứa nước Ngàn Trươi 800 triệu m3 để cung cấp nước cho khai thác quặng…

Một vấn đề đặt ra hiện nay đó là việc tổ chức di dời cho gần 4.500 hộ dân thuộc 6 xã của huyện Thạch Hà bị ảnh hưởng là Thạch Đỉnh, Thạch Khê, Thạch Hải, Thạch Lạc, Thạch Bàn và Thạch Trị. Tổng kinh phí đền bù giải phóng mặt bằng hỗ trợ tái định cư phục vụ khai thác mỏ sắt Thạch Khê lên tới gần 3.500 tỷ đồng. Một cuộc di dời lớn chưa từng thấy đang được khởi động trên đất Hà Tĩnh.

Cùng với mỏ sắt Quý Sa, liên doanh này cũng sẽ xây dựng nhà máy gang thép tại khu công nghiệp Tằng Loỏng của huyện Bảo Thắng.

Dự án này được chia làm 3 giai đoạn, giai đoạn I (từ năm 2008 đến 2009) xây dựng và vận hành luyện gang thép với công suất 500.000 tấn gang/năm; giai đoạn II (năm 2012) xây dựng và vận hành xưởng luyện thép với công suất 500.000 tấn phôi thép/năm; giai đoạn III (năm 2015) xây dựng dây chuyền cán thép với công suất 500.000 tấn thép/năm.

3.1. Hệ thống văn bản pháp luật về quản lý tài nguyên nước của Việt Nam

* Hệ thống các văn bản quy pháp pháp luật về tài nguyên nước bao gồm:

1. Luật số 08/1998/QH10 về Tài nguyên nước được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 20 tháng 5 năm 1998 tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa X;

Câu hỏi: Việt Nam đã có các văn bản nào hướng dẫn thi hành luật TNN? Nội dung chính của các văn bản đó đề cập đến vấn đề gì của tài nguyên nước?

Các văn bản dưới luật nhằm hướng dẫn việc thi hành luật tài nguyên nước, dó là các nghị định, chỉ thị chúng tôi đây là một số văn bản hướng dẫn thi hành luật TN N.

2. Các nghị định của chính phủ về tài nguyên nước:

2.1. Nghị định của chính phủ số 179/1999/NĐ-CP. Quy định việc thi hành Luật tài nguyên nước. Nghị định 179 có 5 chương 21 điều hướng dãn thi hành luật TNN.

2.2. Nghị Định của chính phủ số 91/2002/NĐ-CP. Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ tài nguyên và Môi trường. Nghị định có 5 điều hướng dẫn tổ chức cơ cấu, chức năng và nhiệm vụ của Bộ Tài nguyên và Môi trường

2.3. Nghị Định của chính phủ số 149/2004/NĐ-CP. Quy định cho phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước. Nghị định có 5 chương 25 điều khoản hướng dẫn thi hành.

2.4. Nghị Định của chính phủ số 34/2005/NĐ-CP. Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước. Nghị định có 5 chương 28 điều

2.5. Nghị Định của chính phủ số 112/2008/NĐ-CP. Về quản lý, bảo vệ, khai thác tổng hợp tài nguyên nước và môi trường các hồ chứa thủy điện, thủy lợi. Nghị định có 5 chương 21 điều.

2.6. Nghị Định của chính phủ số 120/2008/NĐ-CP.Về quản lý lưu vực. Nghị định có 10 chương 43 điều.

3. Các Quyết định của chính phủ về tài nguyên nước:

3.2. Quyết định của thủ tướng chính phủ về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của hội đồng quốc gia về tài nguyên nước (số 99/2001/QĐ-TTg).

– Thông tư 02/2005/TT-BTNMT Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2004 của Chính phủ quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, xả nước thải vào nguồn nước;

– Thông tư 05/2005/TT-BTNMT Hướng dẫn thi hành Nghị định số 34/2005/NĐ-CP ngày 17/03/2005 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh tài nguyên nước,

– Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, quyết định sự tồn tại, phát triển bền vững của đất nước, mặt khác nước cũng có thể gây ra tai hoạ cho con người và môi trường.

– Để tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước, nâng cao trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân trong việc bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra.

– Luật Tài nguyên nước có 10 chương 75 điều. Đây là sự thể hiện pháp chế đường lối, chủ chương và quan điểm của Nhà nước về tài nguyên nước. Tại các nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước một mặt cung cấp kinh phí và điều kiện vật chất – kỹ thuật cần thiết cho các biện pháp khoa học và kỹ thuật boả vệ tài nguyên nước, một mặt thiết lập các biện pháp pháp chế cần thiết cho nhiệm vụ quản lý và bảo vệ tài nguyên nước.

– Luật pháp của một quốc gia về bảo vệ tài nguyên nước thường là một hệ thống phức tạp các quy chuẩn pháp lý về sử dụng, bảo vệ, khôi phục, cải thiện các nguồn nước, tạo môi trường thuận lợi cho sự sống và hoạt động sản xuất của con người. Tuỳ theo điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, địa lý và lịch sử mà luật pháp tài nguyên nước ở mỗi nước một khác nhưng nhìn khái quát đều có những đặc điểm chung sau:

+ Thể hiện sự quan tâm rất lớn của Nhà nước đối với nhiệm vụ bảo vệ TNN.

+ Xác định trách nhiệm và quyền hạn pháp chế về tài nguyên nước của Hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân các cấp, mặt trận tổ quốc, cơ quan, Nhà nước, tổ chức kinh tế – chính trị – xã hội…. trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra, giám sát, kiểm tra việc thi hành pháp luật về tài nguyên nước tại địa phương dưới sự thống nhất quản lý Nhà nước về tài nguyên nước.

+ Phối hợp pháp chế bảo vệ tài nguyên nước với pháp chế quản lý các ngành sản xuất sử dụng tài nguyên nước.

+ Kết hợp việc phòng tránh, ngăn ngừa trước thiệt hại về tài nguyên nước với việc xử lý hậu quả xấu đã xẩy ra, cải thiện chất lượng nguồn nước phục vụ lợi ích lâu dài của con người với nhiều mục đích khá c nhau.

– Những nguyên tắc pháp chế về tài nguyên nước thường được thể hiện trước hết trong hiến pháp. Thông thường có thể phân biệt hai loại nguyên tắc:

+ Những nguyên tắc mang tính quan điểm về tài nguyên nước hình thành cơ sở xuất phát cho mọi qui định pháp chế sau đó, như: nguyên tắc sở hữu của toàn dân đối với tài nguyên nước, nguyên tắc kế hoạch hoá bảo vệ tài nguyên nước, nguyên tắc bảo vệ sức khoẻ cho toàn dân và cộng đồng.

+ Những nguyên tắc qui định cơ chế làm việc trong bảo vệ TNN như đã nêu trên

– Luật tài nguyên quốc gia xã hội chủ nghĩa đã làm sáng tỏ ba nội dung cơ bản sau:

+ Xác định quyền làm chủ của toàn dân và Nhà nước đối với mọi tài nguyên nói chung và tài nguyên nước nói riêng.

+ Xác định nội dung về hình thức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ tài nguyên nước của Nhà nước, xem đó là chức năng cơ bản, thường xuyên của Nhà nước.

+ Xác định quyền hạn được hưởng phúc lợi về tài nguyên nước của mỗi một người công dân và trách nhiệm của họ đối với việc bảo vệ tài nguyên nước.

Điều 1, Luật Tài nguyên nước quy định: tài nguyên nước thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý; Tổ chức, cá nhân được quyền khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho đời sống và sản xuất, đồng thời có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra theo quy định của pháp luật. Nhà nước bảo hộ quyền lợi hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước.

Các quy định trong quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng và phát triển tài nguyên nước; phòng chống giảm thiểu tác hại do nước gây ra được quy định chi tiết trong nội dung các Chương, Điều của Luật và trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên nước.

Quản lý Nhà nước về tài nguyên nước gồm:

1. Bộ Tài nguyên và Môi trường:

Ngày 04 tháng 3 năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Theo đó, tại Điều 1 quy định Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên nước.

Tại Khoản 6, Điều 2 quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong lĩnh vực tài nguyên nước bao gồm:

a. Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, các cơ chế, chính sách về tài nguyên nước sau khi cấp có thẩm quyền ban hành; b. Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện chiến lược, quy hoạch tài nguyên nước và các chương trình, kế hoạch tổng thể về phòng, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, khai thác, sử dụng tổng hợp và phát triển bền vững tài nguyên nước sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;

c. Chủ trì xây dựng quy hoạch, kế hoạch quản lý và các biện pháp sử dụng tài nguyên nước bảo đảm phát triển bền vững, phục vụ đa mục tiêu và chủ động phòng, chống suy thoái, cạn kiệt các nguồn nước;

d. Quyết định việc phân loại, lập danh bạ nguồn nước (sông, hồ, suối và các dạng chứa nước tự nhiên khác); xây dựng, công bố tiêu chuẩn cơ sở hoặc trình Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ công bố các tiêu chuẩn quốc gia; xây dựng, ban hành theo thẩm quyền quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo quy định;

e. Xây dựng, quản lý và khai thác mạng lưới quan trắc tài nguyên nước; tổ chức thực hiện công tác điều tra cơ bản, kiểm kê, đánh giá tài nguyên nước trong phạm vi cả nước; thông báo tiềm năng nguồn nước để các ngành, các địa phương xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng nước hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả;

g. Tổ chức thẩm định các quy hoạch chuyên ngành về khai thác, sử dụng nước, các dự án chuyển nước giữa các sông do các Bộ, ngành, địa phương xây dựng trước khi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật;

i. Hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện việc cấp, thu hồi giấy phép về tài nguyên nước theo quy định của pháp luật;

k. Tổ chức thực hiện các biện pháp về bảo vệ, phòng, chống ô nhiễm nguồn nước, khôi phục nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;

2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:

Theo Nghị định số 01/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Bộ Nông nghiệp và PTNT có chức năng thường trực quốc gia về công tác phòng, chống lụt, bão;

a) Chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về thuỷ lợi, đê điều; phòng, chống tác hại do nước, xâm nhập mặn gây ra sau khi được cấp có thẩm quyền ban hành;

b) Chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chiến lược, quy hoạch thuỷ lợi; chiến lược phòng chống và giảm nhẹ thiên tai sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;

c) Chủ trì xây dựng quy hoạch thuỷ lợi các vùng, các hồ chứa nước phục vụ nông nghiệp, phục vụ đa mục tiêu gắn với các ngành kinh tế – xã hội;

đ) Công khai và tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá, tổng hợp báo cáo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển thuỷ lợi được phê duyệt trong phạm vi cả nước;

e) Đề xuất với Thủ tướng Chính phủ và tổ chức thực hiện biện pháp huy động lực lượng vật tư, phương tiện để phòng, chống, khắc phục hậu quả lũ, lụt, hạn hán, úng ngập, xử lý sự cố công trình thuỷ lợi và tác hại khác do nước gây ra; chỉ đạo việc phân lũ, chậm lũ, vận hành các hồ chứa nước thuỷ lợi lớn, liên hồ theo phân công, phân cấp;

g) Hướng dẫn việc phân cấp cho Ủy ban nhân cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch thuỷ lợi, quy hoạch đê điều và quy hoạch phòng, chống lũ, lụt trong phạm vi tỉnh;

h) Ban hành, theo dõi, kiểm tra thực hiện quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, quy trình, định mức kinh tế – kỹ thuật về xây dựng, khai thác và bảo vệ hệ thống công trình thủy lợi, đê điều, phòng chống lũ, lụt, bão, úng ngập, hạn hán và cấp, thoát nước nông thôn;

i) Quy định về tải trọng cho phép và việc cấp phép đối với xe cơ giới đi trên đê; hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc cấp, thu hồi, gia hạn giấy phép trong phạm vi bảo vệ công trình thuỷ lợi;

k) Tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra thực hiện các quy định cụ thể về tình huống khẩn cấp cần phân lũ, chậm lũ, các biện pháp di dân an toàn, đảm bảo sản xuất và đời sống của nhân dân, khắc phục hậu quả ngập lụt, trợ cấp cho nhân dân vùng bị ảnh hưởng phân lũ, chậm lũ; biện pháp phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai như: bão, lũ, lụt, hạn hán, lũ quét, trượt lở đất, xâm nhập mặn, nước biển dâng và sóng thần;

l) Quyết định đầu tư xây dựng, tu bổ, nâng cấp và kiên cố hoá đê điều, công trình thuỷ lợi theo thẩm quyền trong phạm vi cả nước từ nguồn vốn ngân sách nhà nước được cấp thông qua Bộ.

3. Các Bộ, ngành khác:

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước theo sự phân công của Chính phủ theo quy định tại các Khoản 3 Điều 58; Khoản 4 Điều 59; Khoản 2 Điều 60, Khoản 2 Điều 63 và Khoản 1 Điều 65 bao gồm các nội dung sau:

– Thẩm quyền quản lý nhà nước của các cơ quan Trung Ương;

– Phê duyệt quy hoạch, dự án về tài nguyên nước;

– Điều tra cơ bản, kiểm kê, đánh giá tài nguyên nước;

– Tham gia Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước;

– Chỉ đạo phòng, chống lụt bão và khắc phục hậu quả lũ lụt.

Chức năng nhiệm vụ của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ được quy định chi tiết tại Điều 14 Nghị định số 179/1999/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 1999 quy định việc thi hành Luật Tài nguyên nước. Trong đó tại các Khoản 4,5,6 các Bộ có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường để xây dựng, tổ chức các quy hoạch do Bộ, ngành phụ trách (tại Nghị định số 179/1999/NĐ-CP khi Bộ Tài nguyên và Môi trường chưa được thành lập, Bộ thực hiện chức năng quản lý tài nguyên nước là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Sau khi thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trương, chức năng quản lý đã được thay thế tại Nghị định số 25/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường).

4. Cục Quản lý tài nguyên nước:

Quyết định số 1035/2008/QĐ-BTNMT ngày 19 tháng 5 năm 2008 quy định về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Cục Quản lý tài nguyên nước như sau:

b. Trình Bộ trưởng chiến lược, quy hoạch phát triển, kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm trong lĩnh vực tài nguyên nước; hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức việc thực hiện sau khi được phê duyệt.

d. Chủ trì xây dựng tiêu chuẩn cơ sở, tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, định mức kinh tế – kỹ thuật, đơn giá sản phẩm đối với lĩnh vực tài nguyên nước; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện sau khi được ban hành, công bố.

đ. Trình Bộ trưởng quyết định việc phân loại, danh bạ nguồn nước; tổ chức thống kê, kiểm kê, lưu trữ tư liệu, số liệu về tài nguyên nước; cung cấp thông tin dữ liệu về tài nguyên nước theo quy định của pháp luật; định kỳ báo cáo Bộ trưởng các chỉ tiêu thống kê tài nguyên nước thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành tài nguyên và môi trường.

h. Trình Bộ trưởng quy định về giám sát việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước; xác định, công bố ngưỡng giới hạn khai thác nước đối với các sông và các tầng chứa nước, khu vực dự trữ, khu vực hạn chế khai thác nước dưới đất; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện sau khi được ban hành; tổ chức thực hiện giám sát việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước.

i. Trình Bộ trưởng kế hoạch điều hoà, phân bổ tài nguyên nước giữa các ngành, các địa phương theo vùng lãnh thổ và trong phạm vi cả nước; tổ chức việc thực hiện sau khi được phê duyệt.

k. Trình Bộ trưởng hoặc thực hiện theo ủy quyền của Bộ trưởng việc cấp, thu hồi giấy phép trong lĩnh vực tài nguyên nước; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện cấp phép trong lĩnh vực tài nguyên nước đối với các địa phương.

l. Trình Bộ trưởng các chương trình, đề án, dự án đối với lĩnh vực tài nguyên nước; đánh giá, nghiệm thu, tổng hợp kết quả thực hiện; lưu trữ hồ sơ kết quả thực hiện.

n. Thẩm định các quy hoạch chuyên ngành về khai thác, sử dụng nước, các dự án chuyển nước giữa các lưu vực sông do các Bộ, ngành, địa phương xây dựng.

q. Phối hợp với Thanh tra Bộ thực hiện thanh tra chuyên ngành về tài nguyên nước.

s. Tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn các tổ chức và công dân thực hiện pháp luật về tài nguyên nước; tham gia bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về lĩnh vực tài nguyên nước cho cán bộ, công chức, viên chức theo phân công của Bộ trưởng.

t. Thực hiện nhiệm vụ của Văn phòng Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước.

u. Quản lý tài chính, tài sản thuộc Cục; thực hiện trách nhiệm của đơn vị dự toán cấp II đối với các đơn vị trực thuộc Cục theo quy định của pháp luật.

v. Tổ chức thực hiện cải cách hành chính theo chương trình, kế hoạch cải cách hành chính của Bộ và phân công của Bộ trưởng.

w. Quản lý tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức thuộc Cục theo phân cấp của Bộ và theo quy định của pháp luật.

x. Thống kê, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao.

y. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng giao.

3.3.2.2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý về tài nguyên nước ở Địa phương

1. Ủy ban nhân dân các tỉnh, TP trực thuộc Trung ương:

Theo Khoản 4 Điều 58: Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về tài nguyên nước trong phạm vi địa phương theo quy định của Luật Tài nguyên nước, các quy định khác của pháp luật và sự phân cấp của Chính phủ.

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND các tỉnh, TP về quản lý tài nguyên nước được quy định trong Luật Tài nguyên nước bao gồm:

a. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra; giám sát, kiểm tra việc thi hành pháp luật về tài nguyên nước tại địa phương (Điều 4).

b. Có kế hoạch và tổ chức thực hiện việc xử lý nước thải ở đô thị, khu dân cư tập trung trong phạm vi địa phương, bảo đảm tiêu chuẩn cho phép trước khi xả vào nguồn nước (Điều 17).

c. Có trách nhiệm xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch, dự án cấp nước sinh hoạt, nước sạch; thực hiện biện pháp khẩn cấp để bảo đảm nước sinh hoạt trong trường hợp có thiên tai hoặc sự cố gây ra thiếu nước (Điều 25).

d. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống, khắc phục hậu quả lũ, lụt và tác hại khác do nước gây ra (Điều 36).

đ. Căn cứ vào tiêu chuẩn phòng, chống lũ, lụt cho từng vùng của lưu vực sông và quy hoạch phòng, chống lũ, lụt của lưu vực sông để xây dựng phương án phòng, chống lũ, lụt của địa phương. Căn cứ vào phương án phòng, chống lũ, lụt, xây dựng kế hoạch chuẩn bị lực lượng, vật tư, phương tiện và các điều kiện cần thiết khác để xử lý khi lũ, lụt xảy ra (Điều 37).

e. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định biện pháp phân lũ, chậm lũ trong địa phương theo phương án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Điều 40).

f. Trong tình huống khẩn cấp, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, TP có quyền huy động lực lượng, vật tư, phương tiện của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào để cứu hộ người, cứu hộ công trình và tài sản bị lũ, lụt uy hiếp hoặc gây hư hại và chịu trách nhiệm về các quyết định của mình; Có trách nhiệm tổ chức thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả lũ, lụt (Điều 41).

g. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có vùng thường bị ngập úng phải xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch tiêu úng phù hợp với quy hoạch lưu vực sông, yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường (Điều 42).

h. Có trách nhiệm lập phương án và tổ chức, chỉ đạo có hiệu quả việc phòng, chống và khắc phục hậu quả hạn hán (Điều 43).

i. Có trách nhiệm bảo vệ công trình thủy lợi thuộc phạm vi địa phương (Điều 48).

k. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có nhiệm vụ tổ chức thực hiện việc tu bổ đê, hộ đê, cứu hộ đê để bảo đảm an toàn đê (Điều 51).

l. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, căn cứ vào quy hoạch về tài nguyên nước phê duyệt các dự án công trình về tài nguyên nước theo sự uỷ quyền và phân cấp của Chính phủ (Điều 59).

Theo Nghị định số 179/1999/NĐ-CP ngày 30/12/1999 Quy định việc thi hành Luật Tài nguyên nước, UBND cấp tỉnh, TP có nhiệm vụ thực hiện các quy định về bảo vệ tài nguyên nước tại Điều 3, Điều 4, Điều 5; các quy định về khai thác, sử dụng tài nguyên nước tại Điều 9, Điều 10 và thực hiện các quy định về quản lý tài nguyên nước tại Điều 15, Điều 17 của Nghị định này.

2. Sở Tài nguyên và Môi trường là cơ quan tham mưu giúp Ủy ban nhân dân các tỉnh, TP thực hiện chức năng quản lý tài nguyên nước tại địa phương, theo quy định tại Thông tư 03/2008/TTLT-BTNMT-BNV, bao gồm:

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bài Giảng Địa 8 Bài 26 : Đặc Điểm Tài Nguyên Khoáng Sản Việt Nam / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!