Đề Xuất 11/2022 # 10 Nhiệm Vụ Trọng Tâm Của Ngành Văn Hóa Năm 2022 / 2023 # Top 13 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 11/2022 # 10 Nhiệm Vụ Trọng Tâm Của Ngành Văn Hóa Năm 2022 / 2023 # Top 13 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về 10 Nhiệm Vụ Trọng Tâm Của Ngành Văn Hóa Năm 2022 / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

.

(ĐN) – Phát biểu tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngành Văn hóa – thể thao và du lịch vào sáng 16-1, Phó chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hòa Hiệp đã yêu cầu trong năm 2020, ngành tập trung thực hiện 10 nhiệm vụ trọng tâm.

Giám đốc Sở Văn hóa – thể thao và du lịch Lê Kim Bằng trao cờ thi đua xuất sắc của Bộ Văn hóa – thể thao và du lịch cho Phòng Văn hóa – thông tin TP.Biên Hòa

Trong đó, cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng Nghị quyết  33-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; tăng cường và nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực. Chú ý phát huy tối đa sức mạnh, lợi thế, tiềm năng đảm bảo sự gắn kết chặt chẽ hoạt động giữa các lĩnh vực. Đẩy mạnh triển khai cải cách hành chính trên tất cả các lĩnh vực.

Bên cạnh đó, ngành cần thường xuyên kiểm tra các tụ điểm dịch vụ văn hóa, các cơ sở kinh doanh dịch vụ thể thao và du lịch; đẩy mạnh xã hội hóa lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch với mục tiêu “Huy động toàn xã hội tham gia tức là chúng ta lấp đầy những khoảng trông văn hóa – tinh thần theo nhu cầu của xã hội”. Chú trọng bảo tồn, tôn tạo, ưu liệu hóa và phát huy các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể; đa dạng hóa các hoạt động Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa…

Ký kết giao ước thi đua giữa các đơn vị trong ngành Văn hóa – thể thao và du lịch

Năm 2019, ngành Văn hóa – thể thao và du lịch đã triển khai thực hiện tốt các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch, gia đình; làm tốt công tác tuyên truyền các sự kiện chính trị của đất nước và của tỉnh. Toàn tỉnh qua bình xét đã có trên 95% ấp, khu phố và trên 98,89% hộ gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa; hơn 4,4 triệu lượt khách du lịch đến với tỉnh (tăng 12% so với năm 2018).

Tại Hội nghị, ngành Văn hóa – thể thao và du lịch đã phát động phong trào thi đua đồng thời ký kết giao ước thi đua giữa các đơn vị. Dịp này, Bộ Văn hóa – thể thao và du lịch đã tặng cờ thi đua xuất sắc cho Phòng Văn hóa – thông tin TP.Biên Hòa, tặng bằng khen cho 20 tập thể và 15 cá nhân có thành tích xuất sắc trong năm 2019. Sở Văn hóa – thể thao và du lịch tặng giấy khen cho 12 tập thể và 50 cá nhân.

My Ny

Nhiệm Vụ Trọng Tâm Phát Triển Khoa Học Công Nghệ Tỉnh Cao Bằng Năm 2022 / 2023

Năm 2019, mặc dù tình hình kinh tế – xã hội của địa phương còn nhiều khó khăn, nhưng được sự quan tâm và chỉ đạo kịp thời của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, Bộ KH&CN; sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, các tổ chức, doanh nghiệp, cùng với tinh thần chủ động, quyết tâm, trách nhiệm và tích cực của tập thể công chức, viên chức và người lao động, hoạt động KH&CN năm 2019 đã hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu theo kế hoạch, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lần thứ XVIII, các chương trình trọng tâm và Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Cao Bằng đã đề ra.

Trong công tác tham mưu: Sở KH&CN đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành 03 văn bản quy phạm pháp luật, gồm: Quyết định số 01/2019/QĐ-UBND ngày 30/01/2019 của UBND tỉnh quy định một số mức chi cho hoạt động tổ chức Hội thi sáng tạo kỹ thuật và Cuộc thi sáng tạo thanh thiếu niên nhi đồng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng; Nghị quyết số 12/2019/NQ-HĐND ngày 12/7/2019 về việc sửa đổi, bổ sung Điều 1 Nghị quyết số 30/2014/NQ-HĐND ngày 11/12/2014 của HĐND tỉnh Cao Bằng về cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và xác lập quyền sở hữu công nghiệp cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Cao Bằng; Quyết định số 34/2019/QĐ-UBND ngày 16/8/2019 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở KH&CN tỉnh Cao Bằng.

Công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN: Thực hiện quản lý, theo dõi tình hình triển khai Dự án KH&CN cấp quốc gia “Hoàn thiện công nghệ sản xuất sắt xốp và nghiên cứu sử dụng sắt xốp để luyện một số thép hợp kim phục vụ kinh tế và quốc phòng” do Công ty Cổ phần Khoáng sản và luyện kim Việt Nam (Mirex) chủ trì thực hiện. Trong năm, đã tổ chức Hội đồng đánh giá, nghiệm thu cấp nhà nước đối với 08 đề tài (đề tài số 02, 03, 04, 05, 06, 07, 09, 10) và 01 dự án sản xuất thử nghiệm thuộc Dự án. Phối hợp với các cơ quan chuyên môn thuộc Bộ KH&CN theo dõi, quản lý và tổ chức kiểm tra 03 lượt đối với 02 dự án thuộc Chương trình nông thôn miền núi đang triển khai trên địa bàn tỉnh. Quản lý 28 dự án, đề tài KH&CN cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước chuyển tiếp và 06 nhiệm vụ mới thực hiện năm 2019 đã được ký hợp đồng. Trong đó, đã tổ chức nghiệm thu 14 đề tài, dự án; tổ chức kiểm tra 19 lượt đề tài, dự án; cấp 09 Giấy chứng nhận đăng ký kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN;

Công tác quản lý công nghệ, sở hữu tri tuệ: Xem xét, thẩm định công nghệ đối với 02 dự án đầu tư; tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện Đề án nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tỉnh Cao Bằng, giai đoạn 2017-2020; Tham mưu cho UBND tỉnh ban hành và triển khai thực hiện Kế hoạch thực hiện Đề án “Thúc đẩy chuyển giao, làm chủ và phát triển công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên giai đoạn đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” trên địa bàn tỉnh Cao Bằng và Kế hoạch thực hiện Nghị định số 13/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019 của Chính phủ về doanh nghiệp KH&CN trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.

Tiếp tục quản lý, theo dõi và phối hợp triển khai 04 dự án về sở hữu trí tuệ. Trong năm 2019, nhãn hiệu tập thể “Nếp Hương Bảo Lạc” đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp cho Hội Nếp Hương Bảo Lạc quản lý, sử dụng theo Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu cấp tại Quyết định số 96279/QĐ-SHTT ngày 31/10/2019.

Tham mưu cho UBND tỉnh thành lập Ban chỉ huy ứng phó sự cố bức xạ hạt nhân trên địa bàn tỉnh Cao Bằng. Đồng thời, ban hành Kế hoạch phòng ngừa và chuẩn bị ứng phó nguy cơ, sự cố hóa học, sinh học, bức xạ và hạt nhân giai đoạn 2019-2025; thực hiện tốt công tác theo dõi, đôn đốc các cơ sở bức xạ hoạt động theo đúng quy định, trong năm 2019 đã tiến hành xem xét giải quyết 15 hồ sơ trong lĩnh vực an toàn bức xạ, hạt nhân.

Công tác thanh tra KH&CN: Hoạt động kiểm tra, thanh tra tiếp tục được thực hiện tốt, góp phần tạo môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Trong năm đã thực hiện 08 cuộc thanh tra đối với 29 cơ sở hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn đo lường chất lượng, sở hữu công nghiệp, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tiến hành công việc bức xạ. Qua thanh tra đã phát hiện và tiến hành xử phạt vi phạm hành chính đối với 03 đơn vị với số tiền xử phạt là 61.000.000 đồng.

Hoạt động tiêu chuẩn – đo lường – chất lượng: Xem xét, thẩm định và quyết định hỗ trợ hoạt động nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm cho 02 doanh nghiệp theo cơ chế, chính sách hỗ trợ của tỉnh theo Nghị quyết số 30/2014/NQ-HĐND ngày 11/12/2014 của HĐND tỉnh và Nghị quyết số 12/2019/QĐ-UBND ngày 12/7/2019 của HĐND tỉnh. Tổ chức kiểm tra, giám sát việc áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng (HTQLCL) theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 tại 25 cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh; Tích cực triển khai thực hiện việc chuyển đổi phiên bản ISO 9001:2008 sang phiên bản ISO 9001:2015.

Hoạt động ứng dụng, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ: Tập trung thực hiện các nhiệm vụ KH&CN được nhà nước giao, đặt hàng, gắn với việc tăng cường công tác tập huấn, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ cho bà con nông dân tại các xã, huyện trên địa bàn tỉnh; Tham gia các chương trình kết nối cung cầu, tư vấn chuyển giao công nghệ, giới thiệu sản phẩm KH&CN trong và ngoài tỉnh; Theo dõi, chăm sóc các giống cây trồng và tiến hành nuôi cấy mô tế bào đối với các loài lan kim tuyến, chuối, mía; Duy trì sản xuất các giống nấm hương, nấm sò, trà giảo cổ lam, bột nghệ để tiêu thụ trên thị trường; tổ chức 04 lớp tập huấn về kỹ thuật trồng nấm sò trên rơm cho bà con nông dân tại các huyện trên địa bàn tỉnh.

Hoạt động thông tin và thống kê KH&CN: Công tác thông tin và truyền thông KH&CN được thực hiện tốt với số lượng, chất lượng các tin, bài, phóng sự ngày càng được nâng cao góp phần đưa KH&CN đến gần với đời sống; xuất bản 2.000 cuốn lịch KH&CN năm 2020; 2.000 cuốn tài liệu thông tin KH&CN; 200 cuốn tài liệu cảnh báo trượt lở, lũ quét, lũ bùn đá trên địa bàn tỉnh Cao Bằng; thực hiện 12 chương trình KHCN và đời sống và 03 tin về hoạt động KH&CN phát trên sóng truyền hình của Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Cao Bằng; cập nhật và viết được 324 tin, bài lên trang thông tin điện tử của Sở tại địa chỉ khcncaobang.gov.vn.

Công tác cải cách hành hính: Triển khai hiệu quả Kế hoạch CCHC; công tác kiểm soát TTHC luôn đảm bảo chất lượng và kịp tiến độ yêu cầu; thường xuyên rà soát, đánh giá các TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở; triển khai thực hiện việc tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ, trả kết quả TTHC theo cơ chế một cửa, áp dụng hệ thống phần mềm một cửa điện tử hiện đại (iGate); tích cực tham mưu triển khai việc tiếp nhận và trả kết quả TTHC qua dịch vụ bưu chính công ích; khai thác và áp dụng hiệu quả phần mềm hệ thống quản lý văn bản và điều hành (iOffice). Tiếp nhận và giải quyết 23 hồ sơ đúng hạn.

Để thực hiện có hiệu quả kế hoạch công tác năm 2020, Sở KH&CN đề ra phương hướng, nhiệm vụ và các giải pháp triển khai công tác năm 2020, như sau:

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền và các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp về vai trò của KH&CN trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tham mưu, tổ chức triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ của Chương trình hành động của Chính phủ, Chỉ thị của Tỉnh uỷ Cao Bằng và Kế hoạch của UBND tỉnh về thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 của Hội nghị lần thứ sáu ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá XI về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế;

Tham mưu hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật về KH&CN để thúc đẩy hoạt động KH&CN. Quan tâm, triển khai thực hiện tốt công tác CCHC và kiểm soát TTHC; duy trì ứng dụng công nghệ thông tin, nhất là việc sử dụng thư điện tử công vụ và sử dụng chữ ký số cá nhân, chữ ký số cơ quan trong quá trình phát hành văn bản đi. Kịp thời đề xuất, tham mưu cho HĐND, UBND tỉnh sửa đổi, bổ sung hệ thống cơ chế, chính sách về KH&CN trên địa bàn tỉnh; tiếp tục rà soát, sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy của Sở KH&CN;

Tập trung xây dựng, quản lý và phát triển thương hiệu cho các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, đặc biệt là các sản phẩm chủ lực, đặc sản của tỉnh góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới; tăng cường theo dõi, kiểm tra và đôn đốc các cơ sở bức xạ hoạt động theo đúng quy định, đảm bảo an toàn; thẩm định hồ sơ và cấp giấy phép tiến hành công việc bức xạ, cấp chứng chỉ nhân viên bức xạ cho các cơ sở X-quang y tế;

Tổ chức thanh tra chuyên ngành về tiêu chuẩn đo lường chất lượng, an toàn bức xạ, hoạt động KH&CN, sở hữu trí tuệ và thanh tra chuyên đề theo sự chỉ đạo đột xuất của Bộ KH&CN, UBND tỉnh; Tăng cường công tác tham mưu việc triển khai chuyển đổi áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO phiên bản 9001:2015 thay thế phiên bản 9001:2008 vào hoạt động trong các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh;

Tập trung nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và ứng dụng khoa học vào sản xuất, đời sống; tiếp tục áp dụng công nghệ sinh học trong nhân giống cây trồng phục vụ sản xuất trên địa bàn tỉnh; đẩy mạnh hoạt động dịch vụ KH&CN;

Tăng cường chất lượng các tài liệu KH&CN và xuất bản Lịch KH&CN hàng năm; tiếp tục nâng cấp và nâng cao số lượng, chất lượng tin, bài về KH&CN lên trang thông tin điện tử của Sở KH&CN; đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền về hoạt động KH&CN trên Đài phát thanh và truyền hình tỉnh Cao Bằng./.

Tác giả bài viết: BBT

Thêm Các Giải Pháp Để Thực Hiện Nhiệm Vụ Trọng Tâm / 2023

Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng được công bố đã thu hút sự quan tâm của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Ngay sau khi các dự thảo văn kiện được công bố, nhiều ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh đã đề cập đến các giải pháp để thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ 2020-2025.

Giám đốc Sở Xây dựng Nguyễn Mạnh Tuấn: “Đồng sức, đồng lòng, nỗ lực thực hiện hiệu quả 6 nhiệm vụ trọng tâm, 3 đột phá chiến lược”

Qua nghiên cứu, tôi thấy dự thảo các văn kiện Đại hội XIII của Đảng được chuẩn bị công phu, bài bản, chu đáo, có sự gắn kết giữa lý luận và thực tiễn, kế thừa và phát triển, bố cục chặt chẽ, kết tinh được trí tuệ, tích hợp được ý Đảng, lòng dân. Nội dung có nhiều điểm mới, mang tính đột phá và có tầm nhìn chiến lược, cách tiếp cận phù hợp với thực tiễn phát triển chung của khu vực và thế giới. So với Đại hội XII, văn kiện Đại hội lần này vấn đề đặt ra rộng lớn hơn, khái quát hơn.

Nhiệm kỳ 2020-2025, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát huy mọi nguồn lực và động lực để phát triển đất nước nhanh, bền vững. Có thể thấy, 6 nhiệm vụ trọng tâm, 3 đột phá chiến lược có kết cấu khoa học, đã thể hiện toàn diện, đầy đủ những vấn đề lớn, những nội dung quan trọng về quan điểm, tư tưởng chủ đạo, những chủ trương, chính sách, biện pháp đổi mới có ý nghĩa chiến lược, có tính đột phá trong giai đoạn hiện nay. Theo đó, cần có sự đồng sức, đồng lòng, sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, mỗi tổ chức đảng và từng đảng viên. Mỗi tổ chức đảng, mỗi cấp ủy theo chức năng, nhiệm vụ cần tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, thực hiện hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương; thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ đảm bảo yêu cầu, tiêu chuẩn đề ra, đáp ứng nhiệm vụ được giao. Các địa phương cần chủ động khai thác hiệu quả lợi thế của địa phương, đơn vị; chủ động đề xuất những cơ chế, chính sách tạo sự phát triển đột phá; huy động nguồn lực đầu tư phát triển hạ tầng động lực, nhất là hạ tầng giao thông, công nghệ thông tin, hạ tầng khu công nghiệp… để thu hút đầu tư phát triển, đóng góp chung cho sự phát triển của tỉnh, của đất nước. Cùng với đó, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, huy động sức dân để thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Chánh Văn phòng Thành ủy Móng Cái Nguyễn Thị Ninh:“Tăng cường hơn nữa nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh”

Nhiệm vụ then chốt xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh cần phải được tăng cường hơn nữa trong nhiệm kỳ mới. Tư tưởng này đã được thể hiện nhất quán và xuyên suốt trong dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIII của Đảng.

Về nhiệm vụ trọng tâm đề ra cho nhiệm kỳ 2020-2025, tôi hoàn toàn tán thành. Trong đó, nhiệm vụ “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng” có ý nghĩa, vai trò rất lớn, quyết định việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ còn lại. Tôi xin đề xuất bổ sung một số giải pháp trong công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng. Đó là: Cần tiếp tục quy định rõ hơn Đảng phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình; về quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu, phát huy vai trò, trách nhiệm, tính chủ động của người đứng đầu khi thực hiện nhiệm vụ. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng việc xây dựng, ban hành nghị quyết của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước, sao cho thiết thực, ngắn gọn, khả thi; phải tính đến cân đối các nguồn lực và điều kiện để đảm bảo triển khai có hiệu quả. Coi trọng xây dựng văn hóa trong các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước trong hệ thống chính trị; đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc, xây dựng phong cách làm việc khoa học, tập thể dân chủ, gần dân, trọng dân, vì dân, bám sát thực tiễn, nói đi đôi với làm thông qua những hoạt động thiết thực, cụ thể. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với MTTQ và các tổ chức chính trị, xã hội; từng bước xây dựng hệ thống chính trị hoạt động năng động, có hiệu lực, hiệu quả.

Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện Vân Đồn, Tô Văn Hải: “Tiếp tục đẩy mạnh tái cấu trúc nền kinh tế”

Qua nghiên cứu dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIII của Đảng, tôi hoàn toàn nhất trí với kết quả đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng – an ninh trong 5 năm qua; nhiệm vụ trọng tâm nhiệm kỳ tới. Về nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế, tôi tham gia cần phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển đất nước nhanh, bền vững; hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thời gian qua, một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp lớn của Nhà nước để xảy ra tiêu cực nghiêm trọng, gây thất thoát hàng nghìn tỷ đồng của Nhà nước, của nhân dân. Nguyên nhân do cơ chế quản lý chưa chặt chẽ. Do đó, tôi đề nghị tiếp tục đẩy mạnh tái cấu trúc nền kinh tế, trong đó có tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, song bước đi phải hết sức thận trọng có kiểm nghiệm, đánh giá khả thi, tránh làm dàn trải.

Trưởng Ban Tuyên giáo Huyện ủy Bình Liêu Dương Ngọc Khoa: “Tiếp tục quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới”

Qua nghiên cứu nội dung của Dự thảo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, tôi thấy việc xây dựng các văn kiện được chuẩn bị kỹ lưỡng, chu đáo, khoa học có tầm đánh giá, bao quát rộng.

Đặc biệt, văn kiện lần này được mở rộng, không chỉ đánh giá nhiệm kỳ 5 năm của khóa XII mà còn đánh giá 10 năm thực hiện Cương lĩnh bổ sung 2011, 30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, gắn với 35 năm đổi mới. Cũng với tinh thần ấy, văn kiện đưa ra những định hướng, đầu tiên là cho năm năm tới của nhiệm kỳ 2020-2025, gắn với tầm nhìn đến năm 2030.

Cá nhân tôi đánh giá rất cao và hoàn toàn đồng tình với Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng. Cùng với đó, tôi cũng mong muốn trong Nghị quyết nhiệm kỳ tới tiếp tục có những chính sách mới  quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất đối với vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, gắn với triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia đang thực hiện. Đồng thời tiếp tục quan tâm công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, thu hẹp dần khoảng cách với khu vực thuận lợi. Tôi cũng đề nghị Trung ương chỉ đạo tiếp tục thực hiện chính sách di dân ra biên giới; quan tâm nghiên cứu đầu tư hệ thống điện, đường, trạm y tế, điểm trường, nước sinh hoạt, nước sản xuất… để nhân dân ổn định cuộc sống, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia; quan tâm cơ chế để bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc trên địa bàn; hỗ trợ các nghệ nhân dân gian, các câu lạc bộ văn hóa – văn nghệ truyền thống trong việc truyền nghề và phát triển.

Phó Bí thư Đảng ủy xã Đông Xá (huyện Vân Đồn) Lê Thị Na: “Kích thích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa”

Tôi hoàn toàn đồng ý về nhận định đánh giá tổng quát được trình bày tại dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIII của Đảng. 5 năm qua, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, song toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, đưa đất nước đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Báo cáo cũng chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm, nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm ngắn gọn, đúng mực, thể hiện thái độ tích cực của Đảng trong đổi mới là nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật.

Tôi cũng đồng tình với các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế – xã hội 5 năm tới. Tuy nhiên, cần phải có những giải pháp hết sức cụ thể, đặc biệt là phải có động lực để thúc đẩy mạnh mẽ phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bởi hiện nay, nền kinh tế của chúng ta phụ thuộc rất nhiều vào các doanh nghiệp này, tuy nhiên số doanh nghiệp này chưa được tạo điều kiện thuận lợi tối đa về hỗ trợ vốn, tham gia các dự án, gói thầu lớn tại địa phương, dẫn đến thiếu, không tạo ra được công ăn việc làm cho người lao động. Chính từ cái vòng luẩn quẩn này, khiến cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ không thể cải thiện được kinh nghiệm, quản trị doanh nghiệp để từng bước phát triển mạnh mẽ thành những doanh nghiệp lớn.

Bà Nguyễn Thị Thúy, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND phường Yên Giang (TX Quảng Yên): “Lấy ý kiến nhân dân góp phần nâng cao chất lượng Dự thảo các văn kiện, bồi đắp niềm tin của nhân dân với Đảng”

Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã được Bộ Chính trị, BCH Trung ương và Ban văn kiện chuẩn bị rất kỹ lưỡng, nhất là các nội dung văn kiện trình trong Đại hội. Đặc biệt, việc tổ chức lấy ý kiến từ các đảng bộ, chi bộ, đảng viên và cả nhân dân sẽ góp phần nâng cao chất lượng Dự thảo các văn kiện. Quan trọng nhất là sẽ củng cố, bồi đắp niềm tin của nhân dân với Đảng, phát huy được trí tuệ, quyền làm chủ của nhân dân tham gia, đóng góp với Đảng trong việc hoạch định đường lối, chủ trương, quyết sách quan trọng của đất nước.

Qua nghiên cứu Dự thảo các văn kiện, với trách nhiệm của những người thực tiễn tại cơ sở, tôi mong muốn Bộ Chính trị, BCH Trung ương trong nhiệm kỳ mới sẽ đưa ra được nhiều quyết sách quan trọng trong phát triển KT-XH của đất nước. Chúng tôi cũng đề nghị các cấp, ngành cần đánh giá được những thuận lợi, thời cơ, thách thức của đất nước khi đối mặt với dịch bệnh, thiên tai. Từ đó có những bước đi thận trọng và kỹ lưỡng trong hoạch định chiến lược. Cùng với đó, rất mong Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp, ngành cần quan tâm đến lựa chọn nhân sự đủ đức, đủ tài, có năng lực, có trình độ; nâng cao chất lượng công tác phát triển đảng, xây dựng đảng, lãnh đạo của đảng ở các cấp, nhất là từ khu dân cư trở lên, để phát huy được sức mạnh tổng hợp của Đảng và cho thấy sự lãnh đạo toàn diện của Đảng trong mọi lĩnh vực.

Ông Vũ Hữu Chương, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Công ty Điện lực Quảng Ninh: “Đánh giá cụ thể hơn nữa về kết quả thực hiện phòng chống tham nhũng”

Thời gian qua, Đảng bộ Công ty Điện lực Quảng Ninh đã chỉ đạo các chi bộ, đảng bộ bộ phận tổ chức nhiều hội nghị để nghiên cứu Dự thảo văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy đây là một công trình trí tuệ tập thể, đã được BCH Trung ương, Ban văn kiện và các nhà khoa học xây dựng công phu, sát với thực tế, tinh thần tự phê bình, phê bình rất cao và nghiêm túc. Bố cục văn kiện được sắp xếp một cách khoa học, dễ hiểu, các vấn đề nêu trong văn kiện đã thể hiện rõ ràng, cụ thể từng nội dung, sát với tình hình thực tế của đất nước trong những năm qua. Hầu hết các ý kiến đồng ý với đánh giá tổng quát kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII và diện mạo đất nước qua 35 năm đổi mới.

Bên cạnh đó, chúng tôi đề nghị văn kiện Đại hội XIII của Đảng cần đánh giá cụ thể hơn nữa về kết quả thực hiện phòng chống tham nhũng; kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương  4 khóa XII; vấn đề chạy chức, chạy quyền. Đối với tầm nhìn và định hướng phát triển của đất nước trong giai đoạn tới, chúng tôi cũng đề nghị bổ sung nội dung “Bảo vệ môi trường tự nhiên cùng với phát triển KT-XH” là trung tâm trong 5 quan điểm chỉ đạo.

Ông Lữ Thanh Đạo, Bí thư chi bộ, Trưởng thôn Chè Phạ, xã Đồng Tâm, huyện Bình Liêu: “Có thêm các chính sách cho đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên thoát nghèo”

Tôi nhất trí cao với Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIII của Đảng. Dự thảo Báo cáo đã chỉ rõ kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm (2016-2020), nhấn mạnh đến chính sách dân tộc được hoàn thiện, đầy đủ hơn, bao phủ toàn diện các lĩnh vực, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn được cải thiện. Đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế – xã hội 5 năm (2021-2025), trong đó chỉ rõ phải tiếp tục triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc trên tất cả các lĩnh vực, nhất là những chính sách đặc thù giải quyết những khó khăn của đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sinh kế, việc làm, định canh, định cư vững chắc cho đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.

Hiện nay, các chính sách cho đồng bào dân tộc thiểu số đã và đang được Đảng, Nhà nước quan tâm, thực hiện đầy đủ, đặc biệt là chính sách để giúp người dân có sinh kế, nhằm từng bước vượt qua khó khăn, thoát nghèo bền vững. Tuy nhiên, tôi thấy cần có thêm chính sách để thu hút, khuyến khích đồng bào dân tộc thiểu số chủ động tham gia các mô hình phát triển kinh tế và các chính sách hỗ trợ này phải thiết thực hơn, không chung chung và đến được đúng với người cần hỗ trợ. Ngoài ra, tôi thấy cần có thêm một chính sách quan trọng để giảm nghèo bền vững cho bà con vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đó là phải kết nối được thị trường để bà con tạo ra sản phẩm và tiêu thụ được.

Thu Chung– Mạnh Trường – Hoàng Nga (Thực hiện)

Chương Trình Trọng Tâm Và Chú Ý Khi Học Văn Lớp 10 / 2023

Lớp 10 là một lớp học nền tảng vô cùng quan trọng trong cấp học trung học phổ thông. Để bước vào lớp 10, các em học sinh đã phải trải qua một kì thi vượt cấp vô cùng căng thẳng, có tính cạnh tranh cao, đặc biệt là các trường chuyên. Một điểm khác biệt nữa là các em phải xác định phân khối, lựa chọn khối học chính của mình trong năm học này. Đa phần, các em đều hướng đến khối A, B, chuyên về các môn tự nhiên. Vậy thì với những em học sinh lựa chọn khối C,D thì việc học môn văn của các em như thế nào?

Văn lớp 10 tuy không có nhiều kiến thức nằm trong chương trình thi tốt nghiệp, thi đại học. Tuy nhiên, nếu không có kiến thức nhất định về môn học này, các em sẽ không thể có nền tảng, bước đệm để tiếp thu những kiến thức khó hơn ở môn văn lớp 11, 12. Nói vậy để các em học sinh hiểu được tầm quan trọng của môn văn cơ sở lớp 10. Nó không phải là quan trọng nhất nhưng không thể thiếu. Một cái cây muốn phát triển tốt thì trước hết bạn phải chăm sóc cho cái rễ của nó.

Nội dung trọng tâm của môn văn lớp 10 là gì?

Các tác phẩm của chương trình lớp 10 chủ yếu xoay quanh văn học sử thi (Sử thi Đăm Săn, sử thi đẻ đất đẻ nước,…), thơ, ca dao hài hước châm biếm, truyện Kiều, văn nghị luận,….

Vậy đâu là kiến thức trọng tâm, đâu là kiến thức cần lưu ý, đâu là kiến thức nền tảng?

1. Các tác phẩm văn học sử thi, tóm tắt văn bản tự sự

Đây là những kiến thức nằm trong dạng câu hỏi 2-3 điểm trong đề thi của các em. Với những tác phẩm này, các em không cần ghi nhớ quá chi tiết mà chi cần tóm lược nội dung chính của tác phẩm, tên các nhân vật. Vì đây là dạng câu hỏi ngắn, không yêu cầu các em phải phân tích chi tiết.Một số dạng bài tóm tắt văn bản tự sự cũng được lấy ra từ các tác phẩm này. Vì vậy, yêu cầu các em cần phải nắm được nội dung diễn biến của tác phẩm. Từ đó, chọn được các sự việc, chi tiết tiêu biểu cho bài văn tự sự.

2. Phân tích thơ, các biện pháp tu từ

Đây là dạng bài tập chiếm số điểm lớn trong cấu trúc đề thi văn lớp 10, thường chiếm 6-7 điểm. Do đó, dạng đề này yêu cầu lượng kiến thức cao hơn rất nhiều. Yêu cầu các em học sinh không chỉ dừng lại ở việc nắm bắt nội dung chính mà còn phải hiểu nội dung một cách chi tiết. Vì phân tích thơ khác xa so với phân tích một tác phẩm văn học. Thậm chí, một số bài thơ chỉ dài từ 2-3 khổ thơ, tương ứng 10 dòng. Nếu các em không hiểu được ý nghĩa, dụng ý nghệ thuật của tác giả để phân tích những từ ngữ “đắt” mà tác giả sử dụng thì bài văn của các em sẽ rất sáo rỗng, không có trọng lượng.

Để làm tốt một bài văn phân tích thơ, cảm nghĩ về một đoạn, một bài thơ, học sinh cần phân tích các biện pháp tu từ mà tác giả đã sử dụng để trả lời các câu hỏi: Tác giả sử dụng biện pháp tu từ gì? Sử dụng ra sao? Hiệu quả như thế nào?.Đây là vấn đề nhầm lẫn học sinh hay mắc phải trong quá trình làm bài. Muốn tránh được sai sót, các em phải trang bị kiến thức nền vững chắc về các biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ (định nghĩa, cách sử dụng…). Các biện pháp này được sử dụng khi nào và mang lại hiệu quả như thế nào cho việc diễn đạt câu thơ của tác giả,…

Đây là một dạng đề phong phú trong chương trình ngữ văn 10. Đề bài có thể yêu cầu thuyết minh về một danh lam thắng cảnh, về cuộc đời một nhà văn, nhà thơ, về một tác phẩm văn học,…

Để làm tốt dạng bài này, học sinh cần phải nắm được kết cấu, phương pháp, quy trình làm một bài văn. Rất nhiều học sinh không hiểu thế nào là văn thuyết minh, nhẫm lẫn sang các thể loại văn tự sự, văn miêu tả dẫn đến tình trạng lạc đề. Muốn khắc phục điều này, học sinh cần nắm vững định nghĩa, quy trình, dàn ý của một bài văn thuyết minh, xác định đâu là trọng điểm, đâu là trọng tâm của bài viết để bài làm trở nên thuyết phục, xác thực hơn.

Văn nghị luận là dạng bài phổ biến trong đề thi văn không chỉ ở chương trình lớp 10 mà còn có thể xuất hiện trong kì thi tốt nghiệp, hầu hết là các bài văn nghị luận về các vấn đề xã hội. Dạng bài này tương đối khó vì nó đòi hỏi người viết khả năng tư duy, lập luận, am hiểu các vấn đề xã hội, cùng cái nhìn tổng quan, bao quát nhất vấn đề cần nghị luận. Đa số học sinh gặp khó khăn trong bài văn nghị luận bởi sự kém hiểu biết của mình. Để khắc phục tình trạng này, các em cần thường xuyên xem thời sự, theo dõi các trang báo mạng uy tín để mở mang tầm hiểu biết và có những tư duy logic nhất về các vấn đề thực tiễn xã hội.

Chúng tôi hy vọng rằng bài viết trên của gia sư Văn Hà Nội có thể giúp các bạn gia sư có thêm được những bài học bổ ích, kế hoạch và phương pháp dạy học tốt nhất trong quá trình giảng dạy của mình.

Bạn đang đọc nội dung bài viết 10 Nhiệm Vụ Trọng Tâm Của Ngành Văn Hóa Năm 2022 / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!